Monday, 16 October 2017

"THÔI! ĐỪNG LỪA DỐI NHAU LÀM GÌ!"



Trong những ngày vừa qua, báo chí nước ngoài loan tin một quan chức Việt Nam trong chuyến công du tại Nhật đã ăn cắp hàng trong một siêu thị, hình ảnh được camera của siêu thị ghi nhận, viên chức này đã bị cảnh sát lưu giữ, Tòa Đại Sứ Việt Nam tại Nhật đã bảo lãnh cho viên chức này được tự do. Đây chỉ là một trong hàng trăm vụ việc xảy ra ở Nhật cũng như nhiều nơi trên thế giới, thậm chí có trường hợp tái phạm vẫn được Tòa Đại Sứ bảo lãnh với giấy chứng nhận bị tâm thần, nhưng trở về nước vẫn được thăng chức trong một cơ quan hoạt động về văn hóa nghệ thuật!

Chuyện ăn cắp của quan chức như cơm bữa nhưng chuyện dùng chữ nghĩa của báo chí thì càng mạ mị hơn nữa, người ta đã công khai trên mặt báo để thông tin về sự ăn cắp bằng hai chữ “sự cố” như sau: “Một viên chức Việt Nam gặp sự cố ở siêu thị ở Nhật!” Cũng vậy, người ta đã dùng chữ nghĩa để đánh lận con đen rất nhiều tội ác gây ra trên đất nước này, lấp liếm và đánh lừa dư luận, chắc không ngoa để nói rằng có thể soạn một cuốn tự điển không nhỏ về những loại từ ngữ tráo trở lừa lọc ấy.

Dĩ nhiên phục vụ cho chính trị thì tôn giáo không phải là vùng cấm, thậm chí thủ đoạn và tinh vi hơn sẽ ma mị, đánh lừa và lấp liếm được nhiều hơn. Ngày 1.6.2017 vừa qua, Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đã gởi đến Chủ Tich Quốc Hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam một văn bản có tên là Bản nhận định về Luật Tín Ngưỡng Tôn Giáo 2016. Trong Bản nhận định này, Hội Đồng Giám Mục Việt Nam có đề cập đến vấn đề chữ nghĩa ở Mục số 5 Bản nhận định:

“5. Chính quyền kêu gọi các tôn giáo đồng hành với dân tộc, chúng tôi hoàn toàn đồng ý, nhưng thiết tưởng nên phân biệt rõ dân tộc và chế độ. Lịch sử dân tộc Việt Nam nói riêng và lịch sử thế giới nói chung cho thấy rằng các chế độ chính trị thay đổi theo thời gian, còn dân tộc thì trường tồn. Do đó, phải đặt lợi ích của dân tộc lên trên hết. Chúng tôi nghĩ rằng, đồng hành với dân tộc là đồng hành với những con người cụ thể đã và đang làm nên dân tộc này, nhất là những người cùng khổ và bị quên lãng. Đồng hành với dân tộc là đồng hành với những giá trị làm nên di sản tinh thần và văn hoá của dân tộc Việt Nam: chống ngoại xâm, giữ gìn bờ cõi, chống cường quyền, tương thân tương ái, lá lành đùm lá rách…”

Từ năm 1980 đến nay, năm khai sinh ra cụm từ “Đồng hành với dân tộc” trong Thư Chung của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, hai khái niệm, hai thực thể: dân tộc và chế độ, bị lợi dụng, lừa lọc và đánh tráo một cách huyền hoặc. Có những kẻ đánh tráo để áp đặt suy nghĩ cũng như hành động, có những kẻ đánh tráo để dựng “biểu ngữ” che giấu sự hèn kém, có những kẻ đánh tráo để xu nịnh hòng tìm được những lợi ích riêng mình, có những kẻ đánh tráo để lập công với chế độ…

Không phải người dân không biết, nhất là giới trí thức, nhưng vì sợ hãi, cô đơn và nhất là sợ bị chính anh em mình “tế thần” mình nên sự im lặng trong quần chúng kéo dài rồi trượt theo năm tháng, hơn 40 năm trôi qua, tiếng nói chính thức của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam như một sự “cởi bỏ chiếc khăn tang trên đầu muôn nước” (Sách Ngôn Sứ Isaia), vứt đi chiếc vòng kim cô quái ác vô lý kẹp chặt đầu óc của muôn dân, đau đớn nhất là giới trí thức, bất lực và bải hoải.
Với cách ứng xử đánh tráo khái niệm để tìm đến một mục đích khác không chỉ khoanh vùng trong lãnh vực xã hội và chế độ, nhưng nó lan sang cả lãnh vực nội bộ tôn giáo. Trong một lần phải tranh luận với một vị cấp cao đến từ nước ngoài, khi vị ấy đột ngột nói chúng tôi là “các ông đi ngoài đường lối của Giáo Hội”, chúng tôi đã hỏi lại “xin ngài định nghĩa hai chữ Giáo Hội”, không suy nghĩ vị ấy trả lời: “Giáo Hội chính là các… Đức Giám Mục (Bishops)”. Không dằn được sự tức giận, chúng tôi đã nói thẳng và mạnh với vị ấy rằng: “Đừng đánh tráo như vậy!”

Chúng tôi ngạc nhiên về trình độ và quan điểm của một vị có bằng cấp và có chức vụ cao như thế trong Giáo Hội. Sau này chúng tôi được giải thích, vị ấy đã tạo ra một số nhận định và quan điểm kiểu như thế để đánh giá xem cuộc lên tiếng của anh em chúng tôi trước xã hội có thật sự là quan điểm và đường lối dấn thân của chúng tôi, hay chúng tôi bị mua chuộc hoặc bị xúi giục bởi một quyền lực nào khác ngoài Lời của Chúa (?)

Câu chuyện từ lễ Lá đến đồi Golgatha là một kinh nghiệm đau thương của loài người, cái lối đánh tráo khái niệm lừa lọc dẫn đến cái chết oan khiên mà chỉ có Thiên Chúa mới làm cho nó trở nên nguồn Ơn Cứu Độ. Dân tộc không thể đánh đồng là chế độ, phe nhóm không thể đánh đồng là tập thể, cá nhân không thế đánh đồng là cộng đoàn, một vài kẻ lãnh đạo không thể đánh đồng là quần chúng.

Lm. VĨNH SANG, DCCT, 12.10.2017
Tựa bài lấy từ bài hát “Lời cuối” của Từ Công Phụng


Friday, 13 October 2017

Lm Yuse Mai Văn Thịnh DCCT : Cùng với MẸ suy gẫm KINH MÂN CÔI và SỐNG điều Chúa muốn




Kinh Mân Côi là một tổng hợp của tất cả mọi diễn biến trong cuộc sống. Khi vui thì nguyện 5 sự vui; khi buồn thì có năm sự thương, trên hành trình sống đạo đã có 5 sự sáng và khi hân hoan mừng rỡ thì lại có 5 sự mừng.

Khi còn sinh thời, vào lúc tuổi già, sức khỏe yếu kém với căn bịnh hiểm nghèo khiến cho việc đi lại của mẹ bị hạn chế rất nhiều. Mọi sinh họat thu gọn lại trong chiếc ghế dựa tự động. Nhưng, có một điều không thể thiếu trong cuộc đời của mẹ, đó là việc lần chuỗi mân côi với những lời nguyện cầu thì thầm dâng lên Chúa. Những chuyện khác thì mẹ có thể quên; nhưng việc lần chuỗi mân côi thì ít khi quên lãng. Hình ảnh này luôn là một ấn tượng vô cùng sâu sắc trong cuộc sống của tôi.

Tôi chắc một điều là về mặt tri thức và hiểu biết về Thiên Chúa, Giáo Hội và những điều bí nhiệm khác thì các cụ có thể thua chúng ta khá nhiều. Nhưng, niềm tin và lòng mến của các cụ vượt xa chúng ta ngàn dặm. Cũng có người khó tính trong lý luận, vẫn bảo rằng: ‘lối sống đạo hình thức và dựa vào kinh kệ’ thì có ích gì? Nhận định về lối sống đạo của người khác là một trong những thói xấu mà ít ai trong chúng ta tránh thóat được.

Cha Bùi Sơn Lâm đã chia sẻ cho tôi cuộc đối thoại giữa bà cố và ngài như sau:
- Ngày nào mẹ cũng ngồi đọc kinh như thế không biết mệt và chán hay sao?
- Bà cố chậm rãi nhìn cha với cặp mắt thật hiền từ và âu yếm nói rằng “mỗi một lời kinh, một hạt trên sâu chuỗi này mẹ dùng để dâng lên Chúa (thay) cho từng người con, cháu và chắt của mẹ… thì làm sao tôi biết mệt.”

Tâm tình của bà cố cũng là tâm tình của những người mẹ chúng ta. Các ngài lần chuỗi để đồng hành với lối sống đạo, những thăng trầm, những nghịch cảnh, những đắng cay, chua xót, vui mừng và hạnh phúc của con cháu mình. Khi còn trẻ thì lo cho chồng và sống cho con; đến khi về già chỉ còn những lời kinh đó thôi. Lối sống như thế có phải là một lối sống đạo hình thức hay không?

Tôi không có hay chưa có những kinh nghiệm cụ thể về sức mạnh của tràng chuỗi mân côi; nên mới mượn kinh nghiệm và niềm xác tín của những người mẹ để bắt đầu bài chia sẻ này.

Nếu anh chị em muốn tìm hiểu về ý nghĩa của kinh Mân Côi, xin anh chị em cứ vào trang mạng ‘GOOGLE’ đánh 3 chữ “kinh mân côi”; anh chị em sẽ tìm được điều mà anh chị em muốn. Nhưng điều mà chúng ta tìm được sẽ đem lại gì cho cuộc sống! Một mớ kiến thức, một số vốn liếng thần-học để tranh luận và phê phán kiểu sống đạo của người khác, ư?

Ở đây, tôi không muốn bàn luận về ý nghĩa của Kinh Mân Côi. Điều quan trọng là lời kinh đó đã tác dụng và ảnh hưởng gì trên cuộc sống của tôi. Nó đã để lại trong tôi một dấu ấn, một phép lạ hay là sức mạnh gì giúp tôi thay đổi cuộc sống hay chưa?

Gần đây, chị Immaculle Ilibagira là người sống sót trong vụ thảm sát thật tàn nhẫn đã xẩy ra năm 1994 tại Rwanda. Theo ước tính của tổ chức nhân quyền thế giới thì trong vòng gần 100 ngày, hơn 500.000 người đã bị giết chết.

Điều gì đã cứu sống chị? Ngoài lòng tốt của vị linh mục thuộc dân tộc Hutu, người đã giấu chị và 7 phụ nữ Tutsi khác trong phòng tắm suốt 3 tháng; nhưng Kinh Mân Côi mới là sức mạnh duy nhất cứu thoát thể xác và linh hồn chị. Chị tâm sự như sau: “Tận dụng những khoảnh khắc quý giá, tôi và các bạn cùng lần chuỗi mỗi ngày. Không có hạnh phúc nào hơn là bàn luận về vẻ đẹp và sức mạnh mà tôi có thể đưa vào cuộc sống khi chúng ta lần hạt Mân Côi và hướng tâm trí cùng tâm hồn về trời cao.” (The Rosary: The Prayer That Saved My Life)

Dù sống tạm giam trong một không gian thật nhỏ bé của phòng tắm; nhưng chị đã tận dụng để biến nó thành một nơi để gặp gỡ Thiên Chúa qua sự trợ giúp của Đức Mẹ. Bằng lời Kinh mân côi, chị đã để cho xác hồn hiệp nhất và hướng về trời cao; nơi chị đón nhận nguồn sức mạnh cho cuộc sống suốt 91 ngày trong phòng tắm nhỏ bé, bề ngang 0m9 và chiều dài 1m2.

Thưa anh chị em,
Kinh Mân Côi là như thế. Là một sự tổng hợp của tất cả mọi diễn biến trong cuộc sống. Khi vui thì nguyện 5 sự vui; khi buồn thì có năm sự thương, trên hành trình sống đạo đã có 5 sự sáng và khi hân hoan mừng rỡ thì lại có 5 sự mừng. Ai trong chúng ta lại có thể tránh thoát được các điều như: hỉ nộ ái ố. Các điều này biểu lộ tâm trạng mà mỗi người đều phải trải qua trong cuộc sống. Trong hoàn cảnh nào ta cũng có thể dùng kinh mân côi để tâm sự với Chúa được.

Tóm lại, hiểu biết và đào sâu về Kinh Mân Côi là điều đáng khích lệ; nhưng chưa hẳn đó là điều quan trọng. Điều cần thiết là siêng năng suy gẫm Đời Chúa Cứu Thế qua kinh mân côi và sống điều mình chiêm ngắm. Kinh Mân Côi không phải là việc đạo đức biểu lộ lòng sùng kính của mình đối với Đức Mẹ; cho bằng là:

Đồng hành với Mẹ trong việc vâng phục ý định của Thiên Chúa thực hiện trong cuộc sống mình; "Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói." (Luca 1:38)

Cùng với Mẹ để đối diện với mọi thử thách nhất là khi có những ngộ nhận về chân tướng đích thật về Đức Giê-su; “Ông ta không phải là bác thợ, con bà Maria, và anh em của các ông Giacôbê, Gioxê, Giuđa và Simon sao? Chị em của ông không phải là bà con lối xóm với chúng ta sao?" Và họ vấp ngã vì Người. (Mc 6:3)

Hoặc khi phải kiên tâm chịu đựng về thái độ xem ra rất khó hiểu của Đức Giê-su về hạnh phúc và niềm hãnh diện khi được làm Mẹ của Đấng Cứu Thế; "Ai là mẹ tôi? Ai là anh em tôi?" Rồi Người rảo mắt nhìn những kẻ ngồi chung quanh và nói: "Ðây là mẹ tôi, đây là anh em tôi. Ai thi hành ý muốn của Thiên Chúa, người ấy là anh em chị em tôi, là mẹ tôi." (Mc 3: 33-35)

Như thế thì, trong Kinh Mân Côi, dù chúng ta chưa hiệp nhất trọn vẹn với Đức Nữ Trinh, nhưng chắc chắn một điều quí giá hơn nữa, đó là: chúng ta đồng hành với những bước thăng trầm của niềm tin và cuộc sống với người thiếu nữ tên là Miriam (Maria) ở làng Nazareth khi xưa; để cuối cùng chúng ta cũng có thể nói với sứ thần hai tiếng “xin vâng” và phó thác trọn vẹn cuộc sống của mình cho ý định của Thiên Chúa Cha, Đấng muốn cho mọi loài qui phục Ngài,
Amen.
Lm Yuse Mai Văn Thịnh DCCT

Thursday, 12 October 2017

Lm Joe Mai Văn Thịnh : TIỆC CƯỚI ĐÃ DỌN, BẠN VÀ TÔI ĐÃ SẴN SÀNG CHƯA?





Như hai dụ ngôn truớc, dụ ngôn hôm nay cũng nhắm đến hàng ngũ lãnh đạo dân Israel. Họ là những người đã nói ‘xin vâng’, nhưng lại sống trái ngược với điều họ tuyên xưng (dụ ngôn 2 người con). Và, thay vì chấp nhận công việc của những người làm công trong vuờn nho, họ lại dùng bạo lực với các hành vi tàn ác, thậm chí giết luôn con ông chủ, để chiếm đoạt quyền làm chủ; nhưng không vì thế mà họ có thể huỷ đi kế hoạch của Thiên Chúa. Công trình của Ngài vẫn tiếp tục tồn tại qua muôn thế hệ (dụ ngôn các tá điền).

Hôm nay, trong dụ ngôn ‘tiệc cuới’, ám chỉ đến bữa tiệc ‘cánh chung’, bữa tiệc trong Nuớc Thiên Chúa, chúng ta lại thấy dung mạo của một vị Thiên Chúa rất nhân từ, kiên tâm trong công việc. Bữa Tiệc do Ngài làm chủ. Ngài tự ý mở tiệc. Đây là tâm huyết và niềm vui của Ngài. Điều đặc biệt ở đây là Ngài không giữ ‘niềm vui’ cho riêng mình, nhưng Ngài đã tự ý chia sẻ niềm vui đó qua việc sai các sứ giả, hết nhóm này đến nhóm khác, mời tất cả mọi người, ở tất cả mọi nơi - từ các nẻo đuờng và trong các hang cùng ngõ hẻm - đến tham dự tiệc cuới.

Hành vi của ông vua này thật kỳ lạ. Thông thuờng, khi mở tiệc cuới, chúng ta ngồi xuống suy nghĩ tính toán số người đuợc mời sao cho cân xứng…. Nhưng ông đã không làm như thế. Ông đã không tính toán. Mối bận tâm duy nhất của ông là mời người ta đến chia vui. Niềm vui được san sẻ là hạnh phúc và lẽ sống của ông.

Trong khi đó, những kẻ đuợc mời lại làm ra vẻ ta đây. Họ tìm cách chối từ bằng thái độ coi thường, ngạo mạn và hỗn xuợc. Tuy nhiên, thái độ xem ra hung bạo của họ cũng không làm giảm ý định của ông vua, đó là chia sẻ niềm vui. Ngài quyết tâm mở tiệc. Qua điều này giúp chúng ta nhận ra ý định của Đức Giêsu là cuối cùng tất cả mọi người sẽ được chia sẻ bữa tiệc vĩnh cửu trong Nước Thiên Chúa.

Tuy nhiên, có một chi tiết mà chúng ta nên để ý đó là việc nhà vua nhận ra một người không mặc áo cuới. So với toàn thể các khách dự tiệc mà chỉ có một người không mặc y phục lễ cưới thì có là gì! Hơn nữa, những khách được mời đã đuợc các sứ giả vơ vét từ các ‘ngã tư đuờng’, thì ai có thời gian mà chuẩn bị y phục cho tuơm tất đây? Vì thế, việc khám phá ra, cho dù chỉ có một người không mặc y phục lễ cuới, nói lên sự hiện diện của người xấu và người tốt trong bất cứ một cộng đoàn nào. Nó cùng ám chỉ đến sự pha trộn giữa thiện và ác trong bản thân của mỗi người chúng ta.

Những phần tử xấu có thể gây trở ngại và tạo ảnh huởng không tốt cho việc xây dựng và các sinh hoạt của cộng đoàn. Nhưng qua dụ ngôn, Đức Giêsu yêu cầu chúng ta hãy để mọi sự như thế cho đến ngày chung thẩm, ngày cuối cùng. Chính Chúa, chứ không phải một đấng nào khác, sẽ làm công việc phân chia.

Và như anh chị em biết: tiêu chuẩn đuợc mời không dưạ trên lòng đạo đức, thánh thiện hay là phẩm chất tốt của chúng ta. Đây là sáng kiến phát sinh từ lòng quảng đại của Thiên Chúa. Đấng tha thiết mời gọi chúng ta đến để chia sẻ niềm vui trong kho tàng ân sủng thật bao la của Ngài.

Như vậy, ý định của Thiên Chúa dành cho chúng ta là Ngài sẵn sàng chia sẻ với chúng ta sự giàu có trong các bữa tiệc của cuộc sống. Nhưng lòng quảng đại, nhân từ và kiên tâm chờ đợi của Thiên Chúa không là một cái cớ khiến chúng ta tự mãn và coi thuờng rồi không hợp tác với Ngài. Chính việc chọn lựa không hợp tác có thể là nguyên nhân khiến chúng ta bị (hay tự) loại ra khỏi bữa tiệc của niềm vui.

Vậy, chúng ta cần có thái độ nào trong các lần gặp mặt, các bữa ăn - tiệc của đời sống; nhất là qua các bữa tiệc lòng mến (Thánh Lễ) mà chúng ta đuợc mời gọi chia sẻ với nhau vào các ngày Chúa Nhật hàng tuần?

Uớc mong, chúng ta cùng cộng tác với lời mời chia sẻ niềm vui của Thiên Chúa; để mãi mãi, bằng cuộc sống, chúng ta cùng cử hành bữa tiệc niềm vui cho đến ngày chung kết.
Amen!
Lm Joe Mai Văn Thịnh

Chương trình Tam nhật mừng lễ Thánh Giêrađô Majella Tu Sĩ CSsR





CHƯƠNG TRÌNH TAM NHẬT
MỪNG LỄ THÁNH GIÊRAĐÔ, TU SĨ DÒNG CHÚA CỨU THẾ
Tại Đền Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp Sài Gòn
Ngày 13 – 14 – 16 / 10 / 2017 
CHỦ ĐỀ: “THÁNH GIÊRAĐÔ GIỮA MỘT THẾ GIỚI BỊ TỔN THƯƠNG”

NGÀY 13/10/2017: Khai mạc Tam nhật kính Thánh Giêrađô
– 17g30: Cầu nguyện với Thánh Giêrađô

               Hướng dẫn: Cha Giuse Nguyễn Duy Thịnh, DCCT
– 18g00: Thánh lễ đồng tế
Đề tài: “Thánh Giêrađô, giúp đỡ và chia sẻ với người nghèo”
Chủ tế Thánh lễ và giảng lễ: Cha G.B Lê Đình Phương, DCCT
NGÀY 14/10/2017: Ngày thứ II Tam nhật kính Thánh Giêrađô
– 16g00: Cầu nguyện – Hành hương với Thánh Giêrađô

               Hướng dẫn: Cha G.B Lê Thanh Hải, DCCT
– 16g30: Thánh lễ đồng tế
Đề tài: “Thánh Giêrađôcầu nguyện với Mẹ Maria cứu giúp các bệnh nhân”
Chủ tế: Cha Giuse Nguyễn Thể Hiện, DCCT
Giảng lễ: Cha Phêrô Nguyễn Hữu Hạnh, DCCT
NGÀY 16/10/2017: Thánh lễ mừng kính trọng thể 
– 17g30: Cầu nguyện với Thánh Giêrađô

               Hướng dẫn cầu nguyện:  Cha Phaolô Ngô Văn Phi, DCCT
– 18g00: Thánh lễ đồng tế cầu nguyện cho các thai phụ
Đề tài: “Thánh Giêrađô, dẫn đưa tội nhân hòa giải với Thiên Chúa
Chủ tế: Cha Bề trên Tu viện Sài gòn Tôma Trần Quốc Hùng, DCCT
Giảng lễ: Cha G.B Nguyễn Minh Phương, DCCT

Kính mời cộng đoàn dân Chúa hiệp thông cầu nguyện, tạ ơn Thiên Chúa cùng với Dòng Chúa Cứu Thế qua các giờ cầu nguyện, hành hương và Thánh lễ trong tuần Tam nhật Mừng lễ kính Thánh Giêrađô. 
         
BTC lễ Thánh Giêrađô.