Friday, 25 July 2014

Lm Kevin O'Shea CSsR: Tội Nguyên Tổ, một ý-tưởng xuất tự thánh Augustinô



Chương Năm
Ơn Cứu-Chuộc
và tội nguyên-tổ
(bài 25)


Phần 2:
Tội Nguyên Tổ,
một ý-tưởng xuất tự thánh Augustinô


Muốn hiểu kỹ Ơn Cứu Chuộc, ta cần giải-thoát ý-tưởng này khỏi mô-hình lâu nay vốn đưa ta vào lịch-sử của loài người. Ý-niệm này, được nhiều người hiểu một cách rất sai-sót, ra như thể: nó xuất-xứ từ Kinh-Thánh, nhất là từ sách Sáng Thế, mà ra. Nhưng kỳ thực, đây là loại-hình tư-tưởng do thánh Augustinô tự mình lập ra.

Cho đến nay, ta cố tìm cách đưa ý-niệm này ra khỏi Sách Thánh, nên đã cảm-kích thấy rằng: Ơn Cứu Chuộc, thật ra, đã vượt quá ý-niệm một thứ thuốc đặc-trị dùng để giải-quyết các vấn-đề khó-xử, nơi người phàm.

Thật ra, ý-niệm “Tội Nguyên Tổ”, như ta minh-định ở những trang trước, không là ý-niệm ta gặp được ở Thánh Kinh. Nhưng, lại do một hiển-thánh từ miền Bắc Châu Phi sáng-chế ra, đó là thánh Augustinô. Thánh Augustinô, là người say mê chuyện giới-tính của con người. (x. Jean Michel Maldame, o.p. Domini, initheo, Le Péché original, 2004). Thật ra, thánh-nhân không trích tư-tưởng này từ bộ sách nào hết của Kinh-thánh. Nhưng, ông lại đã tạo ra một số “bước chân âm-thầm” trước khi đi vào phần cốt-lõi của vấn-đề. Phần lớn tư-tưởng ông đưa ra, đã được hỗ-trợ từ kinh-nghiệm tư-riêng của chính ông.     

Trước nhất, ông là người từng hồi-hướng-trở-về từ gốc-nguồn chủ-thuyết Ma-ni-kê-ô. Thuyết này trách-móc Chúa: sao Ngài cứ để cho ác-thần/sự-dữ có mặt nơi gian-trần đến độ thế. Lâu nay, thánh Augustinô lại đã tự đặt mình trong tầm ảnh-hưởng của thuyết Platô và diễn-giải một cách rất chung chung về nghĩa bóng và đặc-biệt thánh-nhân lại dựa trên lập-trường tư-tưởng của thánh Ambrôsiô, nên ông cương-quyết rằng: ác-thần/sự-dữ không thể bắt nguồn từ Thiên-Chúa, được. Từ đó, ông bèn đi đến kết-luận, tự bảo rằng: sở dĩ ác-thần/sự dữ có mặt trên đời là: do trách-nhiệm của con người, hoặc do lỗi/tội của họ gây ra. Ông phân-biệt sự-dữ-ta-làm với ác-thần-ta-chịu vẫn cứ đặt nặng lên các tư-tưởng ta có ở trong đầu, tức: sự-dữ-ta-làm có duyên-do từ ác-thần-ta-gánh-chịu. Cũng từ đó, ông tự thấy mình là người rất tội lỗi.

Hai nữa, khi viết bức thư gửi thánh Giêrônimô, một thư mà hầu hết các nhà bình-luận cho rằng: đây là thời-điểm sản-sinh ra cái-gọi-là “Tội Nguyên-Tổ”, rất thật. Thư này được viết, là để hồi-đáp những phản-bác đối-đầu với lập-trường của ông, khi ông bàn về trách-nhiệm mà con người vẫn có với ác-thần/sự dữ. Phản-bác/đối-đầu mà nhiều vị đưa ra, đó là về “con trẻ”. Bởi, vấn-đề đặt ra, là: làm sao chỉ mới là “trẻ con” thôi, chúng đã phải chịu trách-nhiệm về “ác-thần/sự-dữ” do lỗi-lầm mà chúng không bao giờ vi-phạm cả? Giả như “con trẻ” không bị trói-buộc vào những trách-nhiệm như thế, thì tại sao chúng lại cứ phải chết? Trả lời cho vấn-nạn này, thánh Augustinô cũng từng nói: sở dĩ có chuyện đó, vì con trẻ là hậu-duệ của tội/lỗi, nên đã bị lỗi/tội ghi dấu ấn lên trên người của chúng. Và như thế, chúng không còn là trẻ vô tội, nữa. Chúng tuỳ-thuộc vào gia-đình nhân-loại đã có tội, khởi từ Ađam cho đến bây giờ. Việc này, thánh Augustinô lại nói thêm: cuối cùng thì, khi con trẻ đi vào sự-sống-đời-sau, chúng sẽ không còn phải chịu đau-khổ gì, nữa hết. Nhưng sau này, thánh Augustinô đã đổi ý, mới bảo rằng: ông không còn nghĩ như thế nữa.

Thứ ba, thánh Augustinô đọc sách Sáng Thế dưới ánh-sáng dẫn-đường từ câu nói rất ngắn-gọn được ghi trong thư thánh Phaolô gửi tín-hữu thành Rôma, đoạn 5 câu 12, trong đó thánh Phaolô có ghi: “Mọi người đều đã phạm tội!” Nghe thế, có người lại hiểu rằng: thánh Augustinô đọc câu này, từ bản dịch tiếng La-tinh, nên rất có thể là: ông không bị đánh-động gì từ bức thư nổi tiếng của thánh Phaolô, bởi: nếu ông đọc nguyên-bản lá thư ấy bằng tiếng Hy-Lạp, hẳn ông sẽ nghĩ khác. Nhưng theo tôi, không có gì chắc-chắn là: có sự khác-biệt giữa hai bản dịch nói ở trên. Ngược lại, cũng theo ý của tôi, thì: ảnh-hưởng đích-thực thấy nơi ông, chính là giòng tư-duy ông rút từ kinh-nghiệm sống của chính ông về đời tư của mình và ông diễn-tả điều này trong cuốn sách do ông viết, có tựa đề là “Lời tự thú” xuất-bản vào nhiều năm trước. Ông tự coi mình như tù-nhân của những cuốn-hút rất dục-tình. Ông thấy nơi mình, như có sức mạnh của lỗi/tội thế nào đó, nó cứ đè nặng lên người ông. Và, ông lại đã nhân-cách-hoá Tội/Lỗi ấy bằng một chữ “T” viết rất Hoa. Ông cảm thấy chỉ mỗi ân-huệ Chúa ban, mới có thể cứu-vớt ông, mà thôi. Và, với ông, đây lại là lập-trường về Ơn Cứu Chuộc, rồi.

Thứ tư: trước đây, ông cũng từng xem sách Sáng Thế trên căn-bản rất như thế, và ông lại mường-tượng ra lối diễn-nghĩa mang tính sử-học nơi bản-văn ấy. Với ông, người phàm đích-thực (tức: AđamEva), theo lịch-sử, đã thực-sự sống trong vườn Địa-đàng từ ban đầu, và khi ấy, ông không thấy có vấn-đề nào đặt ra như thế hết, nhưng cặp nam-nữ đầu đời, lại để mất thứ Địa-đàng-trần-gian do họ hành-xử trái với lệnh-truyền của Thiên-Chúa. Và cũng theo ông, lỗi/tội ban đầu này, có gốc-nguồn từ toàn-bộ lịch-sử đầy những tội và lỗi, đối với con cháu của Ađam. Và, chỉ nhờ Đức Kitô thôi, những người như thế mới đoạt lại vườn Địa-đàng ban đầu, được. Và, một ngày nào đó, cũng sẽ có người làm được thế.

Cũng nên ghi thêm ở đây, là: mãi sau này, chính Porphyry mới là người có ý-tưởng về nhân-cách tổng-thể nơi con người, như ta thường nói: toàn-thể nhân-loại cùng chung một giống-loại và nhân-cách.


Thứ năm, thánh Augustinô đã nắm bắt ý-tưởng xảy đến với văn-chương Tân và Cựu-Ước, và một số tư-tưởng khác vẫn có đó, trước cả thời ông xuất-hiện trên đời nữa. Đó là ý-tưởng về cái-gọi-là “hai chiều-hướng nghiêng-ngả” vốn có nơi con người, ở mọi thời. Một đằng, là khát-vọng cao-sang, lành-thánh; còn đằng kia, là xu-hướng tồi-tệ của sự dữ. Nhiều người gọi chiều-hướng sau là “biểu-tượng của tâm-hồn xấu xa, sa đoạ”. Thánh Augustinô đã thôi không còn diễn-nghĩa về bất cứ thứ “quỷ tha ma bắt” nào từng cho thấy: làm sao lỗi/tội con người lại có thể xuất-hiện được. Chẳng hạn như: ngang qua hành-xử của “thiên-thần gẫy cánh”, tiến về hướng nhân-chủng-học hoặc thứ gì đó rất “con người”. Ông suy-nghĩ: “xu-hướng nghiêng-ngả về sự dữ” (tiếng Do-thái gọi là “yetzer hara”) đã có trong nhân-loại từ lúc khởi-thiên-lập-địa sản-sinh ra con người. Kết-quả là, chính Ađam lại đã qui-hàng vào lúc đó, tức: tội/lỗi chứ không chỉ mỗi sự chết, đã di-căn từ thế-hệ này sang thế-hệ khác. Nói như thế, tức bảo rằng: thoạt khi chào đời, con người đã có hướng-chiều nghiêng-ngả vào với ác-thần/sự-dữ, đặc biệt là tình-dục, rồi.

Thứ sáu, thời-gian cứ thế trôi nhanh, thánh Augustinô lại đích-thân bước vào một số cãi-vã/tranh-luận với nhiều tác-giả khác, về nhiều sự việc. Và ông càng cứng lòng hơn, cương-quyết  giữ vững lập-trường, mình vẫn có.

Tác-giả Pelagius từ Anh Quốc, là người xuất-thân từ một gia-đình Công-giáo và đã trở thành thầy Dòng ở Rôma; và rồi ông sinh-sống ở Israel một thời-gian, sau khi Alaric phế-bỏ Rôma, năm 410. Thánh Augustinô lại lên tiếng cãi-tranh về đời sống tu-trì với tác-giả này. Và thánh Augustinô, sau chuyến hồi-hướng trở về với Công-giáo, ông đã từ-bỏ mọi quan-hệ tình-dục, quyết sống đời đơn-độc trong cộng-đoàn theo kiểu Dòng-tu rất khắc-kỷ.

Khi được cất-nhắc lên hàng Giám-mục, thánh Augustinô lại đã sắp-xếp hàng giáo-sĩ dưới trướng, buộc họ sống đời độc-thân/đơn chiếc trong cộng-đoàn sống đời tập-thể, và coi đó là “luật Đạo”. Một trong các nhóm tu-hội khổ-hạnh của Pelagius (khi đó là Celestius) có nói: “Thánh-tẩy không cần-thiết cho Ơn Cứu Chuộc”, là bởi vì: chúng ta và tất cả con cháu của chúng ta, đều có khả-năng làm một số điều tốt-lành mà không cần ân-huệ. Khi đó, thánh Augustinô đã nói tiếng “không” bằng câu đáp-trả như sau: “Không có thánh-tẩy, đám con trẻ không thể có Ơn cứu-chuộc, được! Và, nếu trẻ nào chết trong tình-trạng như thế, chúng sẽ đi thẳng vào chốn ngục-tù đầy lửa bỏng. Muốn làm bất cứ điều gì tốt lành, ta tuyệt-đối đều cần đến ân-huệ!” Trọng-tâm tranh-luận này, thực ra là về tính khả-thi của đời sống Dòng tu trong khuôn-khổ thế-trần”.

Thánh Augustinô nói: “Không có ân-huệ, ta không thể làm được việc gì cho ra hồn! Bởi, ở nơi ta, luôn có “chiều-hướng nghiêng-ngả” đi về phía sự-dữ/ác-thần”. Trong khi đó, nhóm của Pelagius lại khẳng-định: một số loại-hình cơ-ngơi/công-ốc có thể là chốn-miền để các thày thực-hiện cuộc sống tu-hội một cách chân-phương, cũng vẫn được.

Thứ bẩy, thánh Augustinô từng cãi-vã với Julian về “dục-tình” (hoặc về hoạt-động của chiều-hướng xấu-xa đầy sự-dữ, trong ta). Julian quả quyết: “Dục-tình, tự bản chất, không có gì xấu, hết. Vả lại, ta vẫn có thể sử-dụng “libido” cách xấu-xa hoặc tốt-lành, đều được”. Trong khi đó, thánh Augustinô lại nhất quyết: “Tình-dục, chính là ác-thần/sự-dữ, tự bản-chất, nó đã là thứ trụy-lạc sẵn có nơi con người, rồi!”  Ông cũng đã nhượng-bộ đôi chút, khi bảo rằng: Thật ra, hôn-nhân cần-thiết cho tương-lai của nhân-loại; và như thế, ta “được phép” chứ không được “phê-chuẩn”, để sử-dụng tình-dục trong hôn-nhân; nhưng chỉ vì mục-đích cao-sang/quí-phái như: niềm tin, sự vô-sản, và bí-tích thánh nên mới được phép. Thú-vui dục-tình, không là một trong các mục-đích cao-sang/quí-phái nào hết.

Thứ tám, thánh Augustinô đã tự cho phép mình sử-dụng kinh-nghiệm riêng-tư của chính ông, vào lúc ông hồi-hướng trở về, để nói lên nền thần-học do chính ông tạo ra. Ông từng sống trong tuyệt vọng và nghĩ rằng: thánh Phaolô khi xưa cũng giống thế. Ông còn bảo: “Dục-vọng bám rễ một cách rất triệt-để nơi con người của ông đến độ, tự một mình, ông không thể làm được điều gì tốt-lành mà không nhờ vào ân-huệ. Và, ông vẫn quan-niệm rằng: bất cứ thứ gì ông khao-khát, đều bị tội/lỗi ghi dấu ấn, trong con người của ông. Rồi từ đó, ông tìm cách định-nghĩa “Tội nguyên-tổ” nơi loài người một cách thực-tế như thể con người mình đã ở vào trạng-thái bị dục-vọng ghi dấu ấn, từ lâu rồi.

Thứ chín, ông lại đã chuyển-dịch vào với chủ-nghĩa “Duy-tiêu-cực” theo cách thực-thụ. Ông vẫn coi Ađam là thủy-tổ loài người, và quả-quyết rằng: Ađam có tội lớn vì đã chuyển-giao “Tội nguyên tổ” theo nghĩa tuyệt-đối/không khoan-nhượng, đến với tất cả hậu-duệ lẫn con đàn cháu đống, của chính anh. Với thánh Augustinô, mọi con trẻ ngay khi lọt lòng mẹ, chúng không còn vô-tội như nguyên-tổ Ađam từng được thế, do Chúa ban. Còn con trẻ thì khác, chúng có tội là do kết-quả của việc sản-sinh ra con người. Thánh Augustinô, lại vẫn nghĩ: con trẻ nào lại không ngang qua thánh-tẩy, đều sẽ đi thẳng vào chốn lửa-đỏ nóng-cháy, rất hoả-ngục. Ông lại nghĩ: phần đông nhân-loại, đều sẽ chui tọt vào chốn đó, không có cách gì khác. Và, ông cũng nói nhiều về sự “mất-mát rất lớn-lao”, mà tiếng La-tinh khi đó gọi là “massa perditionis”, tức án-phạt cả-thể rất giống tiếng La-tinh khác, gọi là “massa damnata”.

Thứ mười, kết-cuộc thánh Augustinô đã đi đến mô-hình mang tên “Lịch-sử loài người” qua đó, ông tưởng-tượng rằng: Ađam, đã lãnh-nhận trạng-huống đặc-biệt nhờ quà-tặng siêu-nhiên vượt quá khả-năng mà con người có thể làm được. Điều này, được gọi là sự “Công-minh nguyên-thủy”. Chính điều này, đã khiến cho tội của Ađam thêm phần nghiêm-trọng hơn. Chính vì thế, anh đã chuyển-hoán đến họ-hàng/con cháu mình thứ bản-chất nhân-loại ở tình-trạng để luột mất đi những gì Thiên-Chúa đã tự-do ban cho giòng-họ cũng như con cháu của anh, từ Ađam nguyên-thủy. Và, thánh Augustinô lại cũng quan-niệm: do con trẻ được cưu-mang theo cung-cách tình-dục tội-lỗi, nên chúng thừa-hưởng bản-chất có hằn ghi dấu ấn của sự mất-mát, tức những lỗi và tội, rất nguyên-tổ.

Cuối cùng thì, vào thời Công Đồng Orange năm 529, ngang qua ảnh-hưởng của thánh Prosper thành Aquitaine, vốn là học-trò của thánh Augustinô, Giáo hội đã đạt thoả-thuận bằng một định-nghĩa đầy tính giáo-điều về “Tội nguyên-tổ” theo đường lối này. Đức Grêgôriô Cả, từng nắm bắt tư-tưởng này và ngài đã phổ-biến nó trong toàn Giáo-hội La Mã, lúc bấy giờ. Đó, cũng là quyết-định của thánh Isidore thành Seville và thánh Beđe thuộc miền Bắc nước Anh. Khi ấy, lại thấy có lập-trường tư-tưởng theo kiểu Platô-mới cứ cho rằng: toàn-thể nhân-loại lập nên tổng-thể do lão tộc-trưởng đầu đời, của nhân-loại.

Từ đó trở đi, người ta đã tập-trung nhấn mạnh nhiều về cái-gọi-là “Dục-vọng”, về chiều hướng sa-đà của ác-thần/sự-dữ. Đó, là những gì mà nhiều người nay lại gọi là quyền-lực cuốn-hút con người vào những gì xấu-xa, sa-đà, tệ-lậu. Đó, là tính xác-thịt nổi lên chống lại tinh-thần. Và chiều-hướng yêu-thương mến-mộ, tức tình yêu, đã bị tha-hoá do tội-lỗi gây nên. Ý-nghĩa chính-đáng của mọi thu-hút nay bị bôi nhọ. Tính-dục, nay cũng bị vấy bẩn. Mọi quan-hệ dục-tình, bị hiểu là có xáo-trộn, sai quấy. Và từ đó, đã bị thứ dục-tình đầy “tội-lỗi” luôn thao-túng.

Ở đây, cũng nên ghi thêm một biến-cố nữa, rắc-rối hơn, đây là lý-do cho ta thấy: tại sao thánh Bernađô lại đã chối-từ không chấp-nhận giáo-điều “Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội”, tức: giáo-điều khi đó chưa được tuyên-xưng vào thời ngài. Theo thánh Bernađô, thì:  Đức Mẹ, đã cưu-mang Thiên-Chúa-Làm-Người một cách có dục-tình như người thường, nên Mẹ không thoát-khỏi hậu-quả từ đó dẫn đến.  


Tư-tưởng của thánh Augustinô về loài người hôm nay (trong đó có chính ông), thật ra cũng không đáng tin-tưởng theo nghĩa: người bình-thường vẫn thực-sự quan-niệm, đó là tư-tưởng về:

1)    Sự áp-đảo của khát vọng rất “quỷ ma” hoặc ác-thần/sự dữ, hoặc bên tiếng Do thái gọi là “yetzer hara”, tức biểu-tượng tâm-hồn xấu-xa, “xác thịt”, đồng-loã với ác-thần quỷ dữ, rất dục-tình;
2)    Đây là việc định-vị loài người, ngay từ buổi tạo-dựng con người; và không do tai-nạn riêng-biệt nào trong lịch-sử, mà ra hết;
3)    Nói thế có nghĩa:
a)    Không trọn-vẹn thuần-phục mọi chức-năng cao-cả lên Thiên Chúa
b)    Không trọn-vẹn thuần-phục ý-nghĩa chức-năng vào lý-trí và ý-chí
-nếu thế thì, hướng-chiều tình-cảm đã bị hủ-hoá mất rồi;
-ý-nghĩa của mọi cuốn-hút cao-cả đã bị bôi bẩn (đặc biệt về dục-tính);
-quan-hệ tình-dục đã bị xáo-trộn (về nhiều thứ);
-phẩm-cách con người để mất đi tính cao-sang/quí-phái (vì khinh-khi
 chính mình);
   c)  Không trọn-vẹn thuần-phục những gì dẫn đến linh-hồn/tâm-linh; nên con 
         nguời lại đã yếu dần đi và mất hết năng-lực tự-nhiên của chính mình;
d)    Tạo-vật ở cấp thấp (như thú-vật) không trọn-vẹn thuần-phục con người                                            
e)    Có khó-khăn đặc-biệt khi nói đến:
-công ăn việc làm;
-giới-tính;
-cái chết.


Dĩ nhiên, cụm-từ chính nói ở đây là “thuần-phục cách trọn-vẹn”. Như thế có nghĩa, cũng không nhiều quy-phục cho lắm, và chắc-chắn việc thuần-phục như thế cũng không mang số-lượng như ta vẫn nghĩ nó phải có.

Tư-tưởng của thánh Augustinô về thế-giới con người, tức những lỗi cùng tội của thế-gian, trong đó loại-hình mà con người đang sống:


1)    Thời hiện-hành (đối với thời-đại đang trờ tới);
2)    Con người sống một cách bạo-hành, cứ cuốn-hút lẫn nhau;    
3)    Chúng ta là nạn-nhân và cũng là tác-nhân vẫn đụng độ nhau, trong đó;
4)    Các trẻ nhỏ sinh ra trong đời, được coi như nạn-nhân của những ai có tiềm-năng uy-quyền; chúng lại là nạn-nhân và đồng thời, là kẻ thông-đồng với tội lỗi;
5)    Xem như thế, thì lý-lẽ của ác-thần/sự-dữ khiến ta làm nhiều điều xấu xa, sa đà, tệ-lậu hơn, cốt để che-đậy những gì ta và người đi trước, vẫn từng làm  


Cuối cùng thì, những gì nói ở đây, lại là kết-quả và cũng là hệ-quả của “tội/lỗi” chứ?


Ở đây, cũng xin mở ngoặc để ghi thêm một khó-khăn khác, trong số rất nhiều khó khăn, là: ta sống trong nhiều thứ “thế-gian” (mọi xã-hội/trần-gian đều của con người; và một số thế-gian như thế cũng vô-tội hơn lối diễn-tả theo kiểu này. Thật ra thì, thế-giới gia-đình (vẫn được nhà Đạo mình gọi là thế-gian) ở trong đó, đứa-trẻ-mới-vừa-chào-đời là sự tương-phản lớn với lối tả cảnh/tả tình về “thế-giới với thế-gian”, theo kiểu này. Và như thế, sẽ còn nhiều thế-giới còn giống nhiều hơn “thế gian” này, trong Giáo hội mà các bậc mẹ/cha vẫn tiếp-tục đem con mình đến nhà thờ để nhận thánh-tẩy, đấy chứ!


                        ------------------------------------

                                                                       (còn tiếp)


____________________
Lm Kevin O’Shea, CSsR
Mai Tá lược dịch     

Tuesday, 22 July 2014

Lm Vĩnh Sang DCCT: MẸ TÌNH YÊU




Sáng nay, trong cuộc trò chuyện với phóng viên một tờ báo Công Giáo nước ngoài, người phóng viên đặt muốn trao đổi với tôi về lòng sùng kính Mẹ Maria của người tín hữu Việt Nam, câu hỏi được đặt ra là: “Văn hóa Việt Nam có vai trò nào trong lòng sùng kính Đức Mẹ ?” Một câu hỏi thú vị và gợi mở nhiều vấn đề.
Ai trong chúng ta cũng biết, xã hội Việt Nam nặng về tình mẫu tử, vết tích chế độ mẫu hệ vẫn còn in đậm nét trong nhiều sinh hoạt của xã hội, ngay trong ngôn ngữ, những gì là cao quý, những gì là thương mến, ngôn ngữ Việt Nam đều dành cho người làm mẹ, như: Mẹ đất nước, Mẹ Việt Nam, Mẹ tổ quốc, quê Mẹ, tiếng Mẹ đẻ… Ngay trong Giáo Hội thì vẫn đề cao chữ mẹ: Nhà Mẹ, Tỉnh Dòng Mẹ, Mẹ Nhà Dòng, Nhà Thờ Chính Tòa của một Giáo Phận được coi là Nhà Thờ Mẹ của các Nhà Thờ khác… Thật ra một số ngôn ngữ trên thế giới cũng có, nhưng ngôn ngữ Việt vẫn có những nét hết sức tình cảm sâu đậm và thân thương dành cho Mẹ.
Trong Giáo Hội Việt Nam, người tín hữu sùng kính Đức Mẹ một cách đặc biệt, Nhà Thờ nào cũng dành một vị trí trang trọng xây dựng đài Đức Mẹ hoặc hang đá Đức Mẹ, lòng Nhà Thờ nào cũng có “bàn thờ kính Đức Mẹ”, ngay trong các gia đình thì bàn thờ nhiều khi vẫn chỉ đặt có mỗi tượng hoặc ảnh Đức Mẹ ! Giáo Phận nào cũng có ít là một Trung Tâm Hành Hương kính Đức Mẹ, hầu hết các trung tâm này đều hình thành từ phía những anh chị em giáo dân sùng mộ Đức Mẹ trước khi được giáo quyền chuẩn nhận và đứng ra chính thức tổ chức và phát triển. Các cuộc hành hương hiện tại trong nước đều là các cuộc hành hương đến với các Trung Tâm sùng kính Đức Maria, trong khi các cuộc hành hương đến với các Trung Tâm dâng kính Chúa Giêsu hoặc các Trung Tâm có Thánh Tích Tử Đạo xem ra còn rất khiêm tốn.
Trung Tâm Hành Hương kính Đức Mẹ hiện tại trên quê hương Việt Nam chúng ta nhiều như vậy, các hoạt động bày tỏ lòng sùng kính Mẹ Maria diễn ra sầm uất và đều đặn hằng năm và khắp nơi, thế nhưng những trung tâm đó và những sinh hoạt ấy lại vẫn chịu ảnh hưởng rất đậm từ các hình tượng và ngôn ngữ truyền thống của văn hóa Phương Tây.
Tháng hoa ( tháng 5 ) rất phổ biến trong sinh hoạt tôn giáo Việt Nam, nhưng những đoạn ca vãn mang âm nhạc và tiết tấu dân ca Bắc Bộ, nơi sản sinh ra loại hình dâng hoa này lại gần như mai một. Hình thức dâng hoa kính Đức Mẹ vẫn còn, nhưng thay vào đó là những bài tân nhạc quen thuộc của Nhà Thờ. Hầu hết các bạn trẻ không còn ngâm nga các bài "ca vãn" của các "con hoa" thuở xưa nữa, các nghệ nhân thì già yếu và mất dần, cô đơn và lặng lẽ vài nhà nghiên cứu ghi lại các bài ca vãn rồi cất vào tủ sâu ít ai ngó tới. Thôi thì không còn thích hợp nữa thì phải thay đổi, nhưng thay thế làm sao để văn hóa dân tộc còn tồn tại và phát triển, để người Việt còn tìm gặp được “ngôn ngữ mẹ đẻ" của mình trong việc thờ phượng.
Khi phát hiện ra tượng Đức Mẹ bị gãy tay ở Măng Đen, có hai khuynh hướng ngược hẳn nhau tranh luận về bức tượng này, nhóm muốn giữ nguyên hình ảnh Đức Mẹ bị gãy tay để tôn kính, họ nói họ tìm được chính họ trong hình tượng khổ đau này. Nhóm đối nghịch cho rằng cần phải sửa chữa và tôn tạo, họ lý luận mẹ tôi bị tai nạn gãy tay, tôi phải đưa vào bệnh viện băng bó, nếu mất tay thì phải làm tay giả chứ không thể để cụt mãi như vậy. Một cuộc thăm dò ngấm ngầm được thực hiện, ban tổ chức in hai loại lịch vào đầu năm 2013, hai loại lịch in hai hình Đức Mẹ theo hai khuynh hướng nêu trên, kết quả loại lịch hình Đức Mẹ gãy tay bán hết, loại lịch hình Đức Mẹ được lắp tay và sửa chữa sơn phết tội đẹp lại bị ế hoàn toàn.
Tìm thấy chính mình trong hình ảnh của Mẹ là một nhu cầu và một khuynh hướng tất yếu, con người cảm thấy trọn vẹn khi được thờ phượng bằng chính “ngôn ngữ” của mình. Ngôn ngữ hình thể, âm thanh, không gian, màu sắc… Mấy năm gần đây, người ta đã xây dựng một số nhà sàn trên Tây Nguyên bằng bêtông, nhưng người dân tộc lại không thích và không muốn bước vào những ngôi nhà này, họ bảo không phải nhà của họ, họ không tìm thấy không gian của họ được tái tạo lại bằng vật liệu xa lạ.
Cần nhớ là kiến trúc chính là nghệ thuật tái tạo không gian sống. Vấn đề này được đặt ra một cách nghiêm túc cho các Trung Tâm Hành Hương kính Đức Mẹ tại Việt Nam, nếu không chúng ta chỉ lập lại một cách vụng về các Trung Tâm kính Đức Mẹ nào khác trên thế giới, và người Việt không có cơ hội được diễn tả niềm tin của mình bằng chính ngôn ngữ của mình.
Trung Tâm Hành Hương La Vang tại Quảng Trị là Trung Tâm của cả nước, năm 1961 ( Huế ngày 13.4.1961 ) và 1980 ( Hà Nội ngày 1.5.1980 ), hai lần hai thời điểm Hội Đồng Giám Mục Việt Nam xác quyết như vậy. Làm sao để Trung Tâm Hành Hương Đức Mẹ La Vang thực sự là Trung Tâm Hành Hương của người Việt. Đến đó, người Việt cảm nhận như vào nhà mình, chan hòa giữa không gian Việt, ngôn ngữ Việt, màu sắc Việt, tương quan Việt, tâm linh Việt, hồn Việt...
Bài toán khó nhưng không thể không có lời giải đáp. Cần một sự chung sức, tôn trọng, thoát khỏi thành kiến, thoát khỏi thói quen nếp nghĩ, cần phải đột phá, chấp nhận thử thách, chấp nhận sự tìm kiếm.
Ngày 15 tháng 8 năm 2014, ngày Đại Hội lần thứ 30, con cái của Mẹ đổ về từ muôn hướng, cùng với lời kinh là lời nguyện cầu cho công việc được tốt đẹp theo thánh ý Chúa. Công trình của Mẹ, Mẹ sẽ giữ gìn và hướng dẫn theo ý Mẹ vậy.
Lm. VĨNH SANG, DCCT, 18.7.2014