Thursday, 21 February 2019

Lm Giuse Mai Văn Thịnh DCCT : KHUÔN VÀNG THƯỚC NGỌC


KHUÔN VÀNG THƯỚC NGỌC
_______________________
Lm Giuse Mai Văn Thịnh, DCCT
Bài Tin Mừng hôm nay là phần tiếp nối với các mối phúc của Đức Giê-su trong bài giảng ở trên đồng bằng. Đối tượng trước tiên mà Thánh Lu-ca muốn gửi đến là các môn đệ, những người theo chân Chúa trên hành trình rao giảng, sau đó là cộng đoàn của Thánh sử và cho cả chúng ta ngày nay. Giả như các mối phúc của Đức Giê-su mà chúng ta đã nghe vào Chúa nhật tuần trước chưa đánh động hay chạm đến cách xử sự trong cuộc sống của người môn đệ, thì hôm nay, qua những huớng dẫn cụ thể trong bài Tin Mừng Chúa nhật tuần này sẽ đẩy chúng ta đi đến một lựa chọn, không dựa trên lý thuyết nhưng bằng hành động của chúng ta đối với nhau và đặc biệt đối với ai đã có những hành vi làm tổn thương chúng ta. 
Làm thế nào để chấp nhận những lời giảng dậy của Đức Giê-su và biến nó thành những hành động cụ thể trong cuộc sống? Như chúng ta còn nhớ, đời sống của các tín hữu của những cộng đoàn sơ khai bị bầm dập dưới ách thống trị của Đế Quốc Rô-ma. Của cải, danh tiếng và sinh mạng của họ hoàn toàn tuỳ thuộc vào những người linh đô hộ. Họ bị khước từ, bắt bớ, giam cầm và rất nhiều người trong nhóm họ đã trải qua một cuộc sống rất cơ cực, nghèo đói, bị ngược đãi thậm chí còn bị giết chết. 
Vẫn biết là trong số họ có một vài phe nhóm nổi dậy chống lại chính quyền, nhưng đại đa số quần chúng, những người dân vô tội, chân yêú tay mềm vẫn là con mồi cho bọn cầm quyền và những người thuộc về guồng máy cai trị. Ngay cả sinh mạng còn chưa giữ được phương chi nói đến chuyện đoạt áo choàng, vả má phải hay những hành vi khác của quân thống trị đã gây các thương tích và làm cho nhân phẩm họ bị nhục mạ. 
Với một bối cảnh như thế, những lời giảng dậy cuả Đức Giê-su trong bài Tin Mừng hôm nay “hãy yêu kẻ thù và làm ơn cho kẻ ghét anh em” không nhằm cổ võ cho sự tồn tại và phát triển của sự ác. Người cũng không khuyên họ và chúng ta chấp nhận hoàn cảnh với tinh thần bất bạo động. Người đứng ngoài những đấu tranh về chính trị hay đòi hỏi quyền lợi cho dân.
Thật ra, khi Đức Giêsu đưa ra yêu cầu “hãy yêu kẻ thù và làm ơn cho kẻ ghét anh em,” và các việc làm cụ thể để diễn tả lòng yêu thương kẻ thù của chúng ta như; ai vả má phải thì đưa cho họ má trái, ai đoạt áo chòang thì cho luôn họ áo trong, ai xin thì hãy cho và v.vv.. là lúc Người mời gọi chúng ta đi vào phần sâu thẳm, trọng tâm của Tin Mừng. Chỉ có sức mạnh của Tin Mừng mới có thể lấp đầy khoảng trống giữa kẻ thù và chúng ta. Và, nếu chúng ta không chấp nhận và áp dụng lời dậy bảo của Đức Giê-su thì chúng ta chưa xứng đáng là môn đệ của Thầy. Nói khác đi, môt khi không thể hiện lòng yêu thương kẻ thù thì chúng ta chưa là môn đệ của Chúa.
Tình yêu, lòng thương xót dành cho kẻ thù không giống như cách diễn tả tình cảm giữa những người thân trong gia đình, tình bạn, tình hàng xóm láng giềng của những người cùng chia sẻ hoạn nạn với nhau, hay là kiểu ‘phải lòng nhau –falling in love’ của những ai đã từng yêu. Nhưng yêu thương kẻ thù ở đây không chỉ là cách diễn tả tình cảm mà còn là sự cho đi chính bản thân trong cách hành xử ngược lại với cách cư xử mà họ đã làm cho chúng ta bị tổn thương. Điều quan trọng là mọi việc cần được diễn tả bằng hành động chứ không chỉ bằng kiểu nói xuông.
Thật ra, đây không phải là điều dễ làm. Nhưng khi hành xử được như thế là lúc chúng ta noi gương Đức Giê-su, Đấng suốt cuộc đời luôn tìm cách tha thứ và làm ơn cho những kẻ hại Người. Người đã để cho tên đầy tớ tát vào má Người, chịu những roi vọt và mão gai đâm vào mình; Người đã để cho người ta lột tất cả, từ áo ngoaì lẫn áo trong, và sau cùng giang tay trên Thập Giá như một tội nhân. Thê mà, trong giây phút sau cùng đó, Người đã không lên án, nhưng đã cầu xin Thiên Chúa tha thứ cho những  kẻ haị Người. Nếu ta muốn bắt chước Đức Giêsu, thì việc chọn sống những tâm tình và thái độ của Người là luôn biết tha thứ - nhất là kẻ thù, thiết tưởng là điều vô cùng quan trọng trong sứ mạng của người môn đệ!
Là chứng nhân của Đức Kitô, ta tin rằng Người đang sống trong ta. Chúng ta là hình ảnh sống động của Người. Và một khi chúng ta không có tấm lòng bao dung, sẵn sàng tha thứ cho những ai đã làm tổn thương mình là lúc chúng ta làm mờ hình ảnh của Thiên Chúa nơi bản thân. Như vậy, với con tim nhậy cảm, lòng trí sáng suốt, ánh mắt tinh tuyền rọi chiếu hào quang và lời nói đầy thông cảm và yêu thương của chúng ta là sức mạnh và uy quyền của Đức Chúa, Đấng đang thưc hiện các điều đó trong ta. Và qua đó, chúng ta minh chứng cho thế gian ngày hôm nay biết việc mà Đức Giê-su đã làm khi xưa. 
Đức Giê-su đã nói gì, làm gì? Người đã sống và trải qua những khó khăn trong cuộc sống, bị loại bỏ, bị liệt vào phường ác nhân, bị ruồng bỏ và trơ trụi một mình trên Thập giá. Tất cả những gì Người làm, tất cả những gì Người nói đều qui về một mối là chứng tỏ cho nhân loại thấy lòng thương xót và hay tha thứ của Thiên Chúa dành cho tất cả, không loại trừ một ai, bao gồm cả những ai thù ghét Người. Bổn phận của chúng ta, những người con của Cha trên trời, là hãy làm cho thế gian đầy hận thù và ghen ghét này nhận ra quyền năng của Đấng đã và đang ban ơn cho tất cả mọi người, kể cả quân vô ơn và phường gian ác, đang hiện diện và hoạt đông trong bản thân mình. 
Tóm lại, ai trong chúng ta có thể thực hiện được những điều Chúa nói trong bài Tin Mừng hôm nay! Chỉ có quyền năng và sức mạnh của Chúa mới giúp chúng ta đạt được nguyện ước này. Vì thế, trong giây phút này, Thầy đang nói với chúng ta là những kẻ nghe Lời Người. Còn chúng ta thì sao? Hãy để tâm hồn mình lắng xuống mà chăm chú nghe Lời Người mà thay đổi lối sống. Đây chính là các nguyên tắc và cách sống của người môn đệ của Đức Ki-tô, chúng ta “hãy yêu kẻ thù và làm ơn cho kẻ ghét anh em, hãy chúc lành cho kẻ nguyền rủa anh em và cầu nguyện cho kẻ vu khống anh em. 

Ai vả anh má bên này, thì hãy giơ cả má bên kia nữa.
Ai đoạt áo ngoài của anh, thì cũng đừng cản nó lấy áo trong. 
Ai xin, thì hãy cho, ai lấy cái gì của anh, thì đừng đòi lại. 
Anh em muốn người ta làm gì cho mình, thì cũng hãy làm cho người ta như vậy. 
Nếu anh em yêu thương kẻ yêu thương mình, thì có gì là ân với nghĩa? Ngay cả người tội lỗi cũng yêu thương kẻ yêu thương họ. 

Và nếu anh em làm ơn cho kẻ làm ơn cho mình, thì còn gì là ân với nghĩa? Ngay cả người tội lỗi cũng làm như thế. 
Nếu anh em cho vay mà hy vọng đòi lại được, thì còn gì là ân với nghĩa? Cả người tội lỗi cũng cho kẻ tội lỗi vay mượn để được trả lại sòng phẳng.

Trái lại, anh em hãy yêu kẻ thù, hãy làm ơn và cho vay mà chẳng hề hy vọng được đền trả.

Như vậy, phần thưởng dành cho anh em sẽ lớn lao, và anh em sẽ là con Đấng Tối Cao, vì Người vẫn nhân hậu với cả phường vô ân và quân độc ác.
Anh em hãy có lòng nhân từ, như Cha anh em là Đấng nhân từ. 
Anh em đừng xét đoán, thì anh em sẽ không bị Thiên Chúa xét đoán.
Anh em đừng lên án, thì sẽ không bị Thiên Chúa lên án.
Anh em hãy tha thứ, thì sẽ được Thiên Chúa thứ tha. 
Anh em hãy cho, thì sẽ được Thiên Chúa cho lại.
Người sẽ đong cho anh em đấu đủ lượng đã dằn, đã lắc và đầy tràn, mà đổ vào vạt áo anh em. Vì anh em đong bằng đấu nào, thì Thiên Chúa sẽ đong lại cho anh em bằng đấu ấy.” (Lk 6: 27-38)

Lm Giuse Mai Văn Thịnh, DCCT

Friday, 8 February 2019

Gm John Shelby Spong Bài 11: Đồng tính luyến ái không là tai ương


Chương 5
Đồng tính luyến ái là một phần của sự sống
chứ không phải tai-ương.

Động từ “Là” lâu nay được coi như tự-vựng chính xuất-hiện ở ngôn-ngữ suốt mọi thời. Nay, ta sử-dụng tự-vựng này để mô-tả những điều cốt-thiết trong bài.

Giả như tôi bị gãy chân, tôi sẽ không bảo: “Tôi là cái chân gãy”. Nhưng, nếu chân tôi bị cắt bỏ vì lý do nào đó, hẳn tôi sẽ nói: “Tôi bị cụt chân”. Việc cắt bỏ ống chân cụt của tôi đã khiến ngôn-ngữ phải định-vị lại con người tôi. Lại nữa, có thể tôi cũng nói: “Tôi mắc bệnh đậu mùa” là để nói về lớp vảy màu đỏ xuất-hiện ở ngoài da; hoặc tôi lại nói thêm: “Tôi bị ung-thư”, là để cắt nghĩa cơn đau thể xác đang hành-hạ bản thân tôi.

Động-từ “Là” được sử-dụng một cách khá rộng khi ta khẳng-định: “Tôi là người có chiều cao cũng khá”; hoặc: “Tôi là người có đôi mắt rất nai tơ”; hoặc: “Tôi đây đường đường là đấng nam nhi đầy chí khí”; hoặc: “Tôi là nữ-phụ trời Tây đầy sắc-thái”. Ngôn-từ đại loại như thế, được sử-dụng trong nhiều trường-hợp cốt để diễn-tả đặc-trưng thiết-yếu ở cuộc sống mà tôi không kiểm soát được; hoặc có lúc tôi lại bảo: đó là phần chính-yếu nơi con người khiến tôi không thể nói về mình mà lại không bộc-lộ điều ấy ra bên ngoài.

Ngôn-ngữ loài người thường biểu-tỏ nhiều điều hơn ta tưởng, nhất thứ là khi ta nói những câu như: “Tôi là người đồng tính luyến ái”, hoặc: “Tôi đây, đích-thực là gà mái ghẹ”, hoặc: “Tôi là nữ-phụ có tính-khí giống nam-nhi!” Thế nên, ta mới khẳng-định rằng: đồng-tính luyến ái, là thành-phần thiết-yếu của những hơn 10% dân-số Hoa kỳ, mới là điều lạ.

Theo thống-kê, điều này có nghĩa là: trên khắp nước Mỹ, nam-nhân lẫn nữ-phụ đồng-tính luyến-ái có cùng xu-hướng tình-dục với hơn 28 triệu dân số. Nói thế, còn có nghĩa bảo rằng: khi ta thấy một trăm người tụ-tập ở nhà thờ nào đó trên nước Mỹ, thì xác-suất toán-học lại cũng cho biết: 10 trong số các vị ấy là nam-nhân đồng-tính luyến-ái hoặc nữ-phụ có cùng xu-hướng dục tình.

Điều đó có ý bảo rằng: không ai trong chúng ta để ra nguyên ngày giao-du thân mật với 10 người mà không được bảo: trong mười người đó, có một người là đồng-tính luyến-ái. Điều này, lại có nghĩa: bất cứ gia-đình nào sống trên đời được gọi là đông-đúc, tức: có số nhân-khẩu lên đến trên/dưới mười người, thì điều này hẳn có ý bảo rằng: chắc chắn một trong những người như thế phải là nam-nhân đồng-tính luyến-ái hoặc nữ-phụ cùng xu-hướng dục tình.

Nam-nhân đồng-tính luyến-ái hoặc nữ-giới cùng xu-hướng dục tình sống cạnh bên ta, đụng chạm vào cuộc sống của ta, tức: có nhiều điểm tương-đồng nói lên cùng một hiện-trạng, tức: thông thường, ta hay tiếp-nhận lòng thương trìu mến và/hoặc tình bằng-hữu phục-vụ ta một cách tuyệt diệu qua mọi hình-thức, cả vào cách nghe ta nói năng, cười đùa cùng các hình-thức khác, như: khôi-hài, diễu cợt, nói bóng gió/xỏ xiên cách nào đó về tình-trạng “đồng-tính luyến-ái”, ở đời thường.  

Thời xưa, người đồng-tính luyến-ái sống âm-thầm trong bóng tối, hoặc ẩn mình hòa-trộn trong xã-hội mà đa số quần-chúng chẳng người nào biết đến người nào. Ngày nay, nam-nhân và/hoặc nữ-phụ đồng-tính đã ra khỏi vỏ sò khép kín, tức: tự mình định-dạng đòi hỏi công-lý cách minh-nhiên, thuần thành ngõ hầu mọi người công-nhận và đón tiếp họ một cách quang-minh chính-đại.

Người đồng-tính luyến-ái, đại-diện cho hình-thái ‘thêm vào’ tình-trạng dục-tình đang ngày càng phát-triền. Đối xử với những người như thế, ta không thể tránh được cảnh-tượng văn-hóa thường tình vẫn chống đối cả nam-nhân lẫn nữ-phụ đồng-tính luyến ái hoặc quên bẵng đi hiện-tượng “đồng tính” đang ở sát bên ta.

Thời trước, đồng-tính luyến-ái được coi là thứ tâm-bệnh thực-thụ, tức: căn bệnh trầm-kha ở nhiều người. Đồng-tính luyến-ái, xưa nay vẫn được coi là ‘tật/bệnh’ đích-thật kể từ khi có cái-gọi-là ‘Bản Tường-Trình Kinsey’ xuất-hiện vào năm 1948 và 1953 (*1). Vấn nạn mà Bản Tường Trình nêu ra, cứ mãi phát-triển kịp đến khi Hội-đồng Quản-trị Phân-Tâm Hoa-Kỳ chính-thức loại bỏ nó khỏi Cẩm-Nang Chẩn-Đoán Rối-Loạn-Tâm-Thần, vào lần xuất bản thứ nhì năm 1973. Và, tập Cẩm Nang Chẩn-đoán này, đã giải-mã quyết-định ấy một cách rõ-rệt khi quả-quyết:

Vấn-đề chủ-chốt khi ta xem xét vụ việc Đồng Tính Luyến Ái, có coi đó là ‘Rối-loạn tâm-thần’ hay không, chuyện chính-yếu vẫn để bảo rằng: xưa nay, những gì khiến người người định-vị như ‘rối-loạn tâm-thần’, lại có tỷ-lệ đáng kể về đồng-tính ở mặt ngoài. Các vị cũng hài lòng khi xu-hướng dục-tình ở những người như thế, không mang dấu hiệu gì đáng ta để bận-tâm về căn bệnh.

Có thể, nó cũng hoạt-động theo tính xã-hội hoặc chuyên-nghiệp, nhưng không gây hại chút nào hết. Giả như ta áp-dụng tiêu-chuẩn buồn/khổ hoặc tật/bệnh để xem xét, thì “đồng-tính luyến ái” tự nó không là rối-loạn thần-kinh bao giờ hết.

Giả như mọi người đều sử-dụng tiêu-chuẩn ‘vô-vụ-lợi’ khi xem xét những chuyện tương-tự, thì quả cũng không rõ là “đồng-tính” có được coi như vụ việc ‘vô-vụ-lợi’ trong các nền văn-hóa lớn/nhỏ không? (*2)

Ngành nghiên-cứu nhân-chủng-học cũng công-nhận kết-quả thứ hai nói ở trên. Bởi, lâu nay ta thấy xã hội thời đầu vẫn chấp-nhận hiện-trạng dục-tính nghiêng về phía nam-nhân, không coi đó như hành-động đồi-trụy cần loại bỏ. Trái lại, xã-hội thời trước vẫn coi đây là chúc lành đặc-trưng do thần-linh ban phát.

Bởi, thông thường thì: nam-nhân đồng-tính vẫn chấp-nhận vai-trò pháp-sư hay đấng lành thánh. Đôi lúc, các vị lại coi đây như giới-tính thứ ba xuất-hiện ở bộ-tộc nào đó vốn cho phép những người sống trong bộ-tộc được ăn vận theo kiểu phụ-nữ hầu chủ-sự các buổi  cầu kinh tế tự hoặc các hoạt-động bên ngoài mặt ngả về phía phụ-nữ (*3).

Trong khi đó, có một số nghiên-cứu nhân-chủng-học lại cho thấy: nữ-phụ đồng-tính luyến-ái không sáng-giá như nam-nhân. Là thành-phần xã-hội trong tư-thế luôn bị đặt làm đề-tài cho các cuộc nghiên-cứu chuyên chú-trọng vào nữ-phụ đồng-tính luyến-ái thời trước bó buộc các vị phải ngang qua thủ-tục cúng-bái về tình dục một cách đều-đặn ở bộ-tộc, như tục giao-phối rồi sản-sinh, chẳng hạn.

Ngày nay, đây là động-thái khó tách-bạch, rạch ròi; bởi lẽ, các vị sống vào thời bộ-tộc vẫn cứ coi việc giao-du tình dục như sinh-hoạt bản-năng đặc-biệt, ở xã-hội. Nhiều vị, còn có định-kiến thâm sâu, khép kín do nam-nhân kiểm-soát, không-chế.

Xã-hội, nay hoàn toàn loại bỏ khái-niệm cho rằng: tình-dục là mớ bòng bong khá rắc rối thuộc ngành tâm-bệnh-học từng bén rễ sâu từ luận-thuyết của vị sáng-lập ngành phân-tâm-học, là: Sigmund Freud cứ cho đó là sai lầm lớn, nếu các hoạt-động bình-thường bị bóp méo, vặn vẹo kể từ lúc trẻ em lên 4 cho đến lúc bé em tròn 9 tuổi (*4).

Có vị, lại rập theo nguồn hứng vốn xuất phát từ vị sáng-lập ngành phân-tâm-học, đã bàn nhiều về các bổ-sung tâm-linh hoặc các ảnh-hưởng do từ người lớn (phần đông là cha mẹ) chuyên đặt nặng sự việc nam-nhân hoặc nữ-phụ đồng-tính luyến ái đã trưởng-thành. Luận-điểm này, quả thật nghiệt-ngã. Bởi, nó dồn hết mọi tội đổ lên đầu bậc cha mẹ mà bảo: chính các cụ từng tạo nên những thứ mà người thời xưa coi đó như mực-độ phát-triển của não bộ thần-kinh. Thế nên, nó tạo nên thứ mặc cảm tội lỗi nơi nhiều người và cũng bác bỏ những gì tiêu biểu cho quan-hệ giữa những người con đồng-tính luyến-ái và cha mẹ bình thường của họ.

Dù sao thì, luận-thuyết y-học nói ở đây, lại đề-cao tình-dục như thứ tật/bệnh không thể chữa được. Thế nên, đã có lúc con người hy-vọng sẽ chỉnh sửa hoặc chữa trị nó mãi về sau.

Ngành phân-tâm-học cùng lối chữa-trị bằng nỗi niềm tin-yêu/nguyện cầu ở tôn-giáo vốn là lối chữa-trị được đề-bạt xuyên suốt, do bởi họ dựa vào mẫu mực hành-xử không thích-đáng hoặc vào quyết-định tìm hiểu cho kỹ rồi định-liệu. Cuối cùng, có một số đổi thay mà nhiều người coi đó như thứ thay-đổi tận gốc.

Tuy nhiên, nhiều nghiên-cứu/khảo-sát trong các ngành/nghề khác nhau lại không đề-cập đến lối chữa-trị nào tựa hồ như thế. Thay vào đó, nó lại làm băng-hoại ý-tưởng cho rằng: đồng-tính luyến-ái là thứ tật/bệnh về tâm-thần, mà thôi. Một số các nhà nghiên-cứu khác lại tin tưởng rằng: không có bằng-chứng nào được đưa ra, hầu chứng-tỏ một cách bài bản các luận-thuyết coi đó như tật/bệnh.

Nếu đây là trường-hợp ta gặp hôm nay, thì các đấng bậc vị vọng trong ngành y-khoa không còn lý-lẽ nào để gọi hiện-tượng ‘đồng tính’ là tật/bệnh nữa. Với các giáo-hội khác nhau, chừng như ta vẫn thấy các vị ở cấp cao lại cứ đề ra nhiều giải-quyết dựa vào y-học nhưng lại thiếu tin tưởng. Nhiều giáo-phái đã thất-bại trong việc hiện-thực cách vô tri/vô giác hoặc mải đối đầu/xử-sự như các lãnh-tụ nhà đạo vẫn cứ lẳng lặng, chẳng nói chẳng rằng về gốc-nguồn đặc-trưng tư riêng của các ngài.

Nhiều vị, lại xét đoán các vụ/việc đồng-tính như một thứ lầm lạc do kẻ sa đọa, trụy lạc, đầy tội lỗi cố tình chọn lối sống lạc-loài đến là thế. Nhiều vị sống cuộc sống đầy dục-tình với người khác giới-tính có lẽ không tưởng-tượng ra cảnh người đồng tính lại có thể ăn nằm xác thịt tạo sảng khoái, thích thú. Có vị lại bảo: nội cứ nghĩ đến chuyện người đồng tính ăn nằm với nhau đã thấy ghê tởm, ‘lợm giọng’ rồi.

Thành viên nhóm/hội có xu-hướng hoặc chủ-trương đặt nặng chuyện dục-tình đồng tính lại biện-luận bảo rằng: các hành-xử của họ là chuyện tự-nhiên như cây cỏ, thôi. Giả như thứ gì đó, đối với họ, không mang tính bình thường, hẳn chuyện đó ắt phải là việc suy đồi, lệch lạc. Mọi khác-biệt trong lập-trường/quan-điểm hẳn sẽ đưa đến kết-luận cho rằng: do bởi hành-xử đồng tính mang ý nghĩa ‘bất thường’, nên nó phản lại trật tự của tạo hóa.

Đằng sau nhận-định này, là những giải-thích mang tính ‘rập khuôn’ ở tình-huống nam-nhân hoặc nữ-phụ phản-ánh quá cứng ngắc về phái tính, khiến nó vượt khỏi xã-hội lâu nay do nam-giới chủ-trì. Giới tính “tự-nhiên” đặt nền-tảng trên những gì mang tính bổ-sung cho bộ-phận sinh-dục nam/nữ. Thế nhưng, vấn-đề cấp bách cần đặt ra là hỏi rằng: bộ-phận sinh-dục của con người quan-trọng đến mức độ nào so với khát-vọng dục-tình?

Tác-giả Rosemary Ruether đã biện-luận rằng: nam-nhân lẫn nữ-phụ sở-hữu đồng đều cấu-trúc thể-lý cần-thiết cho việc giao-du tình-cảm (*5) . Thế nhưng, lề thói suy-tư của con người lại chịu ảnh hưởng từ các giá trị nam-tính cho thấy rằng tương-quan nam-nữ chỉ được tưởng-tượng theo chiều hướng quyền lực nằm về phía nào, nam hay nữ có quân bình đồng đều hoặc có trên có dưới, bên nam hay nữ ở trên hay không mà thôi. Tính-chất nhẫn nhục chịu đựng của người nữ ở thế nằm dưới nam-nhân khi giao-hợp đã trở thành mô-hình tiêu biểu đồng nghĩa với tự-nhiên.

Trong chiều hướng này, hoạt-động giao-hợp giữa người khác phái được định-nghĩa là lối diễn-tả tình thương độc-nhất có giá-trị mà thôi. Hệ-quả của lối giả-định này đề ra cho thấy nam-nhân là giới tính có khả năng đặc-biệt về thứ trực-giác thụ-động, tức giác-quan thứ sáu nếu muốn gọi là như thế tưởng cũng không sai.

Nay, mọi người chúng ta đang xa rời lề lối có não-trạng như thế rồi. Tư-cách con người không trồi-hiện khỏi vai-trò giới-tính đã hoạch-định nhưng là ra khỏi khả-năng lắng nghe, cảm giác thấy được, suy nghĩ và có liên-hệ với nhau. Không quan-năng nào nói ở đây lại đòi-hỏi các bộ-phận sinh-dục phải có bất cứ hình-thù hoặc miêu-tả tương-tự. Là người, nam hoặc nữ đều có chức-năng sinh-lý cần-thiết để nói năng và lắng nghe; để mến-thương và được thương-mến.             

Ts Ruether xác-nhận rằng: khi con người nối kết ‘các cơ-phận con người mình ngang qua tương-quan với người khác theo nhiều cách’ (*6). Chẳng có gì là phản tự-nhiên khi nói về tình thương-yêu san sẻ, cả với thứ tình-tự giữa hai thành-phần cùng một phái-tính giả như kinh-nghiệm gọi cả hai bên đi vào tình-trạng đầy-tràn của bản-chất người. Có khi nào một truyền-thông tôn-giáo từng trải dài thực-hiện việc cắt bì và thể-chế-hóa cuộc sống độc-thân lại làm mất đi bất cứ tập-tục nào trên căn-bản tính-khí trái tự-nhiên không?         

Các nghiên-cứu thời nay, đã lật tẩy cho thấy nhiều sự-kiện mới từng tạo xác-tín sôi động  nói lên rằng: đồng-tính luyến-ái, thay vì là bệnh-hoạn, tội lỗi, lầm lạc hoặc hành-động phản tự-nhiên lại chính là hình-thức lành mạnh, hợp với thiên-nhiên chuyên khẳng-định tính dục của nhân-loại với một số người. Nói một cách tương đối, công cuộc nghiên-cứu như thế khi tìm-hiểu tuổi ấu thơ đã chứng-tỏ khả-năng đối đầu và thách-đố nỗi hãi sợ về dục-tình và các thành-kiến cực-đoan trải dài nhiều thế-kỷ về trước. Chỉ chừng vài thập-niên mới đây thôi, con người chúng ta đã bắt đầu hiểu được những chuyện như thế coi như cấu-trúc và chức-năng của não-bộ thần-kinh, đó là không nói gì về tầm quan-yếu của nhiễm-sắc-thể. Các phát-hiện trong lãnh-vực như thế lâu nay tạo hệ-quả lên nhận-thức của con người qua hành-xử.

Đặc biệt hơn, công-cuộc nghiên cứu nói đây vẫn không ngừng hỗ-trợ một khẳng định chuyên bảo rằng: chiều-hướng dục-tình không là vấn-đề chọn-lựa có liên-quan đến bất cứ ảnh-hưởng nào từ môi-trường. Đó, cũng không là kết quả từ sự việc người mẹ cưu-mang quá mức chịu đựng hoặc của người cha thiếu cả nam-tính hoặc vắng nhà hoặc của đối-tượng dục-tình đầy cuốn hút.

Nhiều nhà nghiên-cứu lại cũng khám phá ra rằng: một số sự kiện hóa sinh trong lúc cưu mang thai cũng có thể khẳng-định chiều-hướng dục-tình nơi người lớn và một khi đã định-vị rồi, sẽ không còn thay đổi nữa. Dù các dữ-kiện mới vừa được phát-hiện đã và đang xuất hiện từng ngày, khiến một số vị đang hoạt-động trong lĩnh-vực nghiên-cứu não bộ thần kinh kỳ vọng đảo ngược kết-luận trên.

Dù rằng nhiều thế-kỷ trước, mọi người đều tin tưởng chuyện trái-nghịch lại, từ từ xuất trong đầu ta ý-niệm bảo rằng nơi chốn định-vi khát-vọng dục-tình là nằm ở trong đầu, chứ không ở bộ-phận sinh-dục. Nói một cách thẳng thắn ra thì điều này có nghĩa bảo rằng não bộ thần kinh là cơ-phận sinh-dục khởi đầu của toàn cơ thể.

Xu-hướng dục-tình của con người và những gì khiến chàng và nàng thấy hứng chí về tình-dục là các hoạt-động nơi não bộ của người đó. Hiểu được điều mới vừa khám-phá ấy trong địa hạt tình-dục phải khởi sự bằng cái nhìn và những khám-phá tân-kỳ về chức-năng thể-lý và vai-trò của nó khi học hỏi về cơ thể con người.

Ở thế giới loài vật, lằn ranh vạch thẳng giữa trống/mái lại không cứng ngắc như nhiều nhà nghiên-cứu vai trò của dục-tình muốn ta tin tưởng. Năm 1985 Giáo hội Luther ở Hoa Kỳ có viết lên bản tường-trình về dục-tình nơi con người cũng trích dẫn một số bản văn nghiên-cứu sinh lý đã khiến người đọc ngỡ ngàng trước những khảo sát như bên dưới:

Với loài cá có hình-thái khác nhau, đặc-biệt là loài sống ở biển san-hô, người ta thấy một số các loài cá đã thay đổi cả giới tính để đảm bảo cho việc sinh sôi nảy nở. Giả như các con cá trống bất chợt bị các con cá mái đá chết, thì cá mái này phải hành-xử như cá trống, rồi trở thành loài cá trống sống mãi như thế đến mức-độ sản xuất cả tinh-trùng như loài cá trống thực-thụ. Với chuột lang cũng thế, toàn-bộ danh tánh hành-xử tính dục của loài này xảy đến lúc chuột lang cái trưởng-thành xuất-hiện trước mắt chuộc đực để chuột đực có thể giao cấu và sinh sản. Kinh nghiệm này thay đổi hoàn toàn khi chuột lang cái có thai lại tiết ra kích-thích-tố hoặc ngăn không kích-thích việc sản-sinh. Thoạt khi cá đạt giai đoạn trưởng-thành, cá trống bèn leo lên mình cá mái mà giao-thoa. Trong khi đó, với loài chuột, thì chính con cái của chuột lại xuất-hiện rồi nhoai lên trên lưng chuột đực, mà hành sự. Ngoài trường-hợp này ra, không thấy có hành-xử nào trái tự nhiên hết (*7).
                
Các dữ-kiện này chừng như chứng-tỏ cho thấy xu-hướng tính-dục và hành-xử nổi lên từ khuynh-hướng ngả mình về phía nào đi nữa đều được giải-thích theo nghĩa tâm-sinh-lý.

Kết-luận này được xác chứng mạnh mẽ hơn nhờ các thử-nghiệm trên loài khỉ nâu ở Ấn Độ. Các xét nghiệm nói đây, chứng-tỏ rằng khi kích-thích-tố bị chặn đứng không để cho thai nhi xâm nhập tử-cung, nó tạo nên thứ hành-xử theo kiểu nam-tính rồi truyền xuống đám con cháu trai điều mà truyền thống có thói quen liên-kết với đám khỉ cái.

Dù các xét nghiệm tỏ cho thấy không một dấu hiệu nào về kích-thích-tố bất thường được phát-hiện sau khi sinh, cũng chẳng cần chỉnh sửa kích-thích-tố xảy ra sau đó khiến loài khỉ phải thay đổi hành-xử cho thích hợp với giống đực của loài này. Các xét-nghiệm nói đây đưa ra xác-chứng bảo rằng tiến-trình thay-đổi các đặc-trưng của hóa-chất đã tạo nên bản-chất phản-ứng giới-tính có thể thay đổi nơi não bộ trong thời kỳ thụ thai.

Hoặc nói rõ hơn, thì: ‘việc não bộ định-đoạt giới tính” xảy ra ở thời kỳ trước khi sinh nở qua đó chẳng phải thai-nhi cũng chẳng phải bậc cha mẹ có khả-năng kiểm-soát thứ gì hết.           

Kết-luận này còn được bổ-sung thêm nhờ có xét nghiệm của tác giả Gunter Dõrner, Giám đốc viện Nghiên-cứu Xét-nghiệm tại Đại học Humboldt ở Đông Berlin nên đã khẳng-định như thế.  Thoạt khi nhóm khoa-học-gia chuyên-biệt khởi sự hiểu ra rằng chính ra thì các kích-thích-tố vùng gò dưới đồi não, tức: gò đế nằm bên dưới đồi não hệ thần kinh là cái kiểm soát sản lượng kích-thích-tố, tác giả Dõrner đã phát-hiện nơi đồi não của giống chuột mà theo ông đó là sự khác biệt của trung-tâm định-đoạt giới-tính đực hay cái.    

Các xét nghiệm của tác-giả đây bộc lộ cho thấy là: giả như chuột bọ đây không có đủ số học-môn giới tính trong lúc phát-triển thì chuyện giới-tính được tạo-dựng theo cách khác hẳn, khiến tạo nên nơi đám chuột đực các hành-xử giới tính của đám chuột cái và ngược lại.

Rút tỉa từ các dữ kiện này, tác-giả Dõrner biện-luận rằng việc định-đoạt hướng tính-dục nơi thai-nhi con người cũng là kết-quả của tiến-trình tạo kích-thích-tố hóa-sinh vốn dĩ từng xảy ra trong bụng/dạ. Tác giả bèn định-vị rằng giới tính nam/nữ nơi loài vật là do số-liệu đạt trên não bộ tùy vào số lượng kích-thích-tố học môn và/hoặc sinh-dục đã và đang thay đổi. Số lượng tương đối về kích-thích-tồ có được trong các thời kỳ quan-trọng khi phát-triển ở bộ não sẽ định hình giới tính của trẻ bé bằng việc cháu mang giới tính nam-nhân hay nữ-giới, thông thường nhưng không phải lúc nào cũng thế, vẫn thích-ứng với giới tính phát-sinh của thai nhi.

Tác-giả biện luận thêm rằng: điều có thật không chỉ với loài người mà thôi, nhưng cả ở loài khỉ, chuộc, con bọ hoặc chim chóc và trên thực-tế sẽ diễn ra ở khắp nơi trong thiên-nhiên. Còn lại, duy chỉ mỗi sự-kiện là: với loài có vú ở cấp-độ có giới-tính cao hơn được phát-hiện cách sơ sơ cùng một tỷ-lệ như gặp ở loài, là homo sapiens. (*8)

                                                                                    (còn tiếp)

ĐGm John Shelby Spong biên soạn
Mai Tá lược dịch   

Lm Giuse Mai Văn Thịnh DCCT: VÂNG LỜI THẦY CON THẢ LƯỚI


Xã hội mà chúng ta đang sống là một xã hội trọng nhân tài. Ai có tài thì đuợc trọng dụng. Lẽ đương nhiên ở đây chúng ta cũng phải kể đến yêú tố đức độ của người có tài nữa. Tài năng và đức độ là hai tiêu chuẩn mà chúng ta thường hay áp dụng để được đề bạt hay tuyển dụng. Đó là chưa kể đến yếu tố quen biết, bởi vì nhờ vào sự quen biết, chúng ta dễ kết thân và thuận tiện hơn trong công việc. Có lẽ anh chị em đã từng được nghe nói ‘nhất thân nhì thế’ là như thế. Và chúng ta cũng nên thành thật mà nhận ra rằng lối hành xử như thế vẫn đuợc áp dụng trong các tổ chức tôn giáo; vì thế mới nẩy sinh ra tinh thần phe phái và che giấu sự thật; đó là những nguyên nhân đang làm hoen ố bản chất đích thật của Đấng đã chọn và sai chúng ta ra đi.

Từ trong lề thói cư xử như thế, chúng ta có thể ngộ nhận và cho rằng Thiên Chúa cũng chọn những người tốt và thiện hảo nhất để làm những người lãnh đạo chúng ta. Đuờng lối của Thiên Chúa khác hẳn cách cư xử của con người. Trước khi tổ phụ Mai-sen đuợc gọi và chọn để lãnh đạo dân tiến về Đất hứa thì ông đã phạm tội sát nhân. Vua David đã đuợc chọn và gọi trong sứ mạng lãnh đạo, triều đại của Đa-vít là một triều đại huy hoàng và thịnh vượng nhất trong lịch sử Do Thái. Thế mà, khi còn thiếu thời ông đã được cưng chiều quá độ, sau này đã lạm dụng chức vụ, chiếm đoạt vợ thuộc hạ và tìm cách giết hại trung thần để công khai ruớc vợ của trung thần là giai nhân Bét-sai-ba về làm vợ của Vua. 

Các bài đọc trong phần Phụng vụ Lời Chúa hôm nay đều mang chung một chủ đề là ơn gọi, hay nói một cách khác là sự tuyển chọn của Thiên Chúa. Chúa là người gọi phần đáp trả vẫn thuộc về con người. Tuy nhiên, nghĩ cho cùng thì việc đáp trả cũng là hồng ân đuợc ban tặng. Bởi vì nếu không có tiếng gọi thì tai chúng ta nghe đuợc những gì. Cuối cùng tất cả đều tùy thuộc vào Thiên Chúa.

Trong bài đọc I, chúng ta thấy việc Chúa chọn và gọi Isaia tham dự vào công việc của Ngài trong vai trò ngôn sứ. Việc trước tiên là trong thị kiến, I-sa-ia đã nhìn thấy Thiên Chúa uy linh thánh thiện. Vẻ uy linh và thánh thiên của Thiên Chúa không làm ông khiếp sợ. Trái lại, ánh sáng đó lại soi chiếu tâm can khiến ông nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa là Đấng toàn năng Thánh Thiện, và cũng chính nguồn sáng đó đã giúp ông nhận ra thân phận tội lỗi, bất toàn và cần đuợc thanh tẩy của mình. Vì thế, sau khi miệng luỡi ông được thanh tẩy, ông đã nhận ra việc Chúa muốn dùng miệng lưỡi của ông để loan báo Lời của Ngài; và ông đã mau mắn đáp lại trong sự tin tưởng và đầy quyết tâm: “Này con đây, xin hãy sai con”. (Is 6,8)

Trong bài đọc thứ hai, Thánh Phao-lô không trực tiếp kể lại cuộc hoán cải để trở thành tông đồ của Chúa qua kinh nghiệm gặp gỡ Đức Ki-tô trên đường Đa-mas để lùng bắt các kẻ tin vào Chúa; nhưng hôm nay, Phao-lô lại nhấn mạnh đến vai trò tông đồ của ông hoàn toàn phát sinh từ Chúa. Đó là điều ông đã nhận lãnh và giờ đây trao lại cho các tín hữu. Khi thi hành sứ mạng được trao ban, Phao-lô đã gặp nhiều trở ngại, bị khước từ, bắt bớ, bỏ rơi và giam cầm. Nhưng không vì thế mà ông bỏ cuộc; bởi vì ông nhận ra rằng tất cả đều tuỳ thuộc vào ơn của Chúa như tâm sự của Phao-lô: “Nhưng nay tôi là người thế nào, là nhờ ơn của Thiên Chúa, và ơn của Người không vô ích nơi tôi, nhưng tôi đã chịu khó nhọc nhiều hơn tất cả các Đấng: song không phải tôi, nhưng là ơn của Thiên Chúa ở với tôi”.

Bài Tin Mừng hôm nay thuật lại việc Đức Giê-su gọi và chọn các môn đệ đầu tiên trong bối cảnh mẻ cá kỳ diệu nơi bờ biển. Bắt đầu là sáng kiến của Đức Giê-su. Người đang giảng dậy trên bờ bỗng nhiên lại muốn ra khơi; có lẽ vì thấy dân chúng tuôn đến quá đông nên Người đã chọn một không gian rộng lớn hơn để mọi người đều có thể nghe được lời giảng dậy của Người. Nhưng việc ở trên thuyền cũng là một sự sắp xếp thật lý thú của Thánh Sử Lu-ca. Không ở trên thuyền làm sao bắt được cá. Phải chăng thuyền là hình ảnh của Hội Thánh!

Sau khi giảng cho dân chúng nghe xong, Người lập tức yêu cầu Si-mon chèo thuyền ra xa để thả luới bắt cá và kết quả là một mẻ luới lạ lùng! 

Có một chi tiết khá lý thú mà chúng ta nên lưu tâm.  Si-mon là người đánh cá chuyên nghiệp, dựa vào năm tháng đầy kinh nghiệm, Si-mon biết là muốn bắt được cá thì cần phải thả luới ban đêm nên đã thưa với Đức Giê-su: “Thưa Thầy, chúng con đã cực nhọc suốt đêm mà không được gì hết” Qua lời phân trần này, Si-mon có ý ám chỉ là cả đêm đã vất vả mà không bắt được con nào, thì trời sáng rồi thì làm sao bắt được cá đây! Nhưng với kết quả của mẻ cá hôm nay đã khiến Si-mon và những ai hay dựa vào kinh nghiệm và tài năng của bản thân phải xấu hổ. Một cách thật nhẹ nhàng, Đức Giê-su đã khiến các ông nhận ra lối suy nghĩ và kinh nghiệm của Phê-rô hôm nay chỉ làm trò cuời cho ông mà thôi. Tuy nhiên, một điều đáng quí nơi Phê-rô, đó chính là thái độ vâng lời của ông, nên ông đã thưa với Chúa “nhưng vì Lời Thầy phán, con sẽ thả lưới”; kết quả là một mẻ lưới kỳ diệu.

Đứng trước việc kỳ diệu vừa xẩy ra trước mắt các ông. Si-mon, nhanh nhẩu và mau mắn nhận ra thân phận của mình. Ông biết rằng dựa vào kinh nghiệm và sức riêng chỉ làm cho ông thấy mình tội lỗi, nên ông đã sụp lạy dưới chân Đức Giê-su và thưa: “Lạy Chúa, xin hãy tránh xa con, vì con là người tội lỗi”. Cả ông Giacôbê và Gioan cũng kinh ngạc như ông. 

Lại một lần nữa, Đức Giê-su làm cho Si-mon thấy điều ông đang nghĩ lại sai nữa. Mẻ luới lạ lùng đã xẩy ra ngay lúc Simon Phê-rô nghĩ mình là người có tội. Tội không cản trở ơn phúc. Đức Giê-su đã thực hiện việc kỳ diệu ngay trong thân phận bất toàn của ông và các môn đệ. Đây quả thật là Tin Mừng.

Thật vậy, như các kinh sư và các người thuộc nhóm Biệt phái khi xưa, chúng ta luống cuống khi tiếp xúc và cư xử với những ai có tội. Trong khi những người thuộc nhóm Biệt phái hay các kinh sư coi thường và cả chúng ta nữa, xếp tội nhân vào loại người không xứng đáng thì Chúa lại có thái độ khác. Người luôn tạo cơ hội cho họ bắt đầu lại. 

Thái độ của Đức Giê-su dành cho Si-mon Phê-rô trong bài Tin Mừng hôm nay cũng thế. Trong lúc Phê-sô đang bị mặc cảm tội lỗi dầy vò và dằn vặt khiến ông bất an và nhận ra mình thật bất xứng thì Chúa lại tìm cách lôi ông ta thoát khỏi những ý nghĩ đó. Người nói: “Đừng sợ! từ nay con sẽ là kẻ chinh phục người ta”.  Và các ông đã đưa thuyền vào bờ, từ bỏ mọi sự, nhất là những suy tính dựa trên ý mình, quên đi quá khứ tội lỗi, mà đi theo Người.

Làm sao có thể từ bỏ tất cả để đi theo Người? Đây là việc làm đòi hỏi nhiều quyết tâm và cần thời gian. Không dễ dàng gì để từ bỏ. Điều khó nhất là có thể chúng ta từ bỏ đuợc nhiều điều lệ thuộc của cuộc sống mà lại không từ bỏ được mình, từ bỏ cách suy nghĩ cho mình là trung tâm và ngoài mình ra thì chẳng có ai làm đuợc gì hết!

Ta vẫn là ta, dù có hăng say hay thành công đến đâu đi chăng nữa thì chúng ta muôn đời vẫn chỉ là môn đệ. Môn đệ không thể hơn chủ. Muốn sống, người môn đệ phải biết sống và nương tựa vào Chủ. Muốn đuợc như thế, cần tập sống từ bỏ và trở thành những kẻ nghèo nhất. Và với nếp sống nghèo thì việc tựa nương vào Chúa sẽ dễ dàng hơn. Thiên Chúa là nguồn năng lực duy nhất của người môn đệ. Hãy trông cậy, tin tưởng và phó thác hoàn toàn vào Đấng đã kêu mời ta. 

Qua trình thuật kêu gọi và làm cho Simon Phê-rô trở thành kẻ chài luới người hôm nay. Chúa cho chúng ta biết rằng Phê-rô đã được gọi ngay trong hoàn cảnh sống của riêng ông. Sau này Chúa sẽ ban thêm ơn cho ông. Nhưng ngay lúc này, Chúa dùng khả năng sẵn có của Phê-rô. Nghề của ông là nghề đánh cá chuyên nghiệp thì cá ông bắt lên sẽ là cá chết để nuôi sống bản thân; thì giờ đây Chúa mời gọi ông trở thành kẻ chài luới người. Phê-rô không còn bắt cá rồi để chết nữa nhưng sứ mạng của ông bây giờ là ra khơi, tìm chỗ sâu, thả luới, bắt cá rồi đưa vào đàn mà nuôi sống. 

Như vậy, Phụng vụ Lời Chúa hôm nay trao ban cho chúng ta một sứ điệp, đó là: Chúa gọi và chọn những người Chúa muốn. Mọi ơn gọi đều phát xuất từ tình thương của Người. Điều quan trọng, con người phải ý thức rằng: mình chẳng là gì trước mặt Chúa, nhưng lại được Chúa yêu thương và tuyển chọn. Phần còn lại, đó là sự đáp trả bằng cách đón nhận và làm giầu có tình thương của Thiên Chúa qua cuộc sống mình.
 
Thiết nghĩ, với ơn Chúa, chúng ta sẽ làm được tất cả. Hẳn anh chị em còn tin là những ai biết nương tựa vào Chúa thì Ngài sẽ chẳng bỏ rơi họ bao giờ. Vì thế, hãy sống nhờ Người, làm việc với Người và ở trong Người thì cuộc đời của chúng ta sẽ là mẻ cá lạ lùng của Thiên Chúa. Bởi vì, Chúa có thể không nhận lời mà ban cho chúng ta điều mà chúng ta nguyện xin. Nhưng Người luôn có mặt khi chúng ta cần đến Người. 

Lm Giuse Mai Văn Thịnh, DCCT