Thursday, 26 May 2016

Gs Geza Vermes: Khuôn Trăng Diện Mạo Ngài Thay Đổi: Chương 6: Đức Giêsu của Tin Mừng Nhất Lãm (bài 40)



Chương 6
Đức Giêsu của Tin Mừng Nhất Lãm,
Đấng Chữa lành, Bậc Thày Dạy đầy lôi cuốn,
Đấng tạo hưng-phấn rất Khải-huyền.
(Bài 40)


Không giống các ảnh/hình thần-học về Đức Kitô ở luận-văn cùng sách-vở do ông Gioan Tin Mừng, ông Phaolô và những người vinh-danh Ngài từng viết lên; và cũng không giống kiểu trình-bày đầy xác-phàm mà sách Công-Vụ từng làm, chân-dung Đức Giêsu ở Tin Mừng Nhất Lãm lại đã mang hình-thức một mảng tiểu-sử, đầy tình-tiết.

Phải công-nhận, là: tác-giả Máccô, Mátthêu và Luca vốn dĩ không là sử-gia chuyên-nghiệp nhưng vẫn mải mê truy-tầm tính khách-quan định-đoạt của lịch-sử. Dù sao thì, các ngài cũng chỉ hành-xử như người kể truyện cuộc đời và tư-tưởng cũng như sinh-hoạt, lời giảng dạy và cái chết của Đấng Thánh Hiền từng sống vào nhiều thập-niên truớc đó khi các ngài ngồi xuống ghi lại truyền-thống rất tượng-hình về Đức Chúa và các tình-huống diễn ra xung quanh Ngài.

Cuối cùng thì, qua cung-cách gọn gang/súc-tích, các tác-giả Tin Mừng Nhất Lãm đã tỏ-bày niềm tín-thác của mình vào Đức Giêsu Phục-Sinh quang-vinh. Tuy nhiên, thay vì thừa-nhận các tác-giả này là người kể truyện nhuần-nhuyễn, rất ăn khách, thì phần lớn chuyên-gia Tân-Ước lại coi các vị này như đấng-bậc chuyển-tải thông-điệp đạo-lý đã được cải-dạng thành lịch-sử.

Các chuyên-gia nhà ta vốn chịu nhiều ảnh-hưởng từ lập-trường của học-giả nổi tiếng người Đức là Rudolf Bultmann (1884-1976), tức: một người từng viết rất nhiều sách vào năm 1926, đã có nhận-định sau đây: “Thật ra, ta chẳng biết gì về cuộc đời và bản-vị Đức Giêsu cả. Bởi nguồn văn Kitô-giáo tức Phúc Âm, không quan-tâm nhiều về những thứ ấy.” (Xem Jesus and the Word, tr. 14).

Theo thiển ý, tầm nhìn đây gợi-hứng từ sự miễn-cưỡng của tín-hữu có học-thức chỉ cốt giáp mặt Đức Giêsu cách thực-tế, hơn là nhìn vào bản-chất đích-thực của Tin Mừng. Giả như tác-giả Tin Mừng Nhất Lãm có ý-định viết tường-trình, như học-giả Bultmann và các vị cùng ý-hướng với ông từng nhận-định, sẽ không là cuộc sống, ý-tưởng và niềm khát-vọng của Đức Giêsu, cho bằng quyết-tâm đặt nặng đạo-lý phù-hợp với nhu-cầu thiêng-liêng và lề-lối tổ-chức của Giáo-hội vào thời đầu. Đúng hơn, quí vị này dựa nhiều vào hình-thức văn-chương xứng-hợp với thư-từ, bài viết hoặc lời giảng này khác, ngõ hầu đưa ra mảng tiểu-sử nhiều cải-dạng.



Nguồn văn-chương cổ
có từ buổi trước

Khởi từ giả-thuyết khẳng-định rằng: ta đạt đến Đức Giêsu của lịch-sử con người cũng nhờ có 3 Tin Mừng đầu đời, mà thôi. Vậy, hãy thử để mắt nhìn về nguồn-gốc của bản-văn mình từng có, để xem sao.

Theo truyền-thống, thì ba Tin Mừng đầu đời, lâu nay được gán-ghép cho ba tác-giả: Mátthêu, Máccô và Luca là các vị từng đặt bút viết xuống. Nhưng, khi ai đó ra trước cộng-đoàn niềm-tin mà lên tiếng đọc những lời như: “Đọc Tin Mừng theo thánh Mátthêu, Máccô” hoặc đấng bậc nào đó, thì tên gọi của các vị dù được nêu lên như thế, đã chắc gì các vị đích-thị là người đầu-tiên đặt bút viết, mà chỉ là danh-tánh của ai đó do Giáo-hội thời sau gọi như thế, mà thôi chăng!

Hai văn bản cổ-sử từng được qui cho đấng bậc mang tên Mátthêu và Máccô làm tác-giả, thì hai Tin Mừng này, khởi từ thế-kỷ thứ tư do ông Eusêbiô ở Cêsarê đưa ra, trong cuốn “Lịch-sử Giáo-hội” ở đoạn 3 câu 39, và 16, khi đó ông Eusêbiô có trích lời của ngài Papias, là Giám-mục thành Hiêrapolis vào thế-kỷ thứ 2, sau Công nguyên.

Theo Giám-mục Papias, thì: “Tác-giả Mátthêu từng góp nhặt các “Câu nói” (tức: “Logia”) từ tiếng Do-thái cổ (tức: tiếng Aram) mà thành; và mọi người lại tìm cách thông-dịch các câu ấy như ông này từng làm.”

Thêm vào đó, có người còn hỏi: không biết các “Câu Logia” này có dẫn về Tin Mừng Mátthêu của ta hay không? Tức là: có chứa-đựng nhiều thứ hơn, hay chỉ mỗi “Câu nói” như thế, thôi? Và, lại có thêm vấn-nạn bảo rằng: chẳng biết tác-giả Mátthêu đây, có là tông-đồ của Đức Giêsu? Tức, có nghĩa: vấn-đề then-chốt có đáng để ta hỏi như thế không? Dù sao thì, Giám-mục Papias đã cho thấy ngay từ đầu, là: lâu nay vẫn có nối-kết Tin Mừng đầu đời vào với ai đó cùng mang tên Mátthêu, hoặc chỉ một vài phân-đoạn của Tin Mừng ấy mà thôi, không?

Cũng vị Giám-mục Papias này, từng dẫn-nhập tác-giả Máccô như “thông-dịch-viên phụ-giúp ông Phêrô rất nhiều việc”, tức có nghĩa: ông Máccô là người từng viết xuống nhiều thứ theo cách rất cẩn-thận, nhưng ông lại không giữ thứ-tự trước/sau về tất cả những gì ông nhớ như thể Lời Đức Giêsu từng nói hoặc từng làm.”

Còn ông Máccô đây, có thể cũng là một Gioan-Máccô được tác-giả sách Công-vụ Tông-đồ nhắc đến mấy lần. Ông này, lúc đầu tháp-tùng các tông-đồ một thời-gian, sau đó đã bỏ cuộc và rồi cuối cùng lại cũng tái-tục gia-nhập đội-hình của ông Phaolô, như sách Công-vụ còn ghi chép:

*Ở đoạn 12 câu 25, những lời sau đây:

“Còn ông Banaba và ông Saolô, sau khi đã chu-toàn công việc phục-vụ tại Giêrusalem thì trở về, đem theo ông Gioan, cũng gọi là Máccô.”          

*Và, ở đoạn 13 câu 5 lại thấy nói:

“Đến Salamin, hai ông loan-báo lời Thiên-Chúa trong các hội-đường Do-thái-giáo. Có ông Gioan giúp hai ông.”

Và rồi, câu 13 lại cũng viết như sau:

“Từ Paphô, ông Phaolô và các bạn đồng-hành vượt biển đến Pécghê miền Pamphylia. Nhưng ông Gioan bỏ các ông mà về Giêrusalem.”

*Và cuối cùng, ở thư Philêmôn đoạn 24 cũng thấy ông Phaolô nói:

“Cùng với các cộng-sự-viên của tôi là Máccô, Aristacô, Đêma và Luca.”

*Và, trong thư thứ hai gửi Timôthê, ông Phaolô cũng viết đôi điều ở đoạn 4 câu 11, rằng:

“Chỉ còn một mình anh Luca ở với tôi. Anh hãy đem anh Máccô đi với anh, vì anh ấy rất hữu-ích cho công việc phục-vụ của tôi.”

Ngoài ra, tác-giả ngụy-thư Phêrô, cũng đã ám-chỉ ở bức thứ nhất, đường giây nối-kết ông ta với đấng bậc được gọi “con tôi là Máccô”, như đã ghi ở thư thứ nhất đoạn 5 câu 13 sau đây:

“Hội Thánh ở Babylon, cũng được chọn như anh chị em và Máccô, con tôi, gửi lời chào anh chị em.” 

Giám-mục Papias lại nói rõ rằng: ông Máccô chưa từng biết hoặc cũng chẳng bao giờ theo chân Đức Giêsu, hết. Và như thế, có nghĩa: ông ta không là chứng-nhân thấy tận mắt các sự-kiện xảy ra ở Tin Mừng, mà chỉ là thứ “loa/kèn” phát-ngôn của ông Phêrô, mà thôi.

Tin Mừng thứ Ba, ban đầu được gán cho ông Luca là tác-giả, như ta đã đề-cập ở trang trước, như thế: có thể ông này là một trong các cộng-sự-viên đồng-hành với ông Phaolô, được ghi trong danh-sách liệt-kê ở Tân-Ước với các bài viết vào cuối thế-kỷ thứ 2, như danh-mục chính được Muratoria đưa vào Tân Ước.

Thêm nữa, ông cũng được coi là người đã có nối-kết với tác-giả sách Công-vụ, tức: người có tác-quyền. Nói vắn tắt, ta không thể coi đây là chuyện “cho không/biếu không” để bảo rằng: không phải tác-giả Tin Mừng Nhất Lãm nào, cũng đuợc coi là người từng giao-kết/gần gũi với Đức Giêsu, mà cả ba vị nói đây đều thuộc về thời các tông-đồ, mãi về sau.

Sở dĩ ba Tin Mừng đầu được gọi là Tin Mừng Nhất Lãm, là bởi các ngài phản-ánh cùng một lập-trường và nhất-thiết kể cùng một cốt-truyện. Nói chung thì, ta có thể đặt cả ba vị vào ba cột song song vào Tin Mừng Nhất Lãm. Mối quan-hệ qua/lại từ tác-giả Máccô đến Mátthêu và Luca; và ngược lại, từ Luca đến Mátthêu, điều-gọi-là “vấn-đề của Nhất Lãm”, lâu nay là chủ-đề của nhiều cuộc tranh-luận kéo dài suốt hơn hai thế-kỷ, nhưng vẫn không đi đến kết-quả nào khả-quan được công-luận đồng ý.

Mục-đích của ta, ở đây, không cần phải ghi chi-tiết xem ai thuận/ai chống lại giả-thuyết có được từ thời-buổi đó đến hôm nay. Theo thiển ý, cũng là việc hữu-ích để ta đưa ra một số yếu-tố và nhấn mạnh xem giả-thuyết nào được hỗ-trợ rộng-rãi hơn.

Dù cấu-trúc xây-dựng nội-dung có giống nhau, nhưng ba Tin Mừng này lại khác nhau rất nhiều điều, nếu ta theo-dõi chiều dài truyện kể ở trong đó. Chẳng hạn như: Tin Mừng Máccô là văn-bản ngắn-ngủi nhất chỉ dài có mỗi 18 trang, theo bản dịch tiếng Anh có chỉnh-sửa. Xét độ dài của trang viết, nếu so Tin Mừng Máccô với Tin Mừng Mátthêu dài đến 29 trang và Tin Mừng Luca dài những 31 trang, ta sẽ nhận ra được sự khác-biệt này.

Tính tỷ-lệ, thì Tin Mừng Mátthêu dài hơn Tin Mừng Máccô đến 60% và Tin Mừng Luca dài hơn Tin Mừng Máccô đến 70%. Hầu hết phần chính Tin Mừng Máccô có thể thấy ở cả hai Tin Mừng kia. Và, hầu hết các chi-tiết bổ-sung ở Tin Mừng Mátthêu và Luca đại-khái cũng giống nhau, nhưng lại không theo cùng một thứ-tự. Chi-tiết tương-tự được thêm vào Tin Mừng Luca và Mátthêu mang tính đạo-lý lại chỉ đề-cập đến bản-chất, mà thôi.

Nói cách khác, các đoạn văn đây đều thể-hiện trọn vẹn lời khuyên-răn/dẫn dụ được gán cho Đức Giêsu nêu ra, chỉ thấy rải rác đây đó ở Tin Mừng Máccô, mà thôi.

Các chi-tiết dễ nhận thấy, từng đưa các chuyên-gia Kinh-thánh đi vào thế “thủ” chỉ mỗi phỏng-đoán rằng: Tin Mừng Máccô là văn-bản độc-lập. Trong khi đó, ở Tin Mừng Mátthêu và Luca, thì: ngoại trừ một số yếu-tố tư-riêng/ngoại thường ra, còn thì: hai Tin Mừng này phần lớn lệ-thuộc vào Tin Mừng Máccô, qua đó các chuyên-gia nói trên, đã đan-xen nội-dung cố-truyện hoặc câu nói của Đức Giêsu vào bản gốc, theo cách riêng-tư/khác-biệt của mỗi vị.

Đây, là điều được các chuyên-gia Kinh-thánh gọi là giả-thuyết xuất từ hai nguồn gốc khác nhau: nguồn đầu, là của người đầu tiên viết Tin Mừng mang tên Máccô; còn nguồn kia gọi là nguồn “N” (tức văn-bản “Nguồn”). Tuy thế, do phần lớn các thể-loại văn-chương tiên-phong mở đường, đều viết bằng tiếng Đức, tức: điều mà các ngôn-ngữ khác viết thánh-kinh gọi là văn-bãn “Q”, tức: chữ tắt của tiếng Đức “Quelle”, có nghĩa là: “Nguồn Gốc”.

Thành thử, diễn-giải sự việc theo kiểu phỏng-đoán câu truyện ở Tin Mừng Nhất Lãm rồi bảo: vào lúc tác-giả Mátthêu và Luca ngồi xuống viết Tin Mừng, các ngài đã đặt trước mặt hai văn-bản có sẵn: đó là: văn-bản Máccô, còn bản kia là văn-bản “Quelle” tức bản văn theo “Nguồn”. Và khi ấy, các tác-giả đây mới bàn-luận và viết thêm đôi điều theo cách riêng-tây của mỗi vị, dựa vào ấn-bản Máccô rồi diễn-giải ở đây đó cho có ý-nghĩa của bản gốc, rất “Quelle” và cộng thêm truyền-thống đặc-biệt, được rót thêm vào trong đó.

Cả khi ta nhắm mắt làm ngơ, không màng gì đến ý-niệm có từ một học-giả thuộc thế-kỷ thứ 19 từng soạn-tác nên công-trình tham-khảo của riêng mình, qua các sách mà giả-thuyết này đem lại, tức: đặc-điểm của bản “Quelle” cũng chỉ theo giả-thuyết này mà thôi.

Dù, tất cả mọi cố gắng luận-bàn của thế-hệ học-giả tiếp-nối và mới mẻ nhất của nhóm “Chuyên-đề Về Quelle” ở Hoa Kỳ, thực-tế còn đó vẫn cho thấy: ở nguồn-văn “Quelle” chẳng có đoạn nào được chứng-thực theo hình-thức độc-lập viết trên giấy. Không có thảo-bản “Quelle”, cũng chẳng có mảnh vụn cảo-chỉ nào có tên là “Quelle”, không có lời trích-dẫn nào từ nguồn “Quelle” rút từ sách của các tổ-phụ Giáo-hội, hết.

Ta có được những lời gần-gũi như thế, là do gợi ý rất mơ-hồ của Giám mục Pappias về “Câu nói/Logia” bằng tiếng Aram của Đức Giêsu được tác-giả Mátthêu góp nhặt lại; và từ các câu nói ghi chép bằng tiếng Cốp-tích Ai-cập thu-thập ở Tin Mừng Tôma, mà bản tiếng Hy-Lạp có đề ngày tháng xuất từ hậu bán thế kỷ thứ 2, sau Công nguyên, thôi.

Tuy thế, chẳng có gì để ghi chép các câu truyện kể từ văn-bản “Quelle” này hết. Còn nữa, theo thiển ý, phần lớn Tin Mừng tác-giả Tô-Ma rõ ràng trở-thành thứ-yếu nếu đem so với Tân-Ước viết bằng tiếng Hy-Lạp. Nói theo cách gắt gao, thì: sự tương-hợp giữa tác-giả Mátthêu và Luca có thể là do một trong hai ông đã ghi như thế theo thể-thức người này sử-dụng và tái hiệu-đính bản viết của người kia; và rồi hoàn-tất bản tái duyệt/xét bằng sự/việc thêm vào đó một số truyền-thống ứng-khẩu chuyển-tải về cộng-đoàn tư-riêng của mỗi vị.

Theo chủ-trương kiếm tìm diện-mạo của Đức Giêsu gặp ở Tin Mừng, thì giải-pháp chính-xác có từ các câu hỏi hoặc câu đố, lại có tầm quan-trọng rất ít. Thế nên, thay vì mất thì-giờ vào việc ấy, tôi đề-nghị ta sẽ bắt đầu từ giả-định rằng: việc các học-giả định ngày tháng nói chung cho Tin Mừng Nhất Lãm là chấp-nhận được. Ông Máccô sẽ được coi là người viết Tin Mừng bản gốc một cách ngắn gọn vào sau thời Giêrusalem bị tàn-phá vào năm 70 sau Công nguyên.

Còn ông Mátthêu và Luca đã theo sau ông Máccô cách nào đó, đại để vào khoảng thời-gian từ năm 80 đến năm 100, mà thôi. Truyền-thống Giáo-hội tin rằng, dù không có bằng-chứng nào xác-đáng và kiên-cố về chuyện đó, là: ông Máccô đã viết Tin Mừng tại Rôma. Còn chuyện ông Mátthêu đã thu-thập chi-tiết từ Palestine hoặc Syria và ông Luca từ phiá bên ngoài Palestine, chỉ là công việc phỏng-đoán, thôi.

Việc nới rộng khung thời-gian theo cách tiệm-tiến, từ: lúc Tin Mừng được viết mới đáng để ta quan-tâm hơn cả. Nói thế có nghĩa bảo rằng: Tin Mừng Máccô là văn-bản cô-đọng nhất. Tác-giả này đã khởi-đầu công-trình viết lách bằng truyện kể về ông Gioan Tẩy Giả  xuất-hiện trước công-chúng. Và, nếu ta loại bỏ phần kết-cuộc dài-dòng hơn, tức là: kể từ đoạn 16 câu 9 đến câu 20, là phần không thấy xuất-hiện ở các bản viết tay cổ,xưa nhất, thì sẽ thấy: tác-giả Máccô đã kết-thúc công-trình của mình, bằng cách đưa ra hình-ảnh gây lúng túng nhiều về chuyện ba nữ-phụ tỏ ra hốt-hoảng khi thấy mộ Chúa trống-trơn, không còn xác.

Tác-giả Mátthêu lại đã thêm “Lời Nói Đầu” vào bản của ông Máccô bằng đoạn kể về gia-phả và truyện Hài-nhi Giêsu sinh-hạ cũng như thời ấu-thơ của Ngài, rồi bổ-sung câu truyện ấy bằng việc Đức Giêsu trổi-dậy và xuất-hiện với các môn-đồ khác nhau của Ngài. Tác-giả Tin Mừng Luca lại trải rộng truyện kể cho dài hơn nữa, về cả hai phía. Truyện kể việc Đức Giêsu sinh-hạ được ông Luca đặt trước truyện kể về ông Gioan Tây Giả; và phần nói về thời thơ-ấu của Đức Chúa được tiếp-nối bằng giai-thoại kể Đức Giêsu hồi còn trẻ mới 12 tuổi đã thông-minh, dĩnh-ngộ.

Ở mép cuối phần bên kia, ta lại gặp thấy một bản phác-hoạ gồm nhiều chi-tiết hơn bản của ông Mátthêu nói về việc “sống lại” và về việc Đức Kitô xuất-hiện được lập đi lập lại nhiều lần, và đăng-quang bằng một tuyên-ngôn có liên-quan đến việc Ngài thăng-hoá về trời.

Nói tóm lại, sau khi đã chọn cốt-lõi tập-trung Tin Mừng của Máccô, Máthêu và Luca và đính kèm vào đó phần mở đầu thần-học một cách sâu-sắc và phần kết hệt như thế, sẽ cho ra một quan-điểm lạ-kỳ cho toàn cốt-truyện.         

                                                                                                                        (còn tiếp)

Gs Geza Vermes soạn tác
Mai Tá lược dịch                     
              


                       




Wednesday, 25 May 2016

Lm Vĩnh Sang CSsR: "…BÀI CA TRI ÂN NHIỀU Ý"




Trong những ngày vừa qua, thông báo của Tổng Giáo Phận Sàigòn về việc phong chức Linh Mục, người ta nghe rao một danh sách 14 tiến chức, lễ truyền chức dự định vào một ngày cuối tháng Năm. Không chỉ Tổng Giáo Phận Sàigòn, nhiều Giáo Phận khác cũng như nhiều Dòng Tu cũng sẽ có các lễ truyền chức vào thời điểm chung quanh tháng Sáu. Ngoài Lễ Truyền Chức còn có lễ khấn của các Dòng Tu, khấn lần đầu và khấn trọn đời.
Điều dễ hiểu về thời điểm tổ chức các Lễ Truyền Chức và Lễ Khấn, vì đó là lúc chấm dứt một niên học và là khoảng thời gian nghỉ giữa hai niên khóa. Đối với các Dòng Tu đó là thời điểm thuận tiện cho việc bồi dưỡng tâm linh, các cuộc cấm phòng năm được tổ chức và cuối các kỳ cấm phòng sẽ là lễ khấn, thời gian này rất phù hợp cho các Tu Sĩ tham gia công việc giáo dục, vì là thời gian nghỉ hè của các trường học.
Ngay khi các thông báo rao danh sách tiến chức được công bố, người ta nhận thấy thị trường mua sắm quà và các vật dụng cần thiết cho sứ vụ Linh Mục như chén thánh, áo lễ, bình chứa dầu thánh, tất cả đều rục rịch chuyển động, cùng với việc quan tâm đến các loại hàng hóa sử dụng của các tân chức, việc chuẩn bị cho các tiến chức trong lễ truyền chức cũng diễn ra náo nhiệt không kém: thiết kế các mẫu thiệp, huy hiệu tham dự lễ, các chuẩn bị khác như dựng rạp mở tiệc tạ ơn, nhà hàng hay nhóm nấu tiệc được tiếp xúc bàn bạc, ban tổ chức các lễ ngay lập tức được hình thành, chuẩn bị cờ phướn, trống kèn, đèn đóm, loa liếc, các ca đoàn lo tập hát phục vụ lễ…
Cứ mỗi Giáo Phận trên dưới 10 tiến chức Linh Mục. Mỗi Dòng Tu hay Tu Hội lớn, cũng trên dưới 10 tiền chức, mỗi tiến chức sẽ tổ chức không chỉ một lần tạ ơn. Bên cạnh các Lễ Truyền Chức và Tạ Ơn của các tân Linh Mục, chúng ta còn chứng kiến các Lễ Khấn và cả những Lễ Tạ Ơn của các tân khấn nữa, thử làm bài tính nhẩm về các Lễ Tạ Ơn này xem bao nhiêu, khi có những Dòng Tu khấn lần đầu không dưới 20 người và khấn trọn đời không dưới 10 người.
Cùng với các lễ này chúng ta còn có các Lễ kỷ niệm Ngân Khánh, Ngọc Khánh Linh Mục hoặc Ngân Khánh, Ngọc Khánh khấn Dòng. Có những vị còn sốt sắng hơn nữa khi quyết định tổ chức lễ kỷ niệm 10 năm, 15 năm và 20 năm Linh Mục… Rồi sẽ có cờ hoa rợp trời, những bàn tiệc ăn uống linh đình, những âm thanh ồn ào vui vẻ, những lời chúc tụng tung hô, những bó hoa đắt tiền chỉ dùng một lần rồi bỏ, những băng hình quay xong rồi cất…
Một mặt khác, có một bức tranh màu xám xịt đang phủ lên giải đất không nhỏ của đất nước chúng ta. Những ngôi nhà vắng lặng không tiếng cười, chất chứa bao lo âu, những căn bếp nguội lạnh không lửa ấm, những chiếc thuyền neo đậu nhiều ngày tháng không ra khơi, những thân hình tiều tụy vốn gầy guộc nay càng thêm thảm não, những ánh mắt muộn phiền, những tiếng thở dài não nuột và những tiếng khóc trẻ thơ ngất lịm vì đói…
Không chỉ những gia đình ngư dân ven biển, cả những diêm dân nữa, muối chất đống không sao tiêu thụ, mùa mưa ập tới như tiếng chuông gọi hồn ai oán. Giữa hoạt cảnh buồn nản ấy, mấy ngày nay tin tức ngay từ các báo chính thống nhà nước loan tin, đã có những cuộc ăn chặn gạo cứu trợ của ngư dân, đã có những chuyến hàng gạo mốc xanh được chuyển đến cứu trợ… Rồi những gương mặt xanh xao khác, họ nằm ngồi vất vưởng nơi các hành lang ken kín người ở bệnh viện, những chiếc giường vải trắng ngà chen chúc hai người một giường hầm hập nóng. Hết tiền chữa bệnh rồi, về nhà để chết thôi !
Tôi vừa gặp một em sinh viên gia đình ở Hà Tĩnh, em đã khóc nghẹn ngào khi chia sẻ sự bế tắc của em trong việc theo học ở Sàigòn. Điện thoại về gia đình cha mẹ không nói thật vì sợ em lo âu, các thông tin nhận được từ bạn bè ở quê cho em biết phần nào sự thật, bỏ học về quê không giải quyết được gì, có khi còn chết chùm, ở lại Sàigòn không dám xin tiền làm sao mà sống, tiến thoái lưỡng nan. Giữa những buồn phiền như vậy, em sẽ làm sao giữ mình trước những cạm bẫy của thế gian ? Cái trượt chân xảy đến sẽ kéo theo bao cái trượt chân khác.
Ngày xưa Chúa Giêsu có một lần kể cho mọi người nghe dụ ngôn người giàu có và anh nhà nghèo tên Ladarô, chỉ một cái ngạch cửa thôi ngăn cách hai thế giới, cái ngạch cửa ấy khi ra trước mặt Chúa trở thành cái hố sâu ngăn cách mà bên này không thể sang được bên kia. Nỗi thèm muốn ước ao vụn bánh của Ladarô trở thành tiếng kêu than thở thèm giọt nước của ông nhà giàu. Sẽ chẳng có ai nối được hai bờ bởi vì đã có Ngôn Sứ tên Phanxicô nhiều lần nhắc đi nhắc lại lời cảnh báo này cho chúng ta.
Sứ mạng của Linh Mục hàng đầu là rao giảng Lời của Chúa, sứ mạng trước tiên của Tu Sĩ là làm chứng cho Lời của Chúa. Chúng ta cầu nguyện và chờ xem cách anh chị em chúng ta chọn lựa để rao giảng và làm chừng trong mùa Lễ Tạ Ơn này.
"Bài ca tri ân nhiều ý…"
Lm. VĨNH SANG, DCCT, 20.5.2016
( Tựa đề lấy từ một bài Thánh Ca của Lm. Thành Tâm )