Monday, 22 October 2018

Gm John Spong Đầm Mình Trong Vũng Tội (Bài 9) Ly dị: không phải lúc nào cũng là chuyện sai quấy

Chương 4
Ly dị:
không phải lúc nào cũng là chuyện sai quấy  


Mối tương-quan giữa việc thống-trị và mức chịu đựng của người bị ép uổng, là mẫu mã cũng khá thường khiến hôn-nhân theo kiểu xưa/cũ vẫn tồn-tại ở xã-hội do nam-nhân làm chủ. Xưa nay, trên mọi mãnh-lực, đã biến mất thế quân-bình trụ cột của xã-hội, vốn dĩ góp phần vào việc phá đổ thể-chế hôn-nhân như xã-hội ưa từng diễn-giải. Quả thật, điều đó vẫn diễn-tiến liên-tục cả vào hôm nay, hệt như mức-độ ly-dị cứ thế lan tràn khắp nơi, và rồi dần dà đi vào tình-huống hết thuốc chữa.

Từ một khởi-đầu ít thấy rõ trải qua nhiều thế-kỷ, uy-thế khác biệt giữa phái-tính đã tăng nhanh theo mức-độ khó lường. Ở tầm-mức cách-biệt đến cả thập-niên, toàn-bộ xã-hội nay đã nhạy cảm hơn đối với giới-tính, ngoại trừ ngôn-ngữ của dân gian.               

Truyền-thống báo chí khi xưa thường nói nhiều về người lính cứu-hỏa và cả đến nhân-vật coi sóc hoặc sở-hữu các cơ-quan biệt-lập. Giáo-hội của Chúa, lại cũng qui về với dân con Đức Chúa, là Đấng tạo đặc-trưng chân-phương nơi thể-chế mẫu-hệ cũng như phụ-hệ.

Nhiều ngành/nghề mà 50 năm về trước không ai nghĩ rằng: họ có thể giao-phó cho “đàn bà” làm chủ, thì nay đã hoàn-toàn mở rộng cho phái nữ phụ-trách. Ngay đến hôn-nhân vốn đặt nặng cung-cách phụ-hệ cũng đã lui vào dĩ-vãng, để lại một xu-thế khó cưỡng lại.

Trước khi bàn về những phạm-vi có tác-dụng như ly-dị, có lẽ ta cũng nên để mắt nhìn về khía-cạnh nguyên-nhân và triệu-chứng diễn-biến theo trình-tự đổi thay. Đã hẳn, chỉ số ly-dị ở mức-độ cao tít cũng đã tượng-trưng cho thứ gì đó khá tích-cực chứ không tiêu-cực như trước, nếu đem so với đời sống con người thời nay.

Những năm tháng trải dài vào cuối thế kỷ thứ 19, việc phát-minh ra kính hiển-vi lại cũng cho phép người phàm mắt thịt (chí ít là, mắt và thịt đàn ông bao giờ cũng ở tư-thế “hơn hẳn”) để rồi, lần đầu tiên trong đời, ta có thể sử-dụng con mắt thể xác nhìn vào noãn-sào phụ-nữ cũng rất dễ. Đã từ lâu, người người đều biết đến sự hiện-hữu của noãn-sào trong cơ thể người nữ, nhưng chắc chắn chưa ai thấy được những thứ tương-tự, bằng mắt thịt. Thành thử, sự trùng-hợp giữa lý-thuyết và dữ-kiện là sự thật đầy kịch-tính đã diễn ra trong lịch-sử loài vốn tạo nhiều hệ-lụy đi xa hơn cả địa-hạt khoa-học.

Sự-kiện này cho thấy, duy chỉ một lần, là: phụ-nữ là đối-tác đồng-đều mọi mặt so với nam-nhân trong tiến-trình sản-sinh con người. Ngày nay, sự việc tương-tự đã trở thành chuyện thông thường ở huyện tuy cũ/xưa, nhưng nguồn-gốc mọi sự đã khiến nó trở-thành hiện-thực lại là sự việc tạo ngỡ ngàng thật không nhỏ.

Rõ ràng, từ những thứ và những sự tràn đầy tính thần-thoại, hiểm-hóc hoặc húy-kỵ như tập-quán dân-gian tiền-sử hoặc các nối-kết giữa việc ăn nằm xác thịt với hiện-tượng thụ thai là những thứ mà con người thời trước hiểu biết không được rõ cho lắm.

Tác giả Jean Auel, trong cuốn tiểu-thuyết do bà viết về “Sự sống con người thời đồ đá” (*1) đã cho rằng: sự khôn-ngoan của loài người vào thời ấy vẫn được hiểu theo cách kỳ lạ vốn  dĩ bảo rằng: “thần-khí” của nam-nhân từng bị nữ-giới bắt chộp để rồi buộc hai người phải chấp nhận có thai nhi trong bụng dạ người mẹ.

Thời-khắc chín tháng mười ngày, kể từ khi thụ thai/cưu mang cho đến khi sinh nở, đơn giản cũng hơi dài đối với đấng bậc phụ mẫu, khiến các vị hiểu thêm nguyên-nhân và hậu-quả xảy đến với cuộc sống của chính mình. Tất cả những gì người thời đó biết được, chỉ gồm mỗi việc là: phụ-nữ sinh em bé theo cách nào đó, vẫn là chuyện sẻ-san uy quyền lĩnh hội từ trái-đất-là-mẹ.

Thoạt vào lúc nam-nhân nắm quyền sinh-sát hết mọi sự, ai ai cũng thấy được sự việc này dấy lên từ bảy đến mười ngàn năm trước qua đó vai-trò người phụ-nữ là kẻ chấp-nhận thần-tính của trẻ bé nay giảm dần theo tầm nhận-định của dân đen ở mọi thời.

Nhiều xứ sở thuộc Địa Trung Hải, vào thời Đức Kitô vừa xuất-hiện, tầm nhìn của mọi người vốn dĩ chấp-nhận việc sản sinh lại đã bàn luận rằng: toàn bộ tiềm-năng của trẻ bé đã hiện-diện nơi tinh-trùng của nam-nhân. Đàn ông chính là người đã trồng cấy thai-nhi nơi cung lòng vô tính của người bạn đời của ông và đối tác của ông lại vẫn không gây trồng thêm thứ gì khác vào sự việc thiết-dựng mầm “gien” của trẻ bé, nhưng ông chỉ sử-dụng nó như một thứ lồng ấp thai-nhi là sản-phẩm của ông, mà thôi.

Ngôn-ngữ loài người từng phản-ảnh tầm nhìn không chính-xác về việc tiếp-thụ thai-nhi. Bởi, lâu nay ta vẫn qui vai-trò của người nữ trong việc cưu-mang trẻ bé như thể bảo: “Bà ta có em bé là do ông ấy cấy tạo, thôi”.

Tuy nhiên, nữ-giới lại cũng nghĩ là: mình có trách-nhiệm tạo nên giới tính cho trẻ bé; bởi thế nên người nữ nào không thể sinh con trai cho chồng, đều bị quở trách. Không sinh con trai cho chồng, điều này có nghĩa: nữ-tính của bà không “tiếp thụ” cho đủ và tình-trạng hiếm muộn đây có nghĩa: phụ nữ nào ở vào tình-trạng như thế đều bị coi như không là vật dụng để chứa đựng một cách chính-đáng.

Nhất-định là, lập-trường này mang thiên-kiến ngả về phía nam-giới. Và điều này, cho thấy: truyện kể của nhà Đạo mô-tả sự việc Hài Nhi Giêsu sinh ra từ cung lòng người mẹ còn trinh-tiết cũng chỉ là chuyện hoang-đường, thôi. Bởi, Đức Giêsu dù Ngài có muốn làm Đức Chúa Con hay sao đó, thì chỉ mỗi nam-giới mới bị rút khỏi tiến-trình sinh sản, thôi.

Sự việc này, không làm giảm-giá khẳng-định mà mọi Kitô-hữu thời tiên-khởi đều nghĩ: Đức Giêsu có nguồn-gốc thánh-thiêng giả như Thân-Mẫu Ngài là người phàm; bởi lẽ, Thân Mẫu Đức Giêsu chỉ là người cho mượn cung lòng để đón-nhận và dưỡng nuôi thai-nhi Giêsu, mà thôi.

Khi tiến-trình truyền mầm gien thuộc hai phái-tính được mọi người hiểu rõ, thì việc chọn lựa đối-tác cho nam-nhân đã trở-thành quyết-định có tầm quan-trọng rất lớn. Nam-giới không chỉ lập gia-đình vì tình-huống kinh-tế xã-hội đặc-biệt, nhưng các vị còn gia-nhập vào vũng lầy nhiễm-sắc-thể khả dĩ định-đoạt tiềm-năng cá-thể của trẻ bé.

Đó là lý-do cho thấy: tại sao chỉ mỗi việc nhìn thấy trứng bằng kính hiển-vi thôi, cũng đã là sự-kiện quan-trọng trong hành-trình kiến-tạo bình-đẳng cho cả nam lẫn nữ. Tình-trạng phụ-nữ có gia-đình không thể diễn-tiến tốt đẹp hơn, đến khi nào vai-trò của hai phái-tính được kiến-tạo đồng đều, trong sinh sản. 

Biến-chuyển quyền-lực nói ở trên, lâu nay cũng được ghi-nhận cả trong phụng-vụ nữa. Có một thời, nghi-thức hôn-phối trong Đạo đòi cô dâu phải thề sẽ yêu thương, trân trọng và vâng phục chồng mình suốt đời mình. Vâng phục, là đặc-trưng thích-đáng giữa chủ/nô, giữa bậc cha mẹ và con cái, đôi lúc còn là tương-quan giữa chủ nhà và thú nuôi làm cảnh.

Chắc chắn, đây không là quan-hệ hỗ-tương và đồng hạng. Quả thật, duy nhất chỉ xã-hội nào tin rằng phụ-nữ ở giai-cấp thấp hèn hơn nam-nhân mới đòi người nữ thề-nguyền vâng-phục đức ông chồng của mình, suốt một đời. Lời nguyền này, nay bị loại bỏ khỏi mọi nghi-thức hỏi/cưới, ít ra cũng trở-thành việc tùy chọn ở mỗi gia-đình, khởi từ đầu thế-kỷ thứ hai mươi cho đến nay.

Nhiều gợi nhớ tế-nhị cho thấy tình-trạng phụ-nữ thuộc giai cấp ở dưới khiến ta không thể xóa bỏ trạng-huống ấy. Mãi đến thập niên 1970s, trong Sách Kinh Chung qua đó cô dâu được yêu-cầu “sống chung thủy” với chồng, trong khi chú rể lại chỉ buộc phải “hứa” sống trung-thực, mà thôi.

Cao điểm của lễ cưới theo truyền-thống trong đó vị chủ-sự phụng-vụ công-nhận rằng việc phối-kết hoàn-tất, đã dõng dạc tuyên-bố: “Tôi long trọng tuyến bố anh/chị nay trở-thành vợ-chồng, kể từ đây.” Có thể nói, chú rể với tư-cách là nam-nhân cùng phái-tính với vị chủ-sự lễ, nên các hành-xử hoặc động-tác phụng-vụ giống như xưa, chẳng thay đổi quá-trình/lai-lịch chút nào hết.

Tuy nhiên, với nữ-phụ thì sự việc lại trở nên mới mẻ, như sự thể cho thấy: người vợ, dựa vào cơ-chế luật-pháp đính kèm được dùng để kiểm soát cá-nhân bà mà thôi. Chính vì lý-do đó, phụng vụ mới đã khiến đôi bên hạ quyết-tâm theo cách đồng đều, để rồi cả hai bên  nay tuyên-bố những câu đại để bảo rằng: “Đây là lời thề long trọng của tôi” và khi đó vị chủ sự mới tuyên bố hai bên nam/nữ đã thành vợ thành chồng với nhau.

Tuy nhiên, thay đổi này cũng chỉ là đổi thay hệt như đổi thứ mỹ-phẩm bên ngoài mà thôi. Bởi lẽ, biểu-trưng cuối cùng này cho thấy vai-trò người nữ đã và đang xuống giá cả trong hôn-nhân vẫn tồn-tại qua khuôn khổ của câu nói chính-thức của vị chủ-sự, hỏi rằng: “Ai cho phép chị được lấy anh này làm chồng vậy?”

Thông thường, người cho phép nói ở đây là cha đẻ của cô dâu, tức: người dắt tay cô dâu xuống lòng nhà thờ trả lời: “Người ấy là tôi đây.” Và như thế có nghĩa: người đàn ông này trao cô gái con đẻ của mình cho một người đàn ông khác, thôi. Nói thế tức bảo rằng: người ta không thể cho đi những gì mình không có. Điều này, lại cũng ám chỉ bảo rằng: cô dâu lâu nay là vật sở-hữu của người cha đẻ ra cô. Thế nên, cô có thể bị cho đi hoặc đôi khi còn được bán với giá nào đó làm của hồi-môn cho một người đàn ông nào khác.

Và như thế, sẽ có nhiều điều tế-nhị lại cũng làm nổi bật nghi-tiết phụng-tự xưa nay vẫn dần dà đổi thay. Và cũng vì thế, nên cha ruột đẻ ra cô cũng muốn phân-bua đôi điều, mà bảo rằng: “Điều đó, do bởi mẹ cháu và tôi định-đoạt”. Và có lúc, cả ông bố lẫn bà mẹ đều lên tiếng bảo: “Chuyện đó do bọn tôi mà thành.”

Sách Kinh Chung ấn hành năm 1979 có chỉnh-sửa từ-vựng “cho”, và thay vào đó bằng động-từ “Đem ra trình diện”; và Sách Kinh này còn đề-nghị chú rể cùng với cô dâu, đôi trẻ phải ra mắt hai họ, nữa. Tuy thế, nghi-thức phụng-vụ lại không bao gộp câu hỏi bảo rằng: “Ai cho phép chú rể lấy cô dâu này thế?” Bởi lẽ, làm thế như thể muốn thách-thức Phụng-vụ Hôn-nhân về tính-cách ngả về phía nam-nhân; thế nên, Giáo hội vẫn cứ để mọi người tùy nghi thực-hiện.

Lịch-sử lại cũng cho biết: theo cách cởi mở hơn thời trước, phụ-nữ thường không có uy hoặc phương-tiện kinh-tế, chính-trị cũng như xã-hội để thực-hiện mọi việc. Thành thử, các bà các cô cần phải dựa vào hôn-nhân làm phương tiện là để tạo cho mình sự an-toàn trong cuộc sống.

Xem thế thì, phụ-nữ chính là người bị giam hãm rất nặng, chẳng cần biết tương-quan vợ chồng sống với nhau có khiến cho đôi bên được sảng-khoái/mãn nguyện hoặc miễn-cưỡng, bởi ly-dị thường là biện-pháp không mấy tốt đẹp đối với phụ-nữ.  Và, tòa án hôn-nhân thời nào cũng đều do nam-nhân kiểm soát. Nữ chánh-án, là sự-kiện chỉ mới xảy đến vào thế kỷ thứ 20, thôi. Luật sư cũng như bồi-thẩm-đoàn, chỉ là nhân-vật phụ mà thôi.

Các trường-hợp đưa dẫn hai bên đến tòa-án ly dị, hoặc đi vào hệ-thống mất quân-bằng về kinh-tế nền-tảng được thực-hiện qua tiền cấp-dưỡng con trẻ, dù đôi lúc cũng không là việc cần thiết gặp trường-hợp nữ-phụ là người mẹ bị qui trách mọi chuyện. Và khi ấy, phụ-nữ ly-dị chồng phải sống bằng tiền cấp-dưỡng xuất từ tiền túi của người phối-ngẫu đã cách-ly, do tòa định. Thành thử, nếu tính chuyện ly-dị, người phụ-nữ hết bị giam-cầm rồi lại bị giam-hãm, thôi.

Hơn thế nữa, tòa hoà-giải sẽ trở-thành bất-lực và thiếu hiệu-năng trong việc áp-đặt ly-dị; và nữ-phụ ly-dị cứ phải sống trong tình-trạng bấp-bênh liên-tục với hiện-trạng túng-thiếu, vô-vọng.

Trong thủ-tục ly-hôn, tài-sản ít khi được chuyển từ chồng sang vợ, vì phụ-nữ được xem là người không có khả năng đầu tư tương-xứng. Thế nên, nếu làm như thế sẽ bị xem như không thích hợp.

Trong nhiều vụ ly-hôn, bản ly-hôn có viết xuống là: tiền trợ cấp sẽ bị ngưng một khi tái-giá. Điều này có ý bảo rằng: khi một nam-nhân nào đảm-nhận trách-nhiệm kinh-tế cho nữ-phụ đã ly-dị, thì khi ấy sẽ được coi là có đóng góp cho kinh-tế cho chị đổi lại việc được hưởng ân-huệ xác thịt; và khi ấy, trách-nhiệm của người chồng cũ mới chấm-dứt. 

Trong điều-kiện như thế, phụ nữ thường cũng tránh né ly-dị và người nữ-phụ phải cam chịu những hành-vi bạo-hành, phải chịu những cú tát đánh vào phẩm giá của chị do sự bất trung của người chồng đôi khi trắng trợn. Và, cứ thế tích-tụ lên mình chị, nhưng vì vấn-đề sống còn về kinh tế buộc chị phải ở lại với hôn-nhân đầy áp-bức.

Rất ít cơ hội tìm việc làm chờ người phụ-nữ không chồng ngoài những việc trong nhà, việc khó nhọc đổ mồ hôi hoặc làm gái thuê bao/mại dâm nên đôi khi không có cách nào khác hơn là ở lại với hôn nhân tàn-nhẫn, hung-bạo.

Bên đòi ly dị, dù ở trường-hợp nào đi nữa thường vẫn là nam-nhân. Thi thoảng, gia-đình người nữ-phụ ở tư-thế tài-chánh và địa vị nào đó cho phép chị dám đòi ly dị. Cho dẫu là như thế, ngay cả trường-hợp chị thừa hưởng khoản kế-thừa của gia đình mình đi nữa, vào thời-điểm của hôn-nhân vẫn luôn bị đặt dưới sự kiểm-soát của người chồng.

Chậm mà chắc, hồi cuối thế-kỷ thứ 20, tình-trạng độc-lập kinh-tế của nữ-giới cứ ngày một dâng cao trong khi đó chủ-trương độc-tài/toàn-trị của nam-nhân cũng dần dà giảm sút. Thoạt khi thế chiến thứ hai lôi kéo đám đàn ông/con trai đi vào cuộc chiến, thì nữ-giới lại vui hưởng tình-trạng gia-tăng quyền-lực kinh-tế.

Từ đó, ai cũng thấy là: sinh-hoạt lao-động bên ngoài xã-hội tuy không thuyên-giảm nhưng vẫn trở-thành hoạt-động yêu nước do chị em phụ-nữ đáp-ứng lời kêu gọi chấp-nhận làm việc nặng, tức: dám đảm-nhận những việc trước đây chỉ dành cho nam-giới, mà thôi. Và, truyền-thông phương Tây đã nhanh chóng quảng-bá cũng như hợp-thức-hóa tình-trạng có ‘một không hai’ này khiến phụ-nữ được ca-tụng là “Bông Hồng đẹp nay làm thợ tán đinh”.

Cả đến quân-lực, nay cũng bắt đầu tuyển-mộ lính-chiến phụ-nữ tham-gia Thế Chiến Thứ Hai nữa. Phụ nữ khi ấy, thực-hiện công-việc của thư-ký và bảo-quản hàng hóa vốn “xuất xưởng” nhiều binh-sĩ và thuỷ-thủ, một công-việc xưa nay do nam-nhân phục-vụ trong địa-hạt chiến-tranh.

Không ai lại nghĩ: một quân-đoàn gồm toàn phụ-nữ như thế, lại trở-thành cố-định hoặc có khi sản-xuất ra tướng tá, đề đốc và thuyền-trưởng, nhưng nay đã thành hiện-thực. Cũng có lúc, kỳ-vọng của nam-nhân là khi chiến-tranh chấm-dứt và mọi sự trở lại bình thường, thì phụ-nữ trở lại gia đình, về với tổ ấm thân thương, vui lòng giao lại các trọng-trách như thế cho nam-nhân. Rất ít người nghĩ là hương-vị từ quyền-uy kinh-tế sẽ tạo cho phụ-nữ lòng ước-ao sống biệt-lập                    

Sau thế chiến thứ hai, ai nấy vội vã quay về trường lớp để tiếp-tục học hành. Đấy kìa, số nam-nhân trẻ và các cựu-chiến-binh vừa mới trở về từ chiến-trường cũng tìm đường nới rộng vòng đai chân trời của họ, bằng cách cố học cao hơn nữa. Ngay như phụ-nữ ai muốn có cơ-hội học-tập cũng không còn bị khước-từ như trước. Các đại-học ở tiểu-bang có ý ngăn-chặn phụ-nữ không cho nhập-học đều bị sinh-viên đâm đơn kiện tụng. Các trường trung-học từng kỳ thị nữ-giới cũng giảm-sút số lượng học-sinh một cách đáng kể.

Cuối cùng thì, các trường tư trước đây chỉ dành cho nữ-sinh thôi nay đã bắt đầu chịu nhận nam-sinh để trở-thành tư-thục hỗn-hợp nam/nữ. Ngày nay, cả đến đồn lũy khoa-bảng có thời từng nổi danh qua chuyện bao gồm phần lớn là nam-sinh, nay cũng có tỷ-lệ nữ-sinh cao hơn trước. Cùng với dấu-hiệu kỳ thị giới-tính như câu lạc-bộ ăn uống chuyên phân-chia giới-tính, cuối cùng rồi cũng thấy nữ-sinh tràn ngập các trường chuyên-nghiệp kỹ-thuật, thương-mại, y-khoa và luật-khoa nữa.

Nữ-giới không còn bị hạn-chế chỉ mỗi làm chân thư ký, phụ tài-chánh, y-tá, chỉ lo mỗi chuyện vệ-sinh phòng ốc, hoặc phụ-tá luật-sư, thôi. Cơn ‘sóng thần’ bình-quyền đã bắt đầu nổi như cồn và chẳng thứ gì khiến mọi sự quay trở về vết cũ cả. Ngày nay, phụ-nữ đã đảm-nhiệm vai-trò chủ-tịch hoặc Giám-đốc ngân-hàng dẫy đầy khắp nơi.

Phụ-nữ, nay cũng trở-thành bộ-trưởng tư-pháp, luật-sư đại-diện cho cả nguyên-đơn lẫn bị-đơn, khoa-học-gia, phi-hành-gia, và cả đến phẫu-thuật-gia, giáo-sư y-khoa và tăng-lữ nữa. Nói cách khác, ngày nay phụ-nữ có mặt ở khắp nơi, cả những địa-hạt mang tính quyết-định trong xã-hội người.

Ngày nay, mọi người còn định ra nhiều từ-vựng không mang giới-tính để mô-tả thành-viên cơ-quan hoặc tổ-chức mới nổi trong một thế-giới tân-tạo. Họ được gọi bằng tên rất mới như: “yuppies (tức: chuyên-gia trẻ chuyển-động đang vươn cao), “muppies (tức: chuyên-gia trung-niên đang chuyển-động), và các “dinks (tức: những người có lợi tức gấp đôi, lại không con/cháu).

Với phụ-nữ, việc bắt buộc phải phụ-thuộc kinh-tế như giai-cấp thấp nay đã chấm-dứt. Ngay chuyện ‘cho không’ hoặc phát chẩn cũng dần dà biến-dạng, và việc phân-chia tài-sản đã được thay vào đó. Xu-hướng thông-dụng hiện giờ, là con người ngày nay, cả nam lẫn nữ, có cơ-hội đồng-đều trong cuộc sống, thế nên vốn liếng khi xưa tích-lũy nay ăn đồng chia đều.

Tuy nhiên, trong nhiều trường-hợp, giả-định này cũng không chính-xác cho lắm. Phụ-nữ có con nhưng không sống với chồng, đang trở-thành đại đa-số trong xã-hội.

Việc đôi bên phụ-thuộc nhau, là yếu-tố mạnh của hôn-nhân khi hai bên có cơ-hội đồng đều trong giáo-dục, trong việc kiếm kế sinh-nhai và có chỗ đứng ngang hàng ở xã-hội, rồi từ đó trở-thành những người có lai-lịch khác với thời-đại, trong đó nam-nhân luôn làm chủ mọi sự. Hôn-nhân, nay trở thành quan-hệ tương-tác rất đồng đều. Điều này tạo ảnh-hình mới vốn tạo ảnh-hưởng lên mọi khía-cạnh cuộc sống thông-thường của ta.

Đối-tác khác-biệt về giới-tính cùng đến với nhau để nhận ra nhu-cầu không chỉ một người nhưng của cả hai bên. Phụ-nữ, nay được coi như người có nhu-cầu, ước-vọng và xu-thế vui-hưởng tình-dục ít/nhiều hệt như nam-giới. Điều này không phải ai cũng thấy được ở thế-kỷ trước, chí ít là khi các cô dâu nay không phải người nào cũng được mẫu-thân giáo-dục như bổn-phận cần-thiết về dục-tính.

Khi xưa, người ta thường quay về với lời khuyên cổ-điển của Nữ-hoàng Victoria từng nhắn-nhủ mọi người trước ngày cưới, rằng: “Hãy nhắm mắt lại và nghĩ về nước Anh là xong”.

Trong chuyện ăn nằm xác thịt, đôi bên đều sướng vui, tức: niềm khoái-cảm mang nặng sắc-thái hỗ-tương, nay được ca-tụng nhiều trong các sách viết về dục-tình như mục-đích chung-cuộc, còn gọi là “chẳng đặng đừng”, tức: nếu không đạt thì đừng làm. Từ đó, mọi người mới kỳ-vọng sẻ-san mẫu-mực hành-xử đồng-đều xua-đẩy thứ trật-tự nam-giới ra khỏi mọi kỳ-vọng mà lâu nay mọi người vẫn chú-tâm.  

                    

                                                                                                            (còn tiếp)


Gm John Shelby Spong biên soạn.
Mai Tá lược dịch.
                   






NỖI XÓT XA CỦA KIẾP ĐỌA ĐẦY



"Thương dân nghèo ruộng hoang cỏ cháy. 
Thấy nỗi xót xa của kiếp đoạ đầy…"

(Trích lời nhạc phẩm “Anh đi chiến dịch” của Phạm Đình Chương)

Ở Việt Nam lại mới có thêm một lãnh đạo cấp cao qua đời, ông được lịch sử ghi lại với những lời nói và những quyết định sắt máu về số phận của Miền Nam Việt Nam và hệ lụy đến cả đất nước chưa biết đến bao giờ mới hết! Chiến Dịch X.3 của ông đúng là một chiến dịch long trời lở đất, toàn bộ nền kinh tế tự do của Miền Nam sụp đổ, hàng ngàn doanh nghiệp lớn nhỏ làm nền tảng một thị trường kinh tế nhanh nhậy, tiến bộ, chỉ trong vòng vài ngày bị phá tan tành, hàng trăm ngàn người trong tích tắc như một cơn mơ, tỉnh lại chơ vơ giữa rừng núi bạt ngàn, là nguyên nhân cho hàng ngàn cánh rừng từ đó đã trở thành nương rẫy.


Ngày ấy là sinh viên, nhưng tôi không bị buộc tham gia Chiến Dịch X.3, thật ra lúc đó chỉ biết có lệnh kêu gọi tập trung chứ không biết chuyện gì, không buồn tập trung vì trong lòng ngán ngẩm chỉ muốn bỏ học. Bạn tôi về kể lại cái đêm tập trung ở sân vận động Cộng Hòa (không lâu sau đó bị đổi tên là Thống Nhất), hàng hàng lớp lớp sinh viên được bơm vào đầu tư tưởng căm thù bọn tư sản, được rèn ý chí quyết tâm quét sạch, bắt sạch, không khoan nhượng. 


Bạn tôi bị tổn thương tâm lý nặng vì những hình ảnh dã man tàn bạo mà đội quân Chiến Dịch X.3 đối xử với các gia đinh doanh nghiệp, những cuộc tự vẫn ngay trước mắt bạn, những tiếng thét gào đau xót của những người bỗng dưng bị tước đoạt sạch của cải, những ánh mắt đờ đẫn vô hồn nhìn tài sản bị cướp đi, những thân xác rã rời bị quăng lên xe tải đi về một miền vô định… Vài năm sau, hàng ngàn ngôi mộ đã mọc lên nơi vùng hoang dã, hàng trăm ngàn người quặt quẹo về sống lây lất ở thành phố, căng lều ở ngay trước ngôi nhà của mình, thân mang theo bệnh tật... 


Sau này người bạn ấy không thể tiếp tục đến trường, mất phương hướng, hoảng loạn kéo dài… Một buổi sáng không lâu sau chiến Dịch X.3, tôi đang làm việc trong một công ty có trụ sở ở khu cư xá Thanh Đa, người bảo vệ báo cho tôi biết có khách đến tìm, tôi và bạn ấy chỉ gặp nhau mấy phút, hai đứa đứng ở lề đường trước chợ Thanh Đa, tôi đã không quên những lời sau cùng của bạn nói với tôi: “Tao không thể ở được nữa, tao đi, cầu nguyện cho tao." Rồi bạn ấy gầy gò cúi mình trên chiếc xe đạp khung ngang màu mỡ gà đạp đi. Từ đó không có một tin nào về bạn nữa kể từ khi bạn xuống tàu ra khơi! Bạn đã làm mồi cho biển cả. Gần 40 năm rồi tôi mất người bạn thân nhất đời, thân như anh em ruột thịt.


Trong những chuyến công tác ngược xuôi qua nhiều miền, tôi chứng kiến hàng trăm ngàn cảnh đau khổ của người dân nghèo Miền Nam trên các chuyến xe công cộng. Người ta kiểm soát chặt chẽ không để một hạt gạo từ địa phương này lọt sang địa phương kia. Miền Nam ngày ấy trù phú nhưng do bị cô lập từng địa phương một nên nạn đói khổ lan tràn khắp nước, đặc biệt vùng thành thị. 


Có thời gian tôi làm việc ở tỉnh Trà Vinh, huyện Cầu Ngang, lúa đó Sàigòn đói kinh khủng, trong khi Trà Vinh thịt heo, tôm cá,  gạo thóc dư thừa. Thế là trên đường về Sàigòn tôi mang theo một bình 2 lít mỡ heo, người nhân viên kiểm soát trạm Phú Lâm tay đeo băng đỏ phát hiện ra số mỡ được kín đáo đựng trong chiếc bình dầu nhớt cũ của tôi, anh ta lạnh lùng tịch thu một cách dứt khoát, gương mặt ấy tôi không thể quên được vì hắn chính là người ngồi chung lớp với tôi năm cũ. Những lần sau tôi đi trót lọt vì tôi xin quá giang các chuyến xe tải của công ty, nằm trong thùng xe lủng củng máy trộn bê tông, dàn giáo, cuốc xẻng, vỏ bao xi măng, lẫn trong đó có cả những bình mỡ heo của anh em chúng tôi. 


Giới trí thức Miền Nam chúng tôi gạt nước mắt sống hèn kém vì cái bụng của mình và của người thân mình như thế đó.


Những chuyến xe từ Đà Lạt theo quốc lộ 20 về thành phố, trạm dừng là Bảo Lộc, bao giờ cũng phải có một đêm nằm ở bến xe Bảo Lộc xếp hàng từ khuya chờ mua vé chính thức với cái thẻ ưu tiên “cán bộ kỹ thuật”, xe ra khỏi khúc cua vào quốc lộ chạy ngang mặt trường “Nông Lâm Súc” cũ, sẽ là một trận mưa các bao trà khô được quăng ào ào lên trên người hành khách, và tiếp theo là đội quân buôn trà y như du kích sẽ vội vã nhảy lên theo. Để có thể thoát được đội kiểm soát và được nhà xe chấp nhận chở, họ đã phải tính toán mặc cả rất chi ly sát xao, những cô gái trẻ, có cả những bà vợ của sĩ quan đi tù đã phải “hối lộ thân xác” với cánh tài xế hoặc lơ xe để mưu sinh qua buổi ngặt nghèo.


Hàng trăm điều đau đớn khốn khổ đã đổ ập xuống đất nước này, không những phải trả giá bằng bao nhiêu sinh mạng, nhưng điều tệ hại là phá tan nền kinh tế và khiến cà đất nước kiệt quệ cho đến ngày nay, đẩy một quốc gia thịnh vượng vào bậc nhất Đông Nam Á xuống hàng chót, hủy hoại nền đạo đức truyền thống của dân tộc, sản sinh ra một lối sống vô cảm, giành giật, hưởng thụ và tàn ác. 


Người ta tổ chức quốc táng và buộc mọi người phải tiếc thương người cái con gây ra đại họa ấy! Giải khăn tang vắt ngang trên “…dân nghèo ruộng hoang cỏ cháy. Thấy nỗi xót xa của kiếp đoạ đầy…" đau thương !


Lm. VĨNH SANG, DCCT tháng 10.2018