Monday, 11 December 2017

Lm Vĩnh Sang DCCT : LẠI MỘT NOEL NỮA…




Những điệu nhạc du dương tình cảm dạt dào mùa Giáng Sinh đã văng vẳng bên tai, những bóng dáng ánh đèn màu rực rỡ đã xuất hiện trên đường phố, nơi các cửa hiệu, nơi những chốn vui chơi giải trí. Tất cả đều rộn ràng báo hiệu mùa Giáng Sinh, mùa Hồng Ân.
Những hình ảnh này, những điệu nhạc này dã một thời không được phép xuât hiện trên đường phố Sàigòn ngày bị tráo đổi tên là… thành phố HCM, nó bị kết tội là phồn vinh giả tạo, là sản phảm đồi trụy, là tàn dư mỹ ngụy, cần phải thanh toán và quét sạch mọi vết tích khỏi thành phố vinh dự mang tên… bác!
Không chỉ là âm nhạc, ánh đèn, những hàng trang trí Giáng Sinh, nhưng nhiều điều khác nữa, không chỉ tôn giáo nhưng cả những lãnh vực khoa học, xã hội, văn chương, … Phải công nhận một sự thật là những bài tuyên truyền và cái cách tuyên truyền y như nhồi sọ ngày này qua ngày khác, đã gây được những hiệu quả rất thành công của người tuyên truyền. Cho đến hôm nay, 42 năm qua rồi, nhiều sự thật đã phơi bày nhưng vẫn còn đó nhiều người, không phải là không được tiếp cận với các nguồn thông tin mới và đa chiều mà thiếu hiểu biết, nhưng họ vẫn còn xuất hiện trên các mạng xã hội để bênh vực cái sai, cái đã lừa bịp nhân loại, của đáng tội họ ăn nói hăng lắm, rất xác tín vào trí ý của mình mới khổ !
Khi vừa thay đổi một chế độ, người ta chiếm quyền được ăn nói, đã nói rất hay, rất bài bản, lại còn kèm theo cái mệnh danh là "bạo lực cách mạng", và thế là người ta cũng tạo ra được một lớp người có niềm tin, có kỳ vọng. Thế nhưng thời gian trôi qua, thời gian đủ để gột rửa, làm lộ ra sự thật thì những xảo quyệt, những gian dối không thể tồn tại. Cái mà người ta khám phá ra là: thay đổi không để tiến lên nhưng lại để xóa bỏ những gì thế hệ đi trước đã gầy dựng, thay đổi không để phục vụ lợi ich của con người nhưng để phục vụ cho lợi ích của một nhóm người, và quan trọng nhất là để thỏa mãn đam mê quyền lực, tự đánh bóng bản thân mình và phe nhóm mình.
Nếu nhìn bộ mặt xã hội như là hình dáng một con người thì cha ông ta đã có lời nhận xét chí lý, tích lũy bằng chính kinh nghiệm của bao nhiêu thế hệ: “Hữu tâm vô tướng, tướng tự tâm sanh, hữu tướng vô tâm, tướng tùng tâm diệt”. Nếu con người có cái tâm thì dẫu bề ngoài không lộ cái tướng, tướng tự nó phát sinh từ bên trong, mọi người sẽ nhận ra, nhưng nếu một người có tướng nhưng lại không có tâm, tự cái không có tâm sẽ làm mất tướng, có tâm hay không chúng ta có thời gian để kiểm chứng kết quả của con người và công việc.
Không thể xóa những giá trị thực của con người, thời gian sẽ trả lại tất cả những gì bị phá hoại nếu giá trị đó là có thật, thời gian cũng cho ta thấy những điều mà bộ máy tuyên truyền ca tụng ngất trời xanh đang dần dần tắt lịm, mất tăm hơi trong mọi sinh hoạt cuộc sống. Chúng ta đang chứng kiến từng ngày từng giờ những giá trị đích thực và chân chính hồi sinh, có chậm, có mất thời gian, có bỏ phí một quãng đời nhưng bài học về sự tỉnh táo và tính công tâm sẽ là bài học quý giá cho dân tộc này.
Đặc biệt những giá trị tích cực mà tôn giáo đã cống hiến cho dân tộc chúng ta, một sự cống hiến vô điều kiện như sự cống hiến của Chúa Giêsu cho nhân loại, một sự cống hiến hoàn toàn vô điều kiện, không đòi phải trả lại.
Cứ lên các mạng xã hội để thấy xã hội sử dụng thời gian và quyền bảo vệ những điều tốt đẹp phản ứng với những ý tưởng thô bạo với vẻ đẹp tinh thần ra sao…
Lm. VĨNH SANG, DCCT, 9.12.2017

Saturday, 9 December 2017

F X Durwell : Một sự hiệp thông có tính cách hy tế - Bí Tích của Hiệp Thông



Nơi Đức Kitô: vào chính lúc dâng hy tế, Ngài đi vào hiệp thông với Cha. Ngài được thánh hiến, vì chính Ngài là hy tế được dâng tiến. Hy tế Ngài cũng là sự hiệp thông của Ngài

Ngày xưa, việc ăn của cúng (hay hy lễ) là một sự hiệp thông hy tế: hy lễ được coi như được làm cho nên thánh thiêng, được thấm nhiễm một cách thần linh (nhờ việc nó được kéo ra khỏi thế giới trần tục, nhờ cử chỉ dâng hiến, nhờ bàn thờ, nhờ lửa Thiên Chúa thiêu rụi nó). Nhờ bữa ăn hiệp thông, vòng tròn sự thánh thiêng mở rộng, bao trùm những người hiệp thông trong cùng một sự hiến thánh. Bởi đó, ăn hy lễ dâng Thiên Chúa là hiệp thông với Thiên Chúa, ăn đồ cúng cho quỷ là hiệp thông với quỷ (1 C 10, 18-20).

Trong Đức Kitô, sự nối kết giữa Thiên Chúa và trần gian trở nên thực tại:
·                     Ngài là Con Chiên được thiêu rụi trong lửa sự thánh thiện.
·                     Ngài được hiến thánh từ đầu do sự hiện diện của Thần Khí và hiến thánh cách viên mãn trong sự chết và vinh quang (Ga 17, 19), trong Thần Khí cuộc phục sinh. Moi sự đã sẵn cho bữa ăn hiệp thông. Khi ăn Con Chiên, người ta đi vào trong giao ước Vượt Qua, trở nên “lễ dâng được thánh hóa trong Thần Khí” như Đức Kitô. Ho gặp Thiên Chúa ở điểm trần gian và Thiên Chúa chỉ là môt: trong Đức Kitô và sự chết của Ngài.
·                      
Trong Đức Kitô, hy tế và bữa ăn làm thành một nền phụng vụ bất khả phân ly:
Trong việc chết cho xác thịt khép kín và sống lại trong Thánh Thần là sự hiệp thông, Đức Kitô vừa bi hiến tế vừa là lương thực. Ngài là cuộc Vượt Qua, là hy tế và bữa ăn của ta. Thánh Thể là bí tích của cuộc Vượt Qua của Đức Kitô và của sự hiệp thông Vượt Qua (1C 10, 16).
Trong các tôn giáo xưa, nghi thức hiệp thông theo sau hy tế, còn trong Kitô giáo, sự hiệp thông ở trong hy tế và xảy ra cùng lúc.

Trước hết nơi Đức Kitô: vào chính lúc dâng hy tế, Ngài đi vào hiệp thông với Cha. Ngài được thánh hiến, vì chính Ngài là hy tế được dâng tiến. Hy tế Ngài cũng là sự hiệp thông của Ngài.

Rồi nơi Hội Thánh khi cử hành Thánh Thể: hiệp thông không đến sau hy tế, vì hy tế có tính cách cánh chung rồi, không gì thêm vào nó nữa. Thánh Thể là sự hiện diện của hy tế Vượt Qua trong tính hiện tại của nó. Hội Thánh gặp Chúa mình trong biến cố cứu độ, thông phần vào sự chết và sự phục sinh của Ngài. Hội Thánh hiệp thông vào hy tế qua việc cử hành nó chung với Đức Kitô.

Vậy cần nhờ hy tế và hiệp thông gắn liền với nhau:
Chẳng những để khỏi đặt Thánh Thể hy tế đối chọi với Thánh Thể bữa ăn.
Nhưng còn để hiểu rằng Kitô hữu cử hành hy tế mà hiệp thông vào đó: biết điều này sẽ có nhiều hậu quả cho thần học. Và nhất là hiểu rằng Kitô hữu chỉ hưởng nhờ hy tế Đức Kitô khi dự phần vào đó: biết điều này sẽ đầy đòi hỏi.

Theo F. X. Durrwell, C.Ss.R.

Friday, 8 December 2017

Gs Marcus Borg: Gặp Gỡ Đức Giêsu (Bài 16) Đức Giêsu và sự Khôn ngoan



Chương 4
Đức Giêsu và Khôn-Ngoan
Bậc Thày khôn-ngoan thay thế
(Bài 16)

Khôn ngoan, là một trong các khái-niệm quan-trọng vào bậc nhất, giúp ta am-hiểu những gì trong sách Tân-Ước viết về Đức Giêsu. Khái-niệm này thật trọng-yếu, vì hai lý-do. Một, Đức Giêsu là Bậc Thày Khôn Ngoan. Vấn-đề này, hầu hết các học-giả hôm nay khi nghiên-cứu về Đức Giêsu, đều nhất trí như thế.

Tất cả các danh-xưng khác nói về Ngài, đều thuộc về Đức Giêsu-trước-ngày-Phục-Sinh, Ngài là Bậc Thày Khôn ngoan, một hiền-nhân, tức: danh-xưng được gán cho các bậc thày khôn ngoan (*1).

Đằng khác, sách Tân Ước lại cũng giới-thiệu Đức Giêsu là Hiện thân hoặc sự Khôn Ngoan Thần-thánh, đã Nhập-thể. Ở chương này, ta xem Đức Giêsu như Bậc Thày Khôn ngoan. Và ở chương tiếp, ta cũng xem Ngài như sự “Khôn Ngoan của Thiên-Chúa”.

Chủ-đề “Khôn Ngoan”, thật rất rộng. Về nền-tảng, Khôn-ngoan tập-trung mọi quan-ngại về việc làm sao để sống còn. Điều này, chủ-yếu nói về bản-chất đích-thực của Khôn-ngoan và làm sao để sống được cuộc sống thích-hợp với thực-tại.

Trọng-tâm việc này, là khái-niệm về đường-lối hoặc “con lộ” dẫn ta đi. Quả thật, có hai đường-lối hoặc cách-thức để thực-hiện: một, là đường-lối khôn-ngoan; còn, “con lộ” kia lại cũng bẽ-bàng. Các bậc thày khôn-ngoan nói về hai đường-lối này, bằng việc đề-xướng đường-hướng tương-tự và vào việc cảnh-báo hệ-quả xảy đến, nếu ta theo “con lộ” kia.

Có hai loại khôn-ngoan và hai loại hiền-nhân. Khôn-ngoan dễ thấy nhất, là khôn-ngoan theo qui-ước. Bậc thày khôn-ngoan ấy, cũng là hiền-nhân theo qui-ước. Đây là thứ khôn-ngoan chính của văn-hoá, tức: “những gì mọi người đều biết”, còn gọi là hiểu/biết rất văn-hoá, hiểu theo cách thực-dụng, để còn sống. Chuyện này, ta sẽ bàn nhiều ở chương tiếp. 

Thể-loại khác, là khôn-ngoan phá đổ và thay thế. Khôn-ngoan đây, chuyên cật vấn và huỷ-hoại thể-loại khôn-ngoan qui-ước, tức: nói theo cung-cách khác hẳn. Bậc thày khôn-ngoan đây, là hiền-nhân gây vỡ đổ bao gồm một số các nhân-vật nổi-bật trong lịch-sử của đạo-giáo.

Với Đạo ở phương Đông, có hai bậc thày khôn-ngoan tạo nhiều vỡ/đổ nhất đối với thế-giới phàm-trần, là Lão-Tử và Phật Thích Ca (*2). Lão-tử chuyên dạy cách đưa dẫn con người ra khỏi nhận-thức cũng như giá-trị của qui-ước; và định-hướng họ đi vào cuộc sống ăn khớp với “Đạo” thực. Còn, trọng-tâm giáo-huấn của Đức Phật, là hình-ảnh của đường lối, tức: “Bản ngã” dẫn con người ra khỏi thế-giới của qui-ước, để rồi bám víu vào việc khai-minh và nhân-hậu.

Cội-nguồn của triết-lý phương Tây, là đấng thánh hiền Socrates từng khuyên-dạy về thứ khôn-ngoan chuyên lật đổ vốn dính-dự cư-dân thành Athens, bằng việc xem xét rất kỹ các qui-ước định-hình cho sự sống của họ. Chính cố gắng này đã khiến ông bị hành-hình (*3).

Khôn-ngoan của bậc hiền-nhân chuyên lật đổ, là khôn-ngoan của “con lộ ít người sử-dụng” (*4). Chính đó là công việc của Đức Giêsu, tức: khôn-ngoan mà Ngài từng nói về “con lộ chật hẹp” dẫn vào sự sống, phá đổ “đường-lối lộng hành” từng được nhiều người đeo đuổi, để rồi cuối cùng lại cũng đi đến tàn-lụi (*5)

Muốn thấy “con lộ chật-hẹp” mà Đức Giêsu tỏ-bày, hoặc sự khôn-ngoan lật đổ và thay thế Ngài từng đề-cập, tưởng cũng nên xem xét cả hai chuyện: làm saocó nghĩa gì, từ sự khôn-ngoan do Ngài dạy (*6).      


Khôn-ngoan, Ngài dạy ra sao:
cách ngôn và dụ ngôn   

Hình-thức giảng/dạy do Đức Giêsu thực-hiện với tư cách là Bậc thày chuyên giảng thuyết, bằng cách-ngôn và dụ-ngôn. Cách-ngôn bao giờ cũng ngắn/gọn, gồm những lời nói đáng ghi nhớ, cùng những câu “pha trò” rất ý-nhị. Dĩ nhiên, ai cũng biết rằng dụ-ngôn là những câu truyện kể ngắn, rất dễ hiểu. Cả hai loại, cách-ngôn và dụ-ngôn, đều là lối nói cơ-bản được Đức Giêsu tỏ-bày giúp người nghe tiếp-xúc thẳng với tiếng/giọng của Ngài trước-ngày-Phục-Sinh. Lạ lùng thay, việc gây nhiều ấn-tượng ta được biết về Đức Giêsu, cho thấy Ngài là Bậc thày kể truyện và là Người kể chuyên “pha trò” vui vẻ.

Các cách-ngôn và ẩn-dụ được Đức Giêsu sử-dụng, đều trở nên linh-hoạt theo cách riêng biệt: tất cả, là hình-thức nói-năng, chào mời. Đức Giêsu sử-dụng loại-hình như thế, là để mời chào người nghe thấy được những điều mà có lẽ họ không nhận thấy, tức: một hình-thức nói-năng gây tưởng nhớ cũng rất nhiều. Chúng gợi nhiều tưởng-tượng để rồi đưa vào hành-động, tức: đề-nghị thêm nhiều từ-vựng và mời/chào mọi người hãy thay-đổi nhận-thức mà xưa nay họ vẫn có.

Cách-ngôn Đức Giêsu sử-dụng có đến cả trăm câu, quyết ngưng-đọng việc kết-loại nhận-thức mời mọc có khi còn đi xa hơn thế(*7). Như câu nói: “Các ngươi không thể làm tôi hai chủ được”, “Các người không thể gặt hái chất nho, từ đám bụi gai ngoài rừng”, “Kẻ mù lại dắt người mù, rồi thì cả hai lăn cù xuống hố”, “Hãy để người chết chôn kẻ chết”, “Ngươi sàng lọc từng con muỗi, nhưng lại ngốn cả lạc đà, vào trong bụng”… Tất cả, đều là những câu nói ngắn gọn, khơi dậy nhiều ý-nghĩa hơn những gì người ấy nói ra và mời/chào người nghe xem xét đôi điều mà có lẽ họ không hề nhìn thấy (*8).

Muốn xem cách-ngôn hoạt-động như một hình-thức nói-năng, ta cũng nên tưởng-tượng ra rằng chúng được đề-cập chỉ một lần một, mà thôi. Nói chung, đó là dạng-thức xuất hiện ở mọi Tin Mừng, tức: nơi tập-trung mọi biểu-hiện đề ra như bộ sưu-tập; nhưng ta cũng nên tưởng-tượng các lời nói ấy như thành-phần của các bài dạy bằng lời từ môi miệng Đức Giêsu, thường sử-dụng như câu nói đơn độc. Bởi, các bậc thày giảng dạy bằng lời, thường gom chung các câu ngắn gọn làm thành xâu/chuỗi hầu quản-chế chức-năng và đánh bại mục đích của từng lời nói ra.

Ban đầu, tôi nhận ra được điều này khi xem bộ phim tập Hollywood nói về Đức Giêsu đúng vào lúc Ngài giảng về “Tám Mối Phúc Thật”, còn gọi là: “Bài Giảng Trên Núi” tóm lược trong chỉ một bài gồm các cách-ngôn do Ngài bộc-lộ suốt 3 chương/đoạn ở Tin Mừng Mátthêu (*9).

Mới chỉ xem nửa chừng đoạn phim này, tôi đã muốn la lên: “Hãy Ngừng! Ngừng lại một phút đi!” Lý do, là bởi: đoạn phim này đưa ra quá nhiều chủ-đề, mà phần lớn các chủ-đề ấy lại gợi thêm nhiều ý khác đến độ chúng dính-kết vào với nhau, không còn chỗ để chen thêm ý-kiến nữa.

Thật ra thì, sự thể không làm sao xảy ra được như vậy. Là, vị thuyết giảng bằng miệng, đặc-biệt là Bậc thày khôn-ngoan như Đức Giêsu, lại càng không làm như thế. Đúng hơn, câu nói riêng rẽ của Ngài đòi người nghe phải suy-tư, rất nhiều thời. Bởi, những câu nói đầy khích-động như thế, lại cố ý đưa người nghe đi vào nhận-thức mới, đòi hỏi người nghe phải có thời-gian mới tiêu-hoá được.

Thành thử, ta cũng nên tưởng tượng ra rằng: những câu như thế chỉ được nói ra khỏi miệng từng lần một (*10). Có những câu, lại được nhiều người cùng lúc nói tuốt luột ngoài môi miệng, không dọn trước, cũng chẳng cần sửa soạn cho kỹ như tư-tưởng trong đó vẫn như buông lửng trên không, chờ thời để chín mùi. Có những câu, lại là đề-tài bài giảng-dạy dài đằng-đẵng, tức: thể-loại văn nói đầy ý-nghĩa, xuất từ các bài thuyết-trình phải kéo dài rất nhiều ngày mới hiểu được.                     

Cũng nên tưởng-tượng các câu cách-ngôn đưa ra rất nhiều lần. Không bậc thuyết-giảng nào –dù là thuyết-trình-viên thỉnh-giảng hay ai đó-  lại sử-dụng câu pha trò ý-nhị duy-nhất chỉ một lần mà thôi. Chính vì thế, mà: bối-cảnh văn-chương đặc-biệt của các câu nói ở Tin Mừng, không thể là bối-cảnh độc-nhất mà người nghe được biết.

Bối-cảnh ngôn-ngữ như thế, đôi lúc lại chứa đựng một số đầu mối như để áp-dụng thứ cách-ngôn nào đó mà thôi, nhưng vẫn minh-hoạ để tưởng-tượng mỗi câu cách-ngôn như mẩu suy-tư phát-biểu bằng miệng, trong bối-cảnh rộng ở thế-giới đời thường của Đức Giêsu.

Thêm vào đó, việc biểu-hiện cách-ngôn tương-tự đều đã hơn một lần xuất khỏi miệng, lại bao-hàm nhiều điểm lâu dài hơn. Những gì ta nghe biết ở Tin Mừng, lại là cốt-tuỷ (hoặc ý chính) của những câu cần ghi nhớ, được người phát-biểu nói ra nhiều lần –mà ý-nghĩa vang vọng khiến người nghe còn nhớ mãi như trọng-tâm của bài thuyết-trình hoặc đối-thoại dài hơn thế (*11).

Muốn xem những câu nói như thế có tác-dụng ra sao, cũng nên quay về lại với danh sách các ví-dụ được trích ở trang về trước. Đôi lúc, chính nội-dung bao gồm ý-tưởng tươi mát khiến ta ngưng lại, như câu nói bảo rằng: “Hãy để kẻ chết chôn kẻ chết”

Câu này thật bí-hiểm, vừa đánh động lại vừa khiêu-khích nữa. Lối sống chất chồng lên cuộc sống thuộc lãnh-vực của sự chết, lại khác nữa. (*12) Các câu ấy, mời ta đi vào một suy-niệm, hỏi rằng: những ai hoặc những gì gọi được là đã chết? Và những gì mang ý-nghĩa di-dời khỏi vùng đất từng là chốn miền của kẻ chết, đây?

Câu tiếp đây, lại cũng tươi mát về nội-dung, khi khẳng-định rằng: “Ngươi sàng lọc từng con muỗi, nhưng lại ngốn cả lạc đà vào trong họng” (*13). Câu này, về hình-ảnh trông thật nực cười, nhưng cũng đượm chút “cắn cấu”, chỉ thế thôi.

Ở mặt ngoài, câu này chĩa thẳng vào hành-động bênh-vực hệ-thống tinh-sạch, nó mời người nghe có được quan-ngại về sự tinh-sạch như một thứ gì tương-tự sự ngu-xuẩn, cốt gạn/lọc đôi điều nhỏ bé trong khi đó lại ngốn/nuốt thứ gì đó khá to đùng. Thực-chất câu chuyện nằm ở chỗ: lạc-đà là loài thú uế-tạp được chêm vào câu truyện là để nói lên tính cách mai-mỉa của cách-ngôn.

Nhiều lúc, nội-dung câu nói còn diễn-tả đôi điều mà tất cả mọi người đều coi như sự thật, nhưng chúng lại mời họ áp-dụng sự-thật rất chung chung ấy vào với tình-huống có trong tay, như câu nói bảo rằng: Không ai làm tôi hai chủ.” (*14)

Thế-giới thời xưa cổ, tất cả mọi người đều biết: mình không thể làm nô-lệ cho hai ông chủ được, là thế. Câu nói đây, vì thế, khơi dậy lập tức sự đồng-thuận, rất chắc nịch. Rõ ràng là, điều này cốt ý áp-dụng cho những gì khác với nghĩa đen chuyên nói về bầy tôi mọi hoặc nô lệ. Vậy thì, ví dụ ấy ám-chỉ điều gì đây? Những ai hoặc những gì có nghĩa là “hai chủ” được cách-ngôn đề-cập đến? Chuyện này áp-dụng cho những ai, cho việc gì?

Cũng thế, câu nói sau đây là sự thật hiển-nhiên ai cũng biết, nhưng nó mời người nghe suy-nghĩ về việc áp-dụng cho ai, vào việc gì: “Thật vậy, xem quả thì biết cây. Ở bụi gai, làm sao bẻ được vả, trong bụi rậm, làm gì hái được nho.” (Luca 6: 44)

Lại nữa, người nghe Đức Giêsu giảng (và cả ta nữa) đều sẽ bảo: “Vâng. Ngài nói rất đúng.” Nhưng, nhận-xét này đúng thật đến độ nào? Hoặc: ẩn-dụ đây cốt ý nói lên điều gì? Đâu là bài học rút từ đó?

Còn câu khác, lại vẫn bảo: “Người mù lại dắt mù, cả hai ắt lại sa xuống hố? (Lc 6: 39)

Vâng. Đó là những gì có thể xảy ra. Nhưng, ý-nghĩa của ẩn-dụ đây, áp-dụng vào trường-hợp nào? Người nghe Đức Giêsu giảng, ắt phải là người được mời/chào hãy xem phương-cách nào khả dĩ đưa những chuyện như thế vào hố sâu của người mù; và hẳn những ai theo đường lối ấy cũng chịu hệ-quả của mù loà, mà thôi. Nhưng, mù loà tượng trưng cho những gì?

Chính vì thế, cách-ngôn xuất từ miệng Đức Giêsu được người nghe hiểu rõ như sự kết-tinh đáng nhớ về nhận-thức mời mọi người thử nhìn vào nhận xét này nhiều hơn nữa. Và cũng thế, các dụ-ngôn Đức Giêsu dung, cũng mang tính mời/chào theo cùng một hình-thức như truyện kể.

Giống như cách-ngôn, cũng nên được hiểu là những câu nói lặp đi lặp lại rất nhiều lần. Tương tự như chuyện không người nào sử-dụng cách-ngôn lại pha trò ý-nhị chỉ một lần rồi thôi. Cũng thế, không ai kể tryện dụ-ngôn chỉ một lần rồi thôi. Thành thử, các bối cảnh ở Tin Mừng không chỉ mô tả để ta biết chỉ duy nhất một lần một, mà là được kể rất nhiều lần (*17)

Một số truyện dụ-ngôn do Đức Giêsu sử-dụng cũng rất ngắn. Ngắn gọn, như cách-ngôn ở đời, duy có chút khác-biệt là ở chỗ: chúng là truyện để kể cho người nghe học hỏi. Ta cũng nên tưởng-tượng các truyện dụ-ngôn ngắn gọn này từng được nói ra như các câu cách-ngôn ở đời thường, tức những câu nói đầy ẩn-dụ tự chúng đã hoàn-tất, như các câu sau đây:

“Nước Thiên Chúa giống như chuyện nắm men bà kia lấy vùi vào ba thúng bột, cho đến khi tất cả bột dậy men." (Lc 13: 21)

“Nước Trời cũng giống như chuyện nắm men bà kia lấy vùi vào ba thúng bột, cho đến khi tất cả bột dậy men." (Mt 13: 33)

“Nước Trời giống như chuyện kho báu chôn giấu trong ruộng. Có người kia gặp được thì liền chôn giấu lại, rồi vui mừng đi bán tất cả những gì mình có mà mua thửa ruộng ấy.” (Mt 13: 44)

Tuy nhiên, một số truyện dụ-ngôn lại là những câu truyện kể trọn vẹn đủ mọi tuồng-tích rất đặc-trưng. Trong quá-trình kể lể, người nghe có thể tưởng-tượng thêm theo cách khác-biệt và kéo dài tuỳ hứng. Quả là chuyện bổ-ích, nếu ta xem xét truyện dụ-ngôn kéo dài có sẵn ở Tin Mừng như bài tóm-lược sự việc diễn-tiến cách dông-dài, tuỳ tình-huống cho phép.

Chẳng hạn, rất dễ tưởng-tượng ra câu truyện về cuộc sống của người con đi hoang ở xứ miền xa xôi theo cách sáng-tạo như Đức Giêsu từng kể; hoặc kéo dài câu truyện tại nhiều nơi chốn khác nhau, như: truyện người Samaritanô nhân-hiền. Bởi lẽ, những câu truyện như thế, ban đầu chỉ là câu truyện truyền khẩu chứ không kịch-tính có sắp đặt như Tin Mừng ghi chú từng chi-tiết một.

Cũng cần xét xem làm sao các câu truyện như thế lại là truyện truyền khẩu. Trong khi cách-ngôn làm ngưng đọng đầu óc con người khiến họ tưởng-tượng thêm bằng việc kết-tinh nhận-thức mang tính-chất rất khích-động.

Nói tóm lại, thì: truyện kể dài dòng có tác-dụng khác hẳn. Vốn dĩ là truyện kể nghe rôm-rả, chúng thường lôi cuốn người nghe đi vào thế-giới của cổ-tích, rất đáng kể. Tiếp đó, chúng còn mời chào người nghe xem xét đôi điều nào khác dựa theo lằn sáng chiếu rọi có từ thế-giới kể truyện cổ tích vẫn có tuồng tích xảy đến, trông như thật (*19).              

Một đôi lúc, sự mời/chào thật rõ rệt, lúc đầu là câu hỏi như Tin Mừng có ghi: “Sao các người không tự mình xét xem cái gì là phải? (Lc 12: 57). Sau đó, lại cũng một câu tương-tự ở Tin Mừng Mátthêu, từng hỏi: “Các ông nghĩ sao? Một người kia có hai con trai. Ông ta đến nói với người thứ nhất: "Này con, hôm nay con hãy đi làm vườn nho.” (Mt 21: 28)  

Cả những khi, truyện kể không nói rõ ra như thế, thì lời mời/chào vẫn cứ mặc-nhiên hàm ngụ ở bên trong. Lời mời gọi, không giống như một ước vọng người nghe sẽ làm, như lệnh truyền “Chớ làm việc này…” nhưng đúng hơn, một đề-nghị như câu: “Hãy xem cách này…”

Vốn chỉ là hình-thức nói-năng, truyện dụ-ngôn không dấy lên một lệnh-truyền từ bên ngoài. Chúng không kêu gọi thẩm-quyền thánh thiêng, như các câu lệnh của người ban-hành lề-luật thánh như những câu ở Cựu Ước: “Các người không được làm như thế…, lệnh truyền của Đức Chúa”; hoặc, như câu phán của ngôn sứ: “Hãy nghe lời Đức Chúa nói…”). Đúng hơn, thẩm-quyền ở lại nơi họ -đó là: với khả-năng can-dự và ảnh-hưởng lên sức tưởng tượng của chính mình. Tiếng/giọng của họ lại cũng là lời chào/mời hơn là lệnh truyền cho người nghe theo.

Vì thế nên, là Bậc thày khôn-ngoan, Đức Giêsu lại đã sử-dụng các câu cách-ngôn và truyện dụ-ngôn là để mời/chào người nghe thấy được đường-lối mới, tự nền-tảng. Kêu gọi đây là một tưởng-tượng ra chỗ nào đó trong ta ngự-trị hình-ảnh của thực-tại và ảnh-hình sự sống của chính ta. Lời mời chào đây là cung-cách khác-biệt để thấy, để nhìn các ảnh-hình khác-biệt hầu định-dạng việc ta hiểu thế nào về chính sự sống.

Tập-trung nhấn-mạnh lên việc “nhìn và thấy” ngang qua thông-điệp Ngài gửi đến. Hệt như câu nói ở Tin Mừng Máccô từng ghi rõ: “Sao anh em lại bàn tán về chuyện anh em không có bánh? Anh em chưa hiểu chưa thấu sao? Lòng anh em ngu muội thế! (Mc 8: 18). Lại cũng có những người bị chứng mù/loà khiến khổ sở vì việc nhìn và thấy.

Từ đó, người người đều đã rõ sự khác-biệt nơi câu nói ở Tin Mừng, từng bảo rằng: “Đèn của thân thể là con mắt. Vậy nếu mắt anh sáng, thì toàn thân anh sẽ sáng. Còn nếu mắt anh xấu, thì toàn thân anh sẽ tối. Vậy nếu ánh sáng nơi anh lại thành bóng tối, thì tối biết chừng nào!” (Mt 6: 22-23); hoặc, từ câu nói: “Đèn của thân thể là con mắt của anh. Khi mắt anh sáng, thì toàn thân anh cũng sáng. Nhưng khi mắt anh xấu, thì thân anh cũng tối. Vậy hãy coi chừng kẻo ánh sáng nơi anh lại thành bóng tối. Nếu toàn thân anh sáng, không có phần nào tối tăm, thì nó sẽ sáng hoàn toàn, như khi đèn toả sáng chiếu soi anh." (Lc 11: 34-35)

Làm sao ta biết được rằng: những gì ta thấy sẽ định-đoạt con lộ giúp ta đi, đường-lối ta từng sống. Thế đó, là sự việc Làm sao Đức Giêsu lại có thể là Bậc thày khôn-ngoan. Nay trở về với câu hỏi điều gì làm nội-dung nơi giáo-huấn Ngài từng dạy.

Đức Giêsu sử-dụng các hình-thức mời/chào và khích-động trong giảng dạy như cách-ngôn các câu truyện dụ-ngôn là để lật đổ các đường-lối mang tính qui-ước để nhìn và sống; và để mời chào người nghe có lối sống rất thay đổi.

Là Bậc thày khôn ngoan, Đức Giêsu ngay từ đầu, không là Bậc Thày đề-xướng thông-tin (tức: những gì cần tin tưởng) hoặc về luân-lý/đạo-đức (tức: làm sao ta biết cách mà hành-xử), nhưng Ngài là Bậc Thày của đường-lối hoặc “con lộ” của đổi thay. Đường-lối thay-đổi từ góc độ này đến đường lối khác? Từ sự sống trong thế-giới của khôn-ngoan theo qui-ước đến với thế-giới tập-trung vào Thiên-Chúa. 

                                                                                    (còn tiếp)   
          
        

Gs Marcus J. Borg biên-soạn
Mai Tá lược dịch.