Monday, 24 April 2017

Lm Vĩnh Sang DCCT : "BỎ TÔI ĐỨNG BÊN ĐỜI KIA"



"BỎ TÔI ĐỨNG BÊN ĐỜI KIA"
( Đêm thấy ta là thác đổ – Trịnh Công Sơn )
Tôi thường phải dọn phòng như dọn cuộc đời mình chuẩn bị cho ngày ra đi, dọn nhiều thứ và sống đi sống lại cái cảm giác tần ngần đem chia những cái mình đang có cho người khác. Thú thật đôi khi rất khó, cần phải có một quyết định dứt khoát, có cái thoát lần này nhưng sẽ không thoát được lần sau.
Dù vậy vẫn có một cái luôn luôn thoát, đó là cái cặp da bố tôi mua cho tôi ngày tôi bước qua ngưỡng cửa Trung học, bước vào lớp Đệ Thất, một cái bước trong những cái bước ghi dấu ấn cuộc đời. Vậy là thoát được cái quần short đeo dây, từ nay được mặc quần dài xanh, áo trắng, có phù hiệu gắn trên ngực, được đạp xe đến trường thênh thang nắng sáng và gió chiều, không còn phải đứng chờ bố đến đón sau giờ tan học. Khi ấy tôi thành “người lớn”. Cái cảm giác thành người lớn một lần nữa trở lại của quãng đời học sinh, đó là ngày tựu trường của những học sinh bước qua kỳ thi Tú Tài phần I, những anh những chị vào lớp Đệ Nhất xem ra lớn hẳn so với các bạn năm lớp Đệ Nhị. Cái cảm giác người lớn được tôn tạo bởi được đi giầy đen, giã từ đôi sandale cũ kỹ.
Cái cặp da theo tôi suốt đời học trò, sau này theo model mới, vài cuốn sách kẹp vào bình xăng phía trước xe Suzuki, tôi cất và dùng cặp để chứa các chứng chỉ, các sổ điểm hàng năm, các bảng danh dự hàng tháng và hàng năm, các giấy nhãn của các phần thưởng cuối năm, chứng chỉ theo học các khóa chuyên môn của trường Đại Học Ohio, Hoa Kỳ, và cả hai chứng chỉ Tú Tài của mình. Ngày 30.4.1975 tôi ở Vũng Tàu theo chân chú tôi tìm đường thoát đi, nhưng không hiểu sao tôi tiễn chú xuống tàu ở Bến Đá rồi quay lên bờ trở về. Ở Sàigòn bố mẹ tôi tưởng tôi đã đi thoát nên gởi người thân mang toàn bộ hồ sơ trong cái cặp sang Mỹ cho tôi, nhiều năm sau từ Mỹ nó trở lại với tôi, quy cố hương và theo nhau cho đến bây giờ.
Hơn 50 năm, cái vật dụng tầm thường vẫn tồn tại với tôi, chắc nó vẫn còn đi với tôi mang theo những tự hào và những kỷ niệm thời đi học. Ngày Chúa gọi, chắc chắn tôi phải để nó lại, rồi nó ra sao tôi sẽ chẳng biết nữa. “Cái gì mình mua sắm, nay nó không còn thuộc về mình” ( lời trên một mộ bia của ai đó ).
Qua hình ảnh cái cặp, chúng ta nói về sự bền vững, nói về nghĩa thủy chung khá dễ dàng. Không chỉ cái cặp, từ cái xe đạp, cái máy khâu hiệu Brother, hiệu Singer… cho đến con người, cái gì cũng lâu dài và bền vững. Phần đông nhân viên làm việc cho các hãng tư nhân, các "hiệu buôn" ( theo cách gọi trước 75 ), ở bên nhau suốt đời mà không hề nhảy việc, không vội bỏ đi khi có cơ hội. Những người thợ hồ, thợ mộc, yêu nghề, cả đời sống nghề, cha truyền con nối, họ mân mê cái bay, cái bàn chà, cái thước như báu vật đời họ. Khi tuyển thợ vào công trình, người cai thầu chỉ cần nhìn cái bay, ngắm cái độ sắc, độ vẹt của lưỡi bay biết ngay tay nghề cao thấp. Người họa viên kiến trúc giữ gìn cây Tê, cái Ke, chau chuốt cái bút chì với các thông số về độ mềm của chì một cách cẩn trọng, họ đặt giấy vẽ vào bàn vẽ trân trọng như bắt đầu một nghi thức tế lễ thần thiêng.
Những hình ảnh thủy chung bay nhanh thậm chí mất dạng trong cuộc sống hôm nay. Có một kiểu sống mà Đức Thánh Cha Phanxicô không ngừng kêu lên trong các buổi nói chuyện của ngài, trong các văn kiện của Hội Thánh, ngài gọi thảm họa đó là một thứ “văn hóa loại trừ”. Mọi thứ nhanh chóng trở thành rác thải, kể cả con người.
“… Sao có thể khi một người vô gia cư chết vì không được che chở thì không được kể là một tin tức, trong khi thị trường chứng khoán mất hai điểm thì lại là tin tức ? Đây là một trường hợp loại trừ…
… Thái độ loại trừ làm thay đổi ý nghĩa của tư cách là thành phần của xã hội chúng ta đang sống; những người bị loại trừ không còn là phần phụ thuộc hay bên lề, hay bị tước quyền trong xã hội – họ thậm chí không còn là thành phần của xã hội nữa ! Những người bị loại trừ không phải là những người “bị bóc lột” mà là những người bị gạt ra ngoài, những đồ thừa”. ( Tông Huấn Niềm Vui Tin Mừng số 53 ).
“... nền văn hoá loại bỏ đang ảnh hưởng đến người bị loại trừ khi nó nhanh chóng giảm thiểu mọi thứ thành rác rưởi…” ( Thông Điệp Laudato Si, số 22 ).
“ …một thứ “văn hóa tạm bợ”. Tôi nghĩ đến, chẳng hạn, lối sống tốc độ, trong đó người ta thay đổi từ quan hệ tình cảm này sang quan hệ tình cảm khác. Người ta tưởng rằng tình yêu, cũng giống như các mạng xã hội, có thể kết nối hay ngưng kết nối tùy theo sở thích của người tiêu dùng và cũng có thể nhanh chóng “bị chặn”…
… Người ta chuyển đổi cách sống các quan hệ tình cảm giữa con người thành thái độ sống như khi ứng xử với các đồ vật và môi trường, đó là xem mọi sự đều có thể vứt bỏ, mỗi người dùng xong rồi bỏ, mua và hủy, khai thác và vắt kiệt. Rồi thì chia tay ! …” ( Tông Huấn Niềm Vui của Tình Yêu, số 39 ).
Đó là thảm cảnh ngày hôm nay của chúng ta. Ở môi trường Tôn Giáo cũng có phần chịu ảnh hưởng của lối ứng xử như vậy. Nhiều vị khi lãnh trách nhiệm đã nhẫn tâm thay đổi những công trình của người đi trước một cách vô tội vạ, hoang phí và đua đòi, bất chấp giá trị lịch sử, văn hóa và tình cảm của người đi trước lẫn cộng đoàn. Họ chỉ nhắm khẳng định mình bằng cách xóa bỏ người trước. Thái độ này không những không giúp cho lời giảng dạy về thủy chung và vĩnh hằng được rõ nét, mà còn làm cho thực tại này bị méo mó bởi lối sống theo “văn hóa loại trừ”.
Ngôi Hai Thiên Chúa làm người và trung thành với sứ vụ cho đến chết, cái chết và sự phục sinh của Người bày tỏ quyền năng Thương Xót vô cùng tận của Thiên Chúa. Thách đố của chúng ta là chọn lựa hôm nay của chúng ta theo hướng nào ? Để cuốn theo “Văn hóa loại trừ” hay thủy chung với Đấng Thủy Chung ?
Lm. Vĩnh Sang, DCCT, 20.4.2017

Thursday, 20 April 2017

Lm Brendan McConvery CSsR: Linh ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp: xuất phát từ Crete?





Linh ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp có lẽ đã được vẽ trên đảo Crete vào cuối thế kỷ 15. Crete là một trường phái phát triển rực rỡ và bức linh ảnh của chúng ta là một minh chứng cho điều đó.

http://chuacuuthe.com/media/uploads/2017/04/Our-Lady-of-Perpetual-Help-576x768.jpg
Tương truyền, linh ảnh Đức Mẹ hằng Cứu Giúp một thương gia người Ý đánh cắp từ một nhà thờ trên đảo Crete và mang đến Rôma. Sau nhiều nỗ lực che giấu, bức linh ảnh đã được trao lại cho nhà thờ Thánh Matthêu, ở chỗ bây giờ là đường Via Merulana. Đây cũng là nơi là trưng bày bức linh ảnh cho các tín hữu tôn kính. Mặc dù không thể xác định rõ ràng mọi chi tiết liên quan đến nguồn gốc của bức linh ảnh, có thể nói xuất xứ từ Crete là một thông tin xác thực.

Linh ảnh được sáng tạo tại Crete
Từ năm 1212 đến năm 1669, Crete nằm dưới sự cai trị của Venice – một nước cộng hòa thương mại thịnh vượng. Dân chúng nơi đây theo nghi điển Byzantine hoặc theo Giáo hội Chính thống, trong khi Venice là một quốc gia theo Công giáo Latinh. Hòn đảo này phát triển thịnh vượng dưới sự cai trị của người Venice. Giống như những nơi khác ở nước Ý thời trung cổ, các nghệ sĩ ở Venice nhận được sự bảo trợ của chính quyền. Nhờ đó, các phong cách vẽ tranh của Tây phương và Đông phương đã phát triển rực rỡ ở đây. Thời đó đó, phong cách vẽ tranh Tây phương luôn mang tính tự nhiên và giàu tính tưởng tượng, còn phong cách Đông phương thì theo những nguyên tắc truyền thống cố định cả về các phần tử trong linh ảnh cũng như cách trình bày và màu sắc của các phần tử đó.

Khi thành phố Constantinople, thủ đô của Đế quốc phương Đông, rơi vào tay người Thổ vào năm 1453, nhiều họa sĩ vẽ linh ảnh trong đế chế đã đến tìm sự bảo trợ ở đảo Crete. Điều này mang lại sự phục hưng cho đời sống nghệ thuật của hòn đảo. Một trong những nghệ sĩ nổi tiếng nhất ở Crete là Doménikos Theotokópoulos, sau này đã chuyển đến Tây Ban Nha và trở nên nổi tiếng với biệt danh “El Greco” cùng phong cách độc đáo của mình – một phong cách hầu như lấy cảm hứng từ cách vẽ linh ảnh truyền thống.
Linh ảnh Crete được đặc trưng bởi những đường nét chính xác của các nhân vật cũng như việc tạo hình một cách kĩ lưỡng với việc sử dụng những gam màu sáng nhỏ nổi bật ở vùng má. Trang phục được trình bày hầu như dựa theo khoa hình học, với những gam màu mạnh. Những đặc điểm đó có thể thấy rõ trong bức linh ảnh Mẹ Hằng Cứu Giúp.

Trinh nữ chịu Khổ nạn
Trong truyền thống Byzantine, có năm thể loại linh ảnh chính về Mẹ Thiên Chúa. Thể loại đầu tiên và phổ biến nhất là thể loại “Đức Mẹ là Đấng chỉ đường” (tiếng Hy lạp là “Hodigitria”), trong đó Đức Maria bồng Hài Nhi và hướng về Người, như hướng dẫn người xem đến với Thiên Chúa và ơn cứu độ. Thể loại thứ hai là “Đức Mẹ Khoan dung Thương xót” (“Eleusa”), nhấn mạnh đến tình yêu của người mẹ dành cho Hài Nhi, giữ Hài Nhi gần gò má trong khi Hài Nhi quàng cánh tay quanh cổ mẹ mình. Ở thế loại thứ ba, “Đức Mẹ Vô cùng Nhân Lành” (Panakranta), người mẹ ngồi trên ngai nữ hoàng với Hài Nhi trên đùi minh. Thể loại thứ tư là “Đức Mẹ là Dấu chỉ Cứu độ” (Panagia), trong đó Đức Maria được miêu tả với hai tay giơ lên trong lời cầu nguyện, với Hài Nhi được bao bọc trong một vòng tròn – có ý chỉ cung lòng của Đức Maria. Cuối cùng, thể loại “Đấng Chuyển câu” (Agiosortissa) là loại duy nhất không trình bày Đức Maria với Hài Nhi: hai tay Mẹ giơ lên cầu khẩn.
born-in-crete

Bức ảnh “Mẹ Thiên Chúa chịu Khổ nạn” tại đảo Síp với niên đại 1192
Theo thời gian, các thể loại linh ảnh mới xuất hiện, thường dựa theo năm kiểu cổ điển nói trên. Linh ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp của chúng ta thuộc về một loại thường được gọi là “Mẹ Thiên Chúachịu Khổ nạn” (Arakiotissa). Trong đó, người mẹ giữ chặt hài nhi trong tay, giống như trong thể loại “Đức Mẹ là Đấng chỉ đường” và “Đức Mẹ Khoan dung Thương xót”. Tuy nhiên, điều khác biệt nhất là sự hiện diện của hai thiên thần, Gabriel và Micael, ở phía trên, mang dụng cụ của cuộc khổ nạn, với hai bàn tay được che phủ. Thời đó, khi người hầu mang vật gì đến cho hoàng đế, họ che tay mình để bày tỏ sự tôn trọng. Thường thường, ta thấy một chiếc dép tuột khỏi chân hài nhi. Đây là một chi tiết giản dị nhưng giúp gợi đến sự mong manh của hài nhi cũng như một biểu tượng gặp thấy trong Thánh Kinh khi một vị hoàng để từ bỏ quyền lực của mình (xem Đnl 25, 9 và Rut 4, 7-8).

Dấu tích cổ nhất của thể loại “Mẹ Thiên Chúachịu Khổ nạn” có lẽ là một bức tranh trên tường tại một nhà thờ ở đảo Síp có niên đại từ năm 1192. Trong bức linh ảnh đó, Đức Maria được trình bày toàn thân, ôm người con chân trần với hai thiên thần được ghi lại đầy đủ thân hình ở mỗi bên. Điều này cho thấy đây là một thể loại linh ảnh được phổ biến trong các nhà thờ Chính thống giáo vùng Địa Trung hải. Việc bức linh ảnh này được vẽ trên chất liệu gỗ, dễ dàng cho việc vận chuyển và trưng bày tại tự gia, càng chứng minh rằng đây là một thể loại xuất hiện nhiều tại khu vực này thời bấy giờ.

Cuộc Khổ nạn Trọn đời
Ẩn sau sự đơn giản của bức linh ảnh “Mẹ Thiên Chúa chịu Khổ nạn” là một kho tàng thần học Thánh Kinh phong phú. Bản văn làm cơ sở cho việc trình bày linh ảnh này là bản văn nói về chức vụ tư tế của Chúa Kitô trong thư gửi tín hữu Hipri. Tác giả lá thư nói rằng “khi vào trần gian, Đức Kitô nói : Chúa đã không ưa hy lễ và hiến tế, nhưng đã tạo cho con một thân thể. Chúa cũng chẳng thích lễ toàn thiêu và lễ xá tội. Bấy giờ con mới thưa : Lạy Thiên Chúa, này con đây, con đến để thực thi ý Ngài” (Hr 10:5-7). Nói cách khác, ngay từ đầu, con tim của Chúa Giêsu đã hướng về cái chết của Người như một hành động vâng lời và tuân phục ý muốn của Chúa Cha.

Phụng vụ lễ Dâng Chúa Giêsu trong Đền thờ cũng nhấn mạnh đến việc trẻ Giêsu được cha mẹ dâng hiến cho Thiên Chúa trong những tuần đầu đời. Một tác giả thánh thi và là nhà giảng thuyết theo truyền thống Byzantine, khi giảng về lễ này, đã tưởng tượng ra một cuộc trò chuyện giữa Đức Maria và con trai của Người. “Một ngày nào đó, Bà sẽ thấy đứa trẻ mà Bà đang bồng ẵm bị đinh nhọn xuyên thủng đôi bàn tay vì tình yêu Người dành cho đồng loại của Bà. Bà sẽ thấy người mà Bà coi là sự sống của mình bị treo lên thập giá và Bà sẽ khóc lóc thảm thiết trước cái chết của Người”.

Brendan McConvery CSsR