Monday, 15 September 2014

Lm Vĩnh Sang DCCT:Cải Cách Ruộng Đất



CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT
Lm Vĩnh Sang DCCT
Mấy hôm nay trên các trang báo, các đài truyền hình, các websites, các blog và facebook nổ tung một lượng thông tin rất lớn về cuộc triển lãm Cải Cách Ruộng Đất ( 1946 – 1955 ) tại Hà Nội, cơn bão thông tin như xới lên vết đau mà lâu lắm rồi, 60 năm tưởng chìm vào quên lãng, chí ít là cũng tạm ngủ yên vì không mấy ai nhắc đến nữa. Bao nhiêu cảm xúc được phơi bày cho thấy, quả thật là một cuộc “cách mạng long trời lở đất” trong quá khứ còn hằn dấu cho đến hôm nay. Phản ứng mạnh và sâu rộng như thế này không biết đến bao giờ biến cố tang tóc này mới lắng xuống và trôi vào dĩ vãng ?
Cuộc cải cách ruộng đất những năm ấy ghi một dấu ấn sâu đậm vào cuộc sống gia đình tôi, cách riêng cha tôi, mà cho đến giờ chết ông vẫn còn chưa nguôi ngoai nỗi đau buồn. Không riêng gì nhà tôi, hầu hết các gia đình ở miền Bắc đa phần đều hứng chịu, người cách này kẻ cách khác, kẻ cả những gia đình đã vào Nam trước nhưng vẫn có liên hệ với họ hàng thân thuộc ở lại miền Bắc.
Năm 1945, khi Việt Minh nổi dậy cướp chính quyền, cha tôi, đang còn là một thanh niên, vội vàng bỏ lại người vợ trẻ và hai đứa con ở miền quê nghèo nàn của mình, trốn lên thành thị để tránh bị ruồng bắt. Cha tôi chẳng làm gì để phải mắc “nợ máu” với nhân dân, nhưng ông bị tìm bắt chỉ vì đã là chánh hội Nam Thanh ( hội Thanh Niên Công Giáo trong Giáo Xứ thời bấy giờ ), bị xem là lực lượng đối kháng với họ. Mẹ tôi kể “Bố vừa thoát ra khỏi nhà ban chiều, lúc sập tối, thì nửa đêm họ ập vào nhà lục soát tra khảo mẹ”.
Sau cái đêm kinh hoàng ấy, mẹ tôi đã tìm cách đưa đứa con trai đầu lòng trốn lên thành Nam theo bố, ông nội tôi thì giữ bằng được đứa con trai thứ hai ở lại quê để “hương khói tổ tiên”. Mẹ tôi sẽ tìm cách trở về làng "đánh tháo" đứa con này của mình, cha tôi sẽ đạo diễn "chiến dịch" ly kỳ ấy, vì không chịu được cảnh “cứ xới cơm lên là mẹ lại khóc vì mất con”.
Cuộc "bắt cóc" đứa con trai được thực hiện đúng ngày lễ Đức Mẹ lên Trời, bổn mạng của Giáo Họ, mọi người vui vẻ tham gia cuộc rước kiệu, ông nội tôi mải mê đọc kinh đi theo kiệu, anh tôi thoát ra sau mật lệnh của thím út, hai mẹ con gặp nhau ở bãi tha ma rồi cắm đầu chạy. Cuộc đào thoát diễn ra ban đêm, hai mẹ con băng qua các cánh đồng chứ không dám chạy trên mặt lộ sợ bị bắt lại. Khi đến được nơi an toàn là bến đò, hai mẹ con xuống núp ở một canô chở chiếu đi buôn. Lúc này mẹ tôi mới phát hiện ra túi bánh kẹo cha tôi mua, dặn trao cho thím út mang về làm quà cho mọi người, vẫn còn đeo nguyên bên người… Sau này, năm 1975, các anh tôi phải đi tù cải tạo xa, nhiều tháng ngày không tin tức, một lần nữa mẹ tôi lại nhiều phen băng rừng tìm con, bà lồng lộn lên như con thú bị mất con, quyết tâm dành lại cho bằng được.
Di cư vào miền Nam rồi, ngày được tin ông nội tôi mất, cả nhà bao trùm một bầu khí thê lương. Bố tôi ngồi rầu rĩ không nói gì, mấy ngày trôi qua trong im lặng đáng sợ, chỉ có tiếng thở dài của bố và của mẹ, thỉnh thoảng các chú tôi đến nhà, mấy anh em lại ngồi vò đầu thở dài với nhau. Mấy ngày sau bố tôi tổ chức phát tang rồi đi dâng lễ ở Nhà Thờ, tối tối đọc kinh trong nỗi buồn hiu hắt. Sau này nhờ Ủy Hội Quốc Tế, các danh thiếp liên lạc Bắc – Nam cho chúng tôi biết rõ hơn về cái chết của ông. Sau 30 tháng 4, chính cô tôi vào Nam kể lại nhiều chi tiết đau xót hơn nữa.
Ông tôi, một nông dân nghèo, sở hửu 2 công ruộng, bị xếp loại địa chủ lôi ra đầu tố. Cả cuộc đời chân lấm tay bùn, cày cấy trên chính mảnh ruộng của mình còn không đủ ăn lấy ruộng đâu ra mà cho tá điền làm thuê ? Tính tình ông nhân hậu, cho người hàng xóm mượn vài yến thóc, thế cũng đủ là nguyên nhân để bị kết tội địa chủ. Người ta vin vào việc ông có thóc cho vay, chính người hàng xóm từng được vay thóc đã quay ngược lại vu cáo ông tôi, rồi mấy người trong xóm theo phong trào, nhảy dựng lên mà kể tội, bảo “lắm của nhiều bạc nên mới phè phỡn sáng chiều chỉ mỗi một việc đến nhà thờ đọc kinh” !?!
Tòa Án Nhân Dân quyết định xử tử hình ông tôi. Đêm trước ngày thi hành án, cô tôi nắm một nắm cơm bò vào sân đình nơi nhốt ông tôi để ông ăn đỡ đói, khi bò vào đến nơi trói ông tôi, sờ vào người thì ông tôi đã mất rồi, người cứng đờ không còn biết gì nữa, cô tôi sợ quá không dám phản ứng gì, lẳng lặng bò ra. Hôm sau họ đem xác ông ra vùi ngoài bãi tha ma, đến con ruột cũng không dám thắp nén hương cho bố, mãi sau này mới đem cải táng về chung trong lăng mộ của gia tộc.
Cũng sau năm 75, người hàng xóm từng cầm đầu đám đông đứng lên đấu tố ông tôi tìm vào Nam, ông ta tìm đến thăm gia đình tôi và ngỏ lời xin lỗi, cha tôi lẳng lặng không một lời trách cứ. Sau bữa cơm mời khách, cha tôi bảo mẹ tôi cho họ ít tiền xe.
Khách về rồi, cha mẹ tôi bùng nổ xung đột, khi có khách bà nhịn không nói, khách đi rồi, bà bảo sao lại có thể dọn cơm đãi đằng kẻ đã vô ơn bất nghĩa, đã góp phần làm hại cha của mình cơ chứ. Cha tôi vẫn không một lời, gương mặt ông hằn lên nỗi đau khổ. Sau này khi ông đau nặng, những ngày tôi kề cận bên ông, nghe ông tâm sự, tôi mới hiểu ông bị dằn vặt về tội bất hiếu, đã vắng mặt trong những ngày khốn khổ của cha mình.
Không ai có thể đo được sự tàn phá của một chính sách tàn ác và sai lầm, nỗi đau len lỏi vào tận từng tâm hồn con người nạn nhân, di chứng đến nhiều thế hệ. Cái cách thi hành chính sách "cải cách ruộng đất" làm sụp đổ cả một hệ thống đạo đức xã hội, phá tan tình làng nghĩa xóm, gia đình anh em họ hàng ruột thị, nó cắt nghĩa tại sao tội ác về sau này sẽ hoành hành hung tợn, con người sẽ chém giết nhau không gớm tay.
Người tin vào Chúa đứng trước thách đố vô cùng to lớn, nếu thật sự vững tin vào Chúa, phải chứng minh được rằng Tin Mừng có sức hàn gắn, chữa lành và thay đổi mọi sự. Mỗi người tùy theo lương tâm mách bảo mà dấn thân cho sự sống của dân tộc mình, dấn thân để không chỉ mang lại sự sống, nhưng còn là Sự Sống dồi dào bất diệt ( x. Ga 10, 10 ).
Lm. VĨNH SANG, DCCT, 13.9.2014

Saturday, 13 September 2014

Lm Nguyễn Thế Thuấn Tông Đồ Công Vụ: CHƯƠNG 14



CHƯƠNG 14
LY KHAI GIỮA HỘI THÁNH
VÀ ĐẠO DOTHÁI
------
Trong khoảng thời gian năm 49 (Công đồng Yêrusalem) và 64 (Nêrô cấm đạo), việc truyền giáo bành trướng mạnh. Vấn đề Lề luật nói được đã thanh toán. Thời gian này chúng ta tiếp xúc trực tiếp được với những vấn đề bên trong Hội thánh nhờ các thư của thánh Phaolô, trái lại với 20 năm (từ năm 30 đến 49) đầu (ta chỉ biết gián tiếp do những văn kiện thời sau thuật lại).
1. Cuộc tranh luận Antiokia đã kết thúc bằng một “modus vivendi” : Modus vivendi đó là chính sắc chỉ Công đồng Yêrusalem (Cv15:29). Như đã thấy vấn đề xung đột là vấn đề liên can đến Dothái – còn vấn đề công đồng là vấn đề liên can đến tín hữu dân ngoại. Sau khi đã giải quyết : tín hữu dân ngoại được tự do đổi luật Môsê, thì liền có vấn đề : tín hữu Dothái trong những cộng đoàn hỗn hợp có phép bỏ Lề luật và cùng chung sống, đồng bàn cùng tín hữu dân ngoại. Người ta đã thực hành trước khi giải quyết theo nguyên tắc : Antiokia đã sống như vậy từ đầu. Cả Phêrô nữa khi viếng cộng đoàn cũng thế. Nhưng có những người Yacôbê phái đến không nhận. Phêrô, Barnaba, tín hữu Dothái dụ dựa nhưng đã ngả về phía họ. Phaolô đã kháng cự dựa trên chính cốt tủy của Tân ước : ơn cứu rỗi dựa trên nền tảng độc nhất “Tin vào Chúa Kitô chết và sống lại”.
Nhưng thực sự tranh luận kết thúc làm sao, Ga2 không nói. Cv cũng không. Đây là ức thuyết cái nhiên : sắc chỉ Công đồng đã ra để dàn xếp việc này : truyền cho tín hữu dân ngoại giữ những khoản Lề luật (Lv17:8-14 8:6tt) đã ra cho khách ngụ cư giữa Dothái. Nhờ sự nhún nhượng này của anh em dân ngoại, anh em Dothái có thể sống chung với họ dễ dàng, và hạp với Lề luật, làm cho người Dothái không thể bắt bẻ được tín hữu. Nhưng cách xử thế đó giả thiết tín hữu Dothái vẫn còn phải phục tùng Lề luật (lập trường của Yêrusalem dưới sự lĩnh đạo của Yacôbê) trừ ra những điều ngăn trở việc đồng bàn với tín hữu dân ngoại. Phaolô hình như không biết đến sắc chỉ đó. Nhưng sắc chỉ đó dần dần đã được áp dụng trong cả Hội thánh, nhưng với một ý nghĩa mới : Kh2:14 20 24 nhấn vào các khoản đó như một cách tuyên tín chống lại đạo của dân ngoại và những bè ngộ đạo (lý do đó đã dội lại trong 1Cor10:5tt). Rồi đến thế kỷ 2, sắc chỉ lại thay đổi ý nghĩa một lần nữa : đó là văn bản tây phương “một toát yếu luân lý” cấm 3 trọng tội (thờ quấy, dâm dục, giết người – và “khuôn vàng thước ngọc” làm mẫu cho cách xử thế). Nhưng ngay thế hệ thứ 2 (lối 70 trở đi) sắc chỉ nói được là lỗi thời nếu xét về mục đích tiên khởi (chung chung tín hữu Dothái không còn giữ luật Môsê nữa). Phong trào đã thấy xuất hiện vào lối 57 rồi (Cv21:20tt).
Vấn đề được dàn xếp ở Syri do sắc chỉ mặc một hình thức khác trong các giáo hội của Phaolô : sự căng thẳng giữa kẻ “mạnh” và người “yếu” (1Cor8-20 Rm14:1-15:13). Người yếu: một phần tín hữu Dothái không dám mạnh dạn bỏ ngoài những khoản Lề luật Môsê : cách riêng về việc ăn uống. Rm14:1tt : các tín hữu đó muốn sống như những Dothái đạo đức theo mẫu Đn1:8-16. Nhưng vấn đề đó chẳng bao lâu cũng được lướt qua, và Cv21:20tt ám chỉ đến phong trào tín hữu Dothái bỏ cả cắt bì con cái.
2. Vấn đề Dothái phiệt. Phong trào tín hữu Dothái bãi bỏ cả Luật Môsê gây xúc động lớn trong Giáo hội Falệtin (Cv21:20), nên có lẽ đó là lý do làm cho xuất hiện phong trào Dothái phiệt. Trước công đồng, Dothái phiệt muốn tránh đoạn giao với các Hội đường Dothái kiều, bây giờ họ muốn tránh cho tín hữu Dothái chối bỏ Lề luật. Vấn đề được biết là nhờ Ga : có những giảng viên nại vào các Tông đồ tiên khởi mà chống lại Phaolô, và những khuyên dụ tín hữu Galát (bắt buộc?) chịu cắt bì (Ga5:3 12 6:12 15) : nhờ đó mà nhận Lề luật (Ga4:21) chung chứ không phải mọi khoản (Ga5:3).
Môn phái Tubingen của ChBaur : một phong trào lớn lao hoạt động ở Corinthô và Rôma. Theo họ thì Phêrô sau vụ xung đột Antiokia, các tông đồ đều ngả theo. Chứng chỉ : các thư Corinthô nói đến những bè đảng, những kẻ chống đối Phaolô, Rm16:17-20 Ph3:2t có những cảnh cáo nghiêm nhặt.
Nhưng đó là dựa trên tưởng tượng. Chỉ có Ga mới nói đến việc đòi tín hữu cắt bì. Sau biến cố Galát, tuy rằng thỉnh thoảng đó đây đạo Dothái thượng luật ló hiện (có ít chứng chỉ về Tiểu á và Syri vào thế kỷ 2), nhưng nói chung thì đó là một phong trào không có triển vọng. Giải quyết của Ga đã nên nguyên tắc hướng đạo Hội thánh.
3. Một vài lời tương lai của Giáo hội Falệtin. Sau cuộc cấm cách do Agripa I (năm 44), Giáo hội được yên tạm vào thời các trấn thủ (44:52). Nhưng từ năm 50 trở đi, phong trào nhiệt thành hoạt động ráo riết. Họ thù ghét và sẵn sàng thủ tiêu bất cứ người Dothái nào có giao dịch với Hilạp và Rôma, và không “nhiệt thành” với Lề luật. Muốn sống, Giáo hội cũng hết sức tỏ ra mình sùng thượng Lề luật, nhưng vô hiệu, đầu cuộc khởi nghĩa chống Rôma, tín hữu bị loại như “Dothái gian”; họ phải tản cư qua Pella, và sau đó trôi dạt, hoặc sáp nhập vào Hội thánh dân ngoại, hoặc đã cứ đóng kín trong lập trường đạo lý sơ thời mà tach hẳn khỏi Hội thánh đại đồng, và thành lạc đạo như nhóm Ebiônit.
(vấn đề Judéo-christianisme : Daniélou
vấn đề :
Ebionit : Catholicisme III, 1231/3 tiếng EBIONITES (GBardy).



              : JDaniélou, Théologie du Judéochristianisme, 68-76).