Tuesday, 23 May 2017

Đức Giáo Hoàng Phanxicô bổ nhiệm 5 tân Hồng y




Trong buổi đọc Kinh Lạy Nữ Vương Thiên Đàng, Chúa Nhật 21/5/2017,
Đức Giáo hoàng đã công bố triệu tập một Công Nghị vào thứ Tư 28/6
để vinh thăng 5 vị hồng y mới.

Ngày thứ năm 29/6, nhằm ngày lễ hai Thánh Tông Đồ Phêrô và  Phaolô, Đức Thánh Cha sẽ cử hành Thánh Lễ với các Hồng y mới và Hồng y đoàn.
Dưới đây là tên của các Hồng y mới:

Đức Cha Jean Zerbo,
Tổng Giám mục Bamako, Mali.


Đức Cha Juan José Omella,
Tổng Giám mục Barcelona, ​​Tây Ban Nha.


Đức Cha Anders Arborelius, OCD,
Giám mục Stockholm, Thụy Điển.

Đức Cha Louis-Marie Ling Mangkhanekhoun,
Giám mục hiệu tòa Acque nuove di Proconsolare,
Ðại Diện Tông Tòa Pakse, Lào.
 

Đức Cha Gregorio Rosa Chávez,
Giám mục hiệu tòa Mulli,
Phụ tá Tổng Giáo phận San Salvador, El Salvador.

Như vậy, từ 28/6 sắp tới, Hồng y đoàn sẽ gồm:
Hồng y có quyền bầu cử: 121 vị
·                     20 vị do Thánh Gioan Phaolô II vinh thăng
·                     52 vị do Đức Benedictô XVI vinh thăng
·                     49 vị do Đức Phanxicô vinh thăng
Hồng y không có quyền bầu cử: 106 vị
Tổng cộng: 227 Hồng y

Monday, 22 May 2017

Lm Edward Schillebeeckx Thần-học-gia toại-nguyện, người đó chính là tôi: (Bài 9) Toà Thánh La Mã và Cơn Giông bão đổ ào lên đầu dân Hoà Lan: Sách Giáo-Lý Mới




*


 
Vào độ ấy, đã thấy có vấn-đề về Sách Giáo-lý Mới. Ở Rôma, người ta cứ khăng khăng đòi sửa đổi một đôi chỗ ở trong Sách, nhưng Hồng y Alfrink lại ra sức bảo-vệ lập-trường giữ y nguyên. Tại Hoà Lan, không ai lại nghĩ chuyện sửa-đổi và/hoặc bổ-sung Sách này. Ngay chuyện đặt Sách tại quầy báo/chí để bán buôn, lại cũng không.

Đến đây, chúng tôi tạm ngưng câu chuyện trao-đổi này và, thay vào đó, viết lên đôi đoạn nói về Sách Giáo Lý Mới, bởi rất nhiều vị lâu nay vẫn bàn-cãi về cuốn sách này.

Hôm ấy, ngày mồng Một tháng Ba năm 1966, lúc Hồng y Tổng Giám mục Bernard Alfrink cho phép nhà xuất bản Utrecht được in cuốn “Giáo Lý Mới – Tuyên Tín của Người Trưởng Thành”. Các Giám mục viết trong phần Dẫn Nhập, có bảo rằng: “Tự-vựng “Mới” nói ở đây, ta không được phép hiểu sai nghĩa.

Chữ “Mới” đây, không có nghĩa là Giáo-hội đã sửa đổi một đôi điều có liên-quan đến niềm tin trong khi các chỗ khác, vẫn giữ nguyên. Nếu quả là như thế, thì ta cũng không thể nào hài lòng chuyện sửa-đổi các trang sách của Giáo lý ta học vào thời trước được. Điều này không thể xảy ra, bao giờ hết.

Ngược lại, toàn-bộ thông-điệp, và niềm tin vẫn giữ nguyên như trước, nhưng cung-cách tiếp-cận chuyện ấy, tức làm sáng-tỏ ý-nghĩa lại rất mới. Như thế có nghĩa, bất cứ bản-thể sống-động nào, cùng một lúc, vừa ở nguyên vị-trí cũ lại vừa được cải-tân. Thông-điệp của Đức Kitô là thông-điệp sống. Thế nên, Sách Giáo lý Mới tìm cách loan-báo niềm tin vĩnh-cửu theo hình-thức thích-hợp với thời-đại ta đang sống.

Được biên-soạn suốt 6 năm trời ròng-rã, Sách này có một không hai, điều này không có gì phải nghi-ngờ. Văn-phong/thể-loại và ngôn-ngữ tân-kỳ của Sách đã lôi kéo người đọc không chỉ ở Hoà Lan thôi, mà cả người đọc ở nước ngoài, đều chú-tâm đến chuyện này.

Một mặt, Sách này tạo làn sóng hứng-khởi nơi mọi người; mặt khác, người đọc Sách này đây cũng có ưu-tư/đòi hỏi sự chính-xác nơi ý-tưởng ghi trong đó. Thế nên, Toà Thánh La Mã không thể giữ im-lặng mãi được. Do đó, đã có buổi hội-ngộ giữa 3 nhà thần-học được Rôma chỉ-định cộng với 3 nhà thần-học khác, do Hội-đồng Giám mục Hoà Lan chọn lọc, để bàn-luận.
 
Các thần-học-gia nói trên, đã bàn-thảo từ ngày 8 đến 10 tháng Tư năm 1967. Cuối cùng, phía Vatican đòi hỏi phải có “tư-tưởng thật chính-xác” để giới-thiệu đưa vào nội-dung Sách Giáo Lý Mới này. Nhóm thần-học-gia người Hoà Lan đã trả lời tiếng “Không”, rất rõ ràng.

Nhưng, Đức Phaolô Đệ Lục, khi ấy, muốn có sự thay-đổi về nội-dung trong Sách, chẳng hạn như ý-niệm Đức Giêsu Kitô sinh ra từ cung lòng Đức Nữ Trinh Maria, và cả tín-điều về sự hiện-diện của các thần-sứ cũng như đặc-trưng hy-sinh phải được nói đến trong ý-niệm Đức Kitô cứu-chuộc nhân-loại.

Và sau đó, các ngài bèn thành-lập một uỷ-ban gồm các Hồng-y như: Hồng y Frings của Cologne, Hồng y Lefèbvre của Bourges, Jaeger của Paderborn, Florit của Florence, Brown từ Giáo-triều Rôma và Hồng y Journet của Thuỵ Sĩ, được chỉ-định việc duyệt-xét văn-bản của Sách này.

Các Hồng y nói trên, cùng các thần-học-gia biết tiếng Hoà Lan, đã họp nhau vào ngày 27 và 28 tháng Sáu năm 1967. Các vị này quyết-định rằng: trước khi xuất bản ấn-phẩm và bản dịch, Sách Giáo Lý Mới phải được tái-duyệt và sửa-đổi một cách cẩn-trọng.

Lại thấy xuất-hiện một uỷ-ban thần-học thứ hai rút tự 7 nước trên thế-giới, được thành-lập có trọng-trách xem xét văn bản nói trên và đưa ra quan-điểm của nhóm. Các Hồng y, khi ấy, đã ghi-chú những gì được các thần-học-gia này có ý-kiến/nhận xét từ các buổi hội-họp khi trước, từ ngày 12 đến 14 tháng Mười Hai năm 1956, ghi chú xem có đổi-thay nào được đề-nghị hay không; rồi mới chỉ-thị cho một uỷ-ban nhỏ gồm hai nhà thần-học xuất tự Hội Đồng Giám mục Hoà Lan, và hai vị khác được nhóm Hồng-y nói trên chọn lọc. Công-việc này kết-thúc vào tháng Hai năm 1968 và được đệ-trình lên Toà Thánh, cùng uỷ-ban Hồng y và Hội Đồng Giám-mục Hoà Lan xem xét.

Trong lúc chờ đợi, Sách Giáo Lý Mới vẫn ra mắt người đọc dù không được Hội-Đồng Giám-mục Hoà Lan chuẩn-thuận, và cũng chẳng thấy bất cứ một sửa-đổi nào trong đó, trước nhất là bản tiếng Anh, sau đó là tiếng Đức và Pháp ngữ. Ấn-bản tiếng Ý gồm có “Tuyên-ngôn của Uỷ ban Hồng-Y” có đoạn bổ-sung cho Sách Giáo Lý Mới được Tổng Giám mục thành Turin là Hồng y Michele Pellegrino“Imprimatur” cho phép in, vào ngày 31 tháng Năm 1969.


Về lại với tác-giả Schillebeeckx
người đưa ra lời bình này:  


Trước hết, tất cả sự việc trên đưa ta đến nhận-định, bảo rằng: Sách Giáo lý Mới nói ở đây, đã được điều-nghiên và viết lên trước ngày khai-mạc Công Đồng Vatican II rồi. Sau đó, Sách này dù được in vào năm 1966, nhưng ý-tưởng chủ-chốt đã có từ trước thời Công Đồng nữa. Thành thử, các ý-tưởng ghi trong Sách đều không do Công Đồng đã cải-tân viết ra.

Cùng một lúc, khi mọi cuộc bàn-thảo được xúc-tiến theo mức khá tiến-triển, tôi được Hồng y Alfrink yêu cầu đọc văn-bản này một cách kỹ-lưỡng, vì đây là công-trình rất đáng ngưỡng-mộ do một đội ngũ gồm các vị Dòng Tên ở Nijmegen Lm van Hemert dẫn đầu. Tôi đã đọc hết cuốn Sách ấy và đã yêu cầu thay-đổi một vài công-thức vốn được lặp đi lặp lại đến hai mươi lần, như cụ thể bảo rằng: Đức Giêsu là người thịt xác phàm như muốn tạo cảm-tưởng để ta nghĩ rằng: Ngài không là Thiên-Chúa.

Yêu-cầu sửa-đổi của tôi được chấp-thuận. Tôi chỉ đóng góp duy-nhất có chút đó, thôi. Nếu công-nhận như vậy, thì đây là bộ Giáo lý có từ trước thời Công Đồng diễn ra; nhưng tôi lại thấy đó như công-trình mang tính cá-thể. Sách này thiếu mất chiều-kích chính-trị và xã-hội. Nói thật, thì: bản-văn ghi trong sách có hơi mộ-đạo, thật quá sốt sắng. Nói thế, tôi không có ý coi nhẹ cái hay/cái đẹp của Sách đã dàn-trải ở khắp chốn. Đây là Cuốn Sách thích-hợp vào thời đó và đã tạo bầu khí tư riêng hồi thập-niên 1960s.



Người Hoà Lan chia rẽ:
do việc bổ-nhiệm các Giám mục mới


Không còn nghi-ngờ gì nữa, Hội đồng Mục-vụ là sự-kiện lớn lao đối với người Hoà Lan khi đó. Hội-đồng này vượt quá Công Đồng Vatican II, và đã dấy lên nhiều phản-ứng. Chẳng hạn như, sự việc Đức Ông Simônis từng chống-đối Sách này với tất cả uy-thế và sức lực của ông. Thời Công Đồng diễn ra, ông mới chỉ là sinh-viên thôi, nhưng cũng đã chống lại Công Đồng Vatican II và còn chống cả các Giám mục Hoà Lan nữa.

Sau Công Đồng Vatican II, ở Hoà Lan lúc ấy đã thấy bổ-nhiệm một số Giám mục chống lại sự cởi mở của Công Đồng. Đức Ông Simonis và Gijsen được bổ-nhiệm làm Giám-mục giáo-phận RotterdamRoermond theo thứ tự, đúng vào lúc có cơn giông bão đổ ập lên Hội-đồng mục-vụ, và các vị lại chống-đối mọi ý-tưởng mới mẻ và phá vỡ tình đoàn-kết bên trong Hội-đồng Giám-mục.

Các vị lại cứ cãi nhau đòi tái-lập trật tự và bắt chụp mọi cơ-hội có thể có được để chỉ-trích cách công-khai Hội-đồng mục-vụ nói ở đây. Dần dà, dưới sức ép tranh giành điều lợi cho Rôma, các Giám-mục khác đều im hơi lặng tiếng, nhưng tại các giáo xứ ở địa phương, mọi sự vẫn cứ xúc-tiến như khi trước.

Càng ngày người ta lại thấy có sự rạn-nứt thật rõ nét đối với Rôma. Các linh-mục và giáo-dân không còn hiểu nổi Giám-mục của mình nữa; và cứ thế các cụ lại cứ nghe theo các vị này. Bởi thế nên, khi ấy không chỉ có mỗi rạn-nứt đối với Rôma thôi, nhưng trên hết mọi sự, mối nứt-rạn này còn xảy ra cả bên trong Giáo-hội Hoà Lan nữa. Đó là bi-kịch thời-đại xảy ra vào những ngày này, trong quá-khứ.

Dân chúng không chịu khổ nhiều cho lắm với Rôma, nhưng họ cũng vẫn đau-khổ và vẫn thấy phiền-sầu nhiều như hệ-quả của mọi nứt-rạn trong cộng-đồng Giáo-hội. Từ đó, đã không còn thấy đối-thoại giữa Giám-mục và giáo-dân nữa. Đây, đúng là tai-hoạ xuất tự việc bổ-nhiệm Giám-mục mang nhiều ngờ-vực.

Tôi đây, không có sự chống-đối các Giám mục bảo-thủ nào hết; nhưng các Giám mục được bổ-nhiệm (*17) là những vị không có nhu-cầu hiểu/biết để bắt chụp lịch-sử. Các vị vẫn có thể tỏ ra mình là người bảo-thủ, nhưng các ngài buộc phải bảo-thủ một cách tinh-khôn ở cấp mục-vụ mới được.

Trước khi trở-thành Giám-mục, ông Simônis là một mục-tử sáng-chói, nhưng nay đã là giám-mục rồi, thì công việc mục-vụ không còn ý-nghĩa gì nữa đối với ông, mà chỉ là nguyên-tắc và nguyên-tắc, và ông chỉ biết ngoan ngoãn vâng lời Rôma, chỉ mỗi thế.

Theo cách nào đó, có thể nói: ông không còn là nhân-vật thông-minh, tinh khôn nữa. Một số Giám-mục lại nói những chuyện không đáng tin-cậy về niềm tin, về Đức Giêsu Kitô, về dục-tính, và về cả đàn bà/con gái nữa                                 


Chú thích: (*17) Năm 1982, có 4 Giám-mục phụ-tá được bổ-nhiệm là: Đức ngài de Kok Niẽuhaus Utrecht, Đức ngài Casterman Roermond, Đức ngài Bãr Rotterdam. Năm 1983, Đức ngài Simonis đến Utrecht để thay thế và Đức ngài Bomers được bổ-nhiệm chủ-quản giáo-phận Haarlem. Năm 1985, Đức ngài Ter Schure kế-vị Đức ngài Bluyssen trông nom ‘s-Hertogenbosch. Thời đó, có nhiều người Công giáo, linh mục và giáo-dân chịu nhiều ảnh-hưởng và đả-kích/tấn-công Toà Thánh về chuyện các ngài dám dùng quyền-lực của mình để độc-trị.                  


Nhiều nhà trí-thức, có thời từng làm thủ-lãnh phong-trào này/nọ đã rời bỏ Giáo-hội. Đây là mất-mát lớn đè nặng lên đời sống Giáo-hội. Nhiều vị khác, lại tỏ ra dửng-dưng/lạnh-nhạt, không còn thích-thú chuyện nhà thờ/nhà thánh chút nào hết. Kết-quả của việc bổ-nhiệm các Giám-mục như thế, đã tạo sầu buồn đậm sâu ở khắp nơi.

Chắc chắn những chuyện như thế, không là tình-cảnh bình-thường của Giáo-hội. Đấu-tranh giữa các linh-mục trong giáo xứ, chống-đối Giám mục vẫn diễn ra ở nhiều nơi. Lúc ấy, đã có căng-thẳng ở một số giáo-xứ nơi thì phò Rôma, nơi khác lại chống La Mã. Người thì theo chân ông Simônis, người khác lại chống đối ông; người thì hỗ-trợ Gijsen người khác lại phản-bác cũng tựa hồ tư-thế phò/chống Giám-mục Bomers từng nổ bùng ở nhiều nơi.

Riêng đối với người Công giáo Hoà Lan, thì Rôma, Toà Thánh Vaticăng chỉ là Giáo-triều đầy cửa-quyền, chuyên chèn-ép những người bên dưới. Trước thời diễn ra Công Đồng, người Công giáo Hoà Lan còn kết-chặt tình đoàn-kết với Rôma và Giáo-Hoàng. Nay thì, tất cả mọi sự đều đảo ngược từ trên xuống dưới. Và, vào dạo đó, nhiều người lại có tâm-tính chủ-trương duy-trì trạng-thái có trước Công Đồng Vatican II, tức: vẫn cứ đả-kích/chống-đối hoặc dửng-dưng/lạnh-nhạt hoặc im-hơi/lặng-tiếng, cốt giữ mình. Đó là thực-trạng bất thường, rất đáng buồn.    
           
                  (còn tiếp)


Lm Edward Schillebecckx chuyện trò với Francesco Strazzari
Mai Tá lược dịch