Wednesday, 22 October 2014

Lm Nguyễn Thế Thuấn CSsR: Giáo Lý Dự Tòng: XUẤT HÀNH




                                                            XUẤT  HÀNH

1.      Dẫn nhập sách Xuất Hành.

Sách xuất hành, tập sách thứ hai trong ngũ kinh được người Do Thái gọi là    “Torad ”, thường được dịch là Lề Luật. Sách Xuất hành đề cập đến việc thành lập dân được chọn và việc thiết lập lề luật và tôn giáo. Trình thuật được ghi lại thông qua khung cảnh cuộc đời của Môsê. Hai đề tài chính trong Xuất hành: việc giải phóng khỏi Ai Cập và giao ước tại Sinai. Hai đề tài được nối kết nhau bằng 1 đề tài phụ là cuộc hành trình trong sa mạc.

Sách Xuất hành là trung tâm của Cựu ước khi trình bày cho chúng ta một Thiên Chúa giải thoát con người. có thể nói, Sách xuất hành là Tin Mừng thời Cựu ước. Sách nầy, mang lại cho Do Thái giáo và Đức Tin Kitô giáo, định hướng khác hẳn các tôn giáo khác. Thiên Chúa không đến để cho người ta tôn kính hay chỉ vẽ con đường linh đạo thường thấy ở các tôn giáo khác, nhưng Ngài đến để chọn lựa một dân và rồi thông qua họ mà Ngài hoạt động giữa lòng lịch sử nhân loại. Thiên Chúa tự mặc khải mình cho Môsê, vì Ngài muốn chọn cho mình một dân riêng. Đó chính là Israel, như lời hứa với tổ phụ Abraham. Các Kitô hữu về sau nhận ra chân dung Đức Yêsu chính là Môsê mới. Chính Ngài sẽ khai mào cuộc mạo hiểm mới và những hình ảnh trong Cựu ước được tìm thấy trong thực tại Hội Thánh như vượt biển Đỏ là phép Rửa, tảng đá phát sinh dòng nước là Đức Kitô …

Tuy nhiên, Xuất Hành, trong ý nghĩa đầu tiên: Cuộc giải thoát khỏi nô lệ và sự chọn lựa của dân Israel. Thiên Chúa đem Israel ra khỏi Ai Cập, như người hộ sinh đem đứa trẻ sơ sinh khỏi bụng mẹ. Các trình thuật trong sách Xuất Hành dẫy đầy những chuyện hay. Những chuyện nầy dệt nên những bức tranh hoành tráng chúng ta sẽ cùng nhau  nghiên cứu các ý nghĩa của nó .

Cuộc xuất hành trở về Đất Hứa của Israel diễn ra khoảng năm 1240 trước công nguyên, khi mà người Ai Cập trổi dậy nắm giữ lại vương quyền tuyệt đối, các dân du mục lưu cư trên lãnh thổ nầy không còn được tôn trọng. Nhiều nhóm trong số nầy phải trốn chạy để tránh các khoản thuế hà khắc hay lao động cưỡng bức, trong đó có hậu duệ của Yuse ngày xưa. Chính trong bối cảnh nầy mà có cuộc xuất hành trốn chạy trong đêm và bị binh đoàn Ai Cập truy đuổi và họ chỉ được cứu thoát nhờ sự can thiệp của Thiên Chúa. Vị thủ lãnh dẫn đầu cuộc trốn thoát đó đã giải thích cho họ biết biến cố đó là do chính Thiên Chúa độc nhất, Thần của cha ông họ, chọn họ làm dân của Ngài  đã cứu họ. Thời gian lưu lại trong sa mạc Sinai là thời gian họ được trao luật Thiên Chúa và huấn luyện sao để trở thành dân riêng của Ngài .

Trong Xuất Hành chúng ta gặp thấy lịch sử nhưng ngoài ra sách còn tường thuật nhiều hơn nữa mà lịch sử hiểu theo nghĩa hiện đại không đồng thuận. Sách không phải là tác phẩm cuả một tác giả, nhưng là thành quả của một quá trình lâu dài và được dùng dưới nhiều phương thức khác nhau để nói lên lịch sử xa xưa. Hình thức cuối cùng, được các tư tế định hình vào thời lưu đày Babylon trở về. Họ tập hợp các kỷ niệm, các bản văn, biên soạn và triển khai theo phương thức mà dân Israel phải nhìn lại quá khứ của mình để hiểu chính mình. Làm như thế, các soạn  tác chỉ cho dân đương thời nhận ra cách  cha ông làm Dân Thiên Chúa và đến lượt họ, họ phải thực hiện tiếp như thế nào . Chính từ đây mới có quan niệm về một dân đông đảo được huấn luyện, có tổ chức, có Thánh điện trong sa mạc, có tư tế, có cả công nghệ đúc kim loại ( thế mới đúc được bò vàng ) và đám dân nầy bước đi như một con người duy nhất, được nuôi dưỡng bằng Manna trong suốt bốn mươi năm. Toàn dân đã được trang bị cẩn thận để tiến vào Hứa Địa.

Chúng ta, những Kitô hữu ngày nay, phải đối diện với một thực tại lịch sử kép: Lịch sử của khoa học và lịch sử đã huấn luyện dân Israel ngày xưa, dân Chúa ngày nay. Lịch sử đầu tiên, cho chúng ta nhận biết Thiên Chúa thật sự đi vào nhân loại và hoạt động như thế nào, đồng thời mở ra cho thấy: phương pháp sư phạm rất kiên nhẫn của Ngài. Lịch sử thứ hai cho chúng ta là những kẻ đón nhận Ngài, biết chúng ta là ai và chỉ mang trọn vẹn ý nghĩa với ai thực sự đón nhận Đức Kitô là gia nghiệp.

Chúng ta không tách rời hoàn toàn hai lịch sử ấy nhưng thông qua các trình thuật mà cảm nghiệm  thấy Thiên Chúa hằng sống, Đấng Giải Thoát Israel, được các soạn tác ghi nhận để truyền cho chúng ta ngọn lửa đã được thắp sáng từ núi Sinai .

2 . Môsê được kêu gọi và giao sứ mạng .

2.1 Dung mạo Vị Cứu Tinh trong Cựu Ước.

Trong cuối thập niên sáu mươi của thế kỷ trước, các nhà điện ảnh làm một tập phim hoành tráng với tựa đề “ Mười điều răn ” mô tả cuộc vượt thoát cảnh nô lệ của dân Israel dưới sự dẫn dắt của Môsê khỏi AiCập. Tất nhiên phim ảnh thì phải có hư cấu mới hấp dẫn người xem, trong đó có câu chuyện tình tay ba giữa Môsê, Pharaoh và vị công chúa xinh đẹp. Tuy nhiên, thiết nghĩ cần nói trước với các anh chị, phim ảnh làm méo mó đi sứ điệp mà Kinh Thánh muốn truyền đạt, tạo cho người xem cái cảm tưởng sự kiện trên phim ảnh diễn ra thực như buổi tường thuật tại chỗ như chúng ta đang xem tivi ngày nay một phóng sự nào đó. Vậy, Môsê, Ông là ai?

Trước tiên, chúng ta cần loại bỏ cách hiểu của Mặc khải trong Kinh Thánh  cách thô thiển. Khi trình bày về Môsê như vị cứu tinh đưa dân Israel khỏi ách nô lệ Ai Cập, các trình thuật đã được biên tập để nói cách Thiên Chúa cứu độ dân Ngài.

Môsê, Nhân vật nổi bật trong ngày đầu của Israel, khi trở thành 1 dân được định danh, khó vạch rõ dung mạo, tâm tình, hoạt động. Kinh thánh không thõa mãn những yêu cầu sử hạnh con người đó, chỉ cho thấy tính chất vị cứu tinh là thế nào:

Yannes, Yambres là các đại pháp sư Ai Cập, báo trước cho Pharaoh về sấm 1 trẻ nhỏ Do Thái sẽ hủy diệt Ai Cập khi đến ngày cùng tháng tận ( Safer ha Yashar), dẫn dân Do Thái khỏi Ai Cập. Pharaoh và những người khôn ngoan, dân Ai cập kinh hãi, bàn mưu kế để thoát hiểm. Lệnh tru diệt trẻ em Do Thái được ban hành.

Amran, người chi tộc Lêvi, đề nghị mọi người không sinh con 1 cách vô ích: Hãy ly thân. Ông làm gương trước bằng cách ly thân với vợ là Yokhabed, không biết bà đã có thai được 3 tháng. Myriam, nữ tiên tri, con gái ông cho biết : Chính ông sẽ sinh vị cứu tinh cho dân tộc. Ông tái hôn bà Yakhabed. Điều đó lý giải: Môsê sinh ra đã ba tháng  mà không bị phát hiện. Môsê thoát nạn và được công chúa Ai cập nuôi nấng cách kỳ diệu. Môsê nghĩa là được vớt lên khỏi nước.

Chúng ta dễ dàng nhận thấy sự phát họa chân dung 1 vị cứu tinh cùng với những kỳ tích. Sau nầy, Matthêu cũng dùng chính những hình ảnh nầy mô tả triệu báo sinh nhật của Vị Cứu Tinh Yêsu.

2.2 Môsê ở Ai Cập.

Dòng dõi Lêvi thuộc nhóm di dân cầu thực, hoặc là tù binh. Công việc họ phải làm nặng nhọc như: hái nho, đào hầm mỏ, xây dựng. Khá hơn là viên chức nhỏ, ký lục. Muốn thế, họ cần được đào tạo dưới quyền quản đốc của các mệnh phụ quý tộc. Điều nầy giải thích về thiếu thời của Mô sê.

Môsê được đào tạo thành viên chức nhưng vẫn giữ liên lạc họ hàng thân tộc. Lúc nầy Ai Cập có chiến tranh với Hattu nên phải đề phòng bằng cách xây tường lũy, kho tàng. Nhân công chính là các dân du mục lưu cư, tù binh, bao gồm cả Israel. Dân du mục thường chuộng tự do tất nhiên chống đối. Bị cưỡng bách là việc dễ hiểu.

2.3 Môsê tại Madian.

Trong 1 biến cố, Môsê phải trốn sang Madian, một bộ tộc du mục có họ hàng thân tộc với dân Israel. Ông có cơ hội sống đời tự do phóng khoáng như các tổ phụ từng sống. Sinh con, lập nghiệp. Cuộc đời của ông sẽ đi vào quá khứ như 1 thường nhân nếu không có sự can thiệp của Thiên Chúa. Trong 1 lần chăn thả súc vật tại Khoreb, Thiên Chúa đã thay đổi tận cùng cuộc đời Môsê.

2.4 Ơn gọi của Môsê.

 Thiên Chúa tỏ mình cho Môsê như là Thiên Chúa của tổ tiên ông, mang tính liên tục, dấu chỉ Thiên Chúa trung tín, sống động ( nghe, nhìn, yêu thương). Với lời kêu gọi và sai đi, Môsê thoạt đầu đã năm lần bảy lượt chối từ. Có lẽ đây là kinh nghiệm của ngôn sứ khi nhận ra tình trạng bất xứng của mình trước Thiên Chúa và lời mời gọi của người. Thiên Chúa đã gọi, tất nhiên ân sủng sẽ được ban cho người thừa sai thi hành sứ vụ. Môsê cũng thế.

2.5 Mặc khải Danh Đức Chúa.

Khi được hỏi về Danh Thiên Chúa để loan báo cho dân, Môsê được cho biết Ngài Là YHWH ( Yahveh). Dịch nghĩa văn vẻ “ Ta là Đấng hiện Hữu”. Nhưng như thế cũng chưa diễn đạt được sự huyền nhiệm sâu thẳm thần tính của Ngài :

-         Thiên Chúa làm cho có, hoặc Có đó.
-         Ta là ai, việc đó không phải việc của ngươi.
-         Chính là Ta ( Chúng ta sẽ thấy Chúa Yêsu mặc khải về Ngài với từ nầy trong Tân Ước) , hãy tựa vào Ta… Ta là Ta.

Mặc khải về hình thức có Tên, nhấn mạnh đến sự hiện diện của Ngài. Ngài long trọng cam kết sự sự hiện diện của Ngài. Mặt khác, điều nầy lại không phải thuộc tính đích thực của bản chất YHWH. Bản tính Thiên Chúa vô phương đạt thấu, Ngài cho biết Ngài điều khiển hoàn vũ theo ý định Ngài. Chỉ duy nhất Ngài : Đấng hiện hữu. Tất cả còn lại là không.

(Các anh chị lưu tâm đến việc mặc khải nầy để có thể hiểu về tuyên ngôn Nước Trời về sau, trong các Mối Phúc Thật)

3.Xuất hành khỏi Ai Cập.

             Sách xuất hành sử dụng thể văn truyền kỳ, chung chung mang âm hưởng thiên anh hùng ca, thường được kể lại, diễn kịch, dưới lều trại,  trong các chợ phiên để ca tụng kỳ công Thiên Chúa đã cứu thoát Israel khỏi ách nô lệ. Chính vì thế chúng ta cần châm chước nhiều với các biến cố có tính cường điệu:

-         Pharaoh : một vị tướng lĩnh biên thùy nào đó.
-         Tai ương : phóng đại các hiện tượng tự nhiên ngày nay vẫn còn xãy ra.
-         Vượt Biển Đỏ : Thủy triều lên xuống…

          Khía cạnh lịch sử, dân Do Thái bị bắt bớ đọa đày có lẽ vào thời SETI (1314-1232) và biến cố xuất hành dưới thời RAMSES II (1298-1232). Tuy nhiên, chúng ta không quá quan trọng về lịch sử theo nghĩa cận đại nhưng theo những gì soạn giả nhân danh Thiên Chúa để nói với mỗi người.

3.1. Lễ Vượt qua ( Paskha)

           Nghi tiết nầy có từ rất lâu trong dân du mục, bán du mục. Nghi lễ không cần tư tế, bàn thờ. Quan trọng là: dùng máu bôi lên cửa lều trại để xua đuổi tà thần xấu xa. Vào khoảng trăng rằm mùa xuân, người ta bắt con chiên non béo tốt, cho ở gần gia đình, hàm ý như 1 thành viên. Sau đó, người ta giết thịt, lấy máu bôi lên lều trại. Chiên được nướng, đơn giản vì không cần dụng cụ, ít hao nước, ăn với ít rau đắng mọc hoang trong sa mạc, có độc nhưng như là gia vị.

          Đến thời Môsê, nghi tiết vượt qua nầy có ý nghĩa thánh sử: Đánh dấu việc Thiên Chúa can thiệp để cứu dân khỏi ách nô lệ Ai Cập, một việc làm công chính mà Thiên Chúa vì trung tín với Lời Hứa, đã thực hiện. Nghi thức nầy xãy ra sau tai ương giáng xuống Pharaoh và vương quốc. Trong đó, việc tường thuật giết con đầu lòng người Ai Cập, gây cho người đọc khá nhiều phản cảm. Vậy chúng ta hiểu các vấn đề nầy thế nào?


3.2. Các tai ương gieo xuống Pharaoh và Ai Câp.

Rất nhiều và rất nhiều anh chị trong các khóa học hay có dịp đọc các đoạn trình thuật nầy tỏ ra rất bất bình, cảm thấy Thiên Chúa thật bất công giáng họa trên dân Ai Cập, trừng phạt tập thể. Đặc biệt với tai ương thứ 10: giết con đầu lòng người và vật Ai Cập, hình như để chứng tỏ uy quyền tối thượng.

Ngoài ra, khi trả lời các chất vấn nầy, do nhiều nguyên nhân, người trình bày không diễn đạt được tường tận nên cũng tạo sự bất mãn ngấm ngầm trong lòng các học viên. Quả thật, đây là một trong nhiều đoạn trình thuật khó nuốt trôi khi miêu tả Thiên Chúa vốn mệnh danh là Thiên Chúa tình yêu, lại ra tay thanh trừng sắc tộc. Cứu lấy một đám dân nầy mà tàn sát dã man vô số kẻ khác. Một Thiên Chúa được miêu tả như thế, người Ai Cập ngày nay khi đọc, làm sao có thể tin yêu, phó thác trọn vẹn được? Một Thiên Chúa như thế, liệu có đáng cho chúng ta tin theo? Vậy, đâu là ý nghĩa trình thuật nầy đề cập đến?

Phải nói rằng, trình thuật về tai ương giáng xuống Pharaoh và người Ai Cập không phải là sự trừng phạt tập thể nhưng diễn tả tính liên đới. Nếu lưu ý, tường thuật miêu tả khi nghe triệu báo về vị cứu tinh Israel sinh ra, Pharaoh và triều thần cùng dân chúng đều kinh hãi, bàn mưu và cùng đồng phạm trong quyết định giết trẻ em sơ sinh.

 Pharaoh và vương quốc của mình được biên tập như tiêu biểu cho quyền lực xấu xa tàn ác, thống trị, nô lệ con người, cụ thể là người Do Thái. Thiên Chúa giết con đầu lòng người và vật Ai Cập là dấu chỉ Thiên Chúa tận diệt tới tận mầm mống của sự dữ để giải phóng con người khỏi ách nô lệ ( Khi đề cập con đầu lòng , là đề cập tính kế thừa liên tục ).

 Thật ra, trình thuật nầy mang sứ điệp tiên tri. Bằng cái chết và sự phục sinh của Đức Yêsu Kitô, Ngài đã tiêu diệt tận cùng ách nô lệ tội lỗi do tên ác thần tròng vào nhân loại, mà đỉnh cao của sự dữ là cái chết. Do đó, khi đọc tới đoạn văn nầy, các anh chị đừng bận tâm theo nghĩa đen mà các tư tế viết lại để mang lại một ý nghĩa tuyệt đối về ơn cứu độ Thiên Chúa đã làm cho Dân mà Ngài chọn.

Câu chuyện Thần hủy diệt Vượt Qua mà không giết con đầu lòng người Do Thái, khi thấy dấu máu chiên con bôi trên cửa nhà, cho chúng ta sứ điệp gì trong ngày hôm nay ?

Trong một lần trao đổi với nhau sau buổi hướng dẫn, chúng tôi chợt nhận ra, cần chia sẽ với các anh chị thêm về sứ điệp nầy: Hiện nay, với chủ trương hạn chế sinh sản bằng bất cứ giá nào của nhiều chế độ, cộng với truyền thông lệch lạc, nhiều cha mẹ, thân nhân của các thai nhi nhẫn tâm loại bỏ con mình. Đa phần trong các thai nhi đó chẳng phải là con đầu lòng? Thế thì: Ai là người giết con đầu lòng? Con người lệch lạc hay Thiên Chúa? Chính thủ lãnh thế gian nầy: satan, lung lạc và điều khiển tay chân nó thực hiện tội ác ghê gớm, che đậy dưới nhiều lý do hoa mỹ. Đối  với những kẻ có Máu Chiên Con ( nghĩa là những người thật sự nhận lấy Đức Yêsu Kitô là Chiên Thiên Chúa)  Đấng đã lấy máu và cái chết khổ nhục trên Thập giá cùng sự phục sinh vinh hiển,  đóng dấu ấn Máu Cứu độ vào cửa tâm hồn, thì các lý do vô luân của ác thần vô phương xâm nhập được ngôi đền Thánh Thần, là thân xác họ, thì con đầu lòng họ được cứu.

           Trình thuật nầy cho người tín hữu chúng ta ý nghĩa mới: Máu chiên con xưa kia xác nhận giao ước giữa Thiên Chúa và dân Ngài đã tuyển chọn giữa các dân khác. Thiên Chúa sẽ để cho Đức Yêsu chết và sống lại trong dịp lễ Vượt Qua. Như vậy , máu của Đức Yêsu sẽ xác nhận giao ước mới giữa Thiên Chúa và nhân loại. Lễ Vượt Qua mới sẽ là lễ mừng con người được giải thoát hoàn toàn nhờ giá máu của Đức Yêsu Kitô. Mỗi thánh lễ cử hành, đều nhắc nhở chúng ta thập giá và sự phục sinh của Ngài, đã qui tụ những người ý thức mình đã được giải thoát và nay cần dấn thân vào công cuộc giải thoát cho nhân loại.

3.3 . Xuất hành .

Chúng ta không ngộ ngận Israel làm một cuộc xuất hành ngoạn mục như trong phim ảnh sau đêm can thiệp hiển hách của Thiên Chúa. Thực tế, để tránh sự truy lùng của quyền bính biên thùy Ai Cập, họ phải lén lút ra đi bằng nhiều  phương tiện và người dẫn đầu là Môsê, có kinh nghiệm đi lại trong sa mạc.

Trình thuật mô tả ngày hôm sau toàn dân Israel rộn ràng lên đường làm cuộc phiêu lưu kỳ vỹ tiến về Đất Hứa dưới sự lãnh đạo của Môsê và các cộng sự. Phải nói là phiêu lưu vì khi tiến về Đất Hứa, họ không có một chỉ dẫn nào cụ thể phải đi tới đâu, tổ chức thế nào mà chỉ có một niềm tin duy nhất vào sự quan phòng của Thiên Chúa. ( hệt như hình ảnh ngày nào tổ phụ Abraham lìa bỏ quê hương để theo lời gọi của Thiên Chúa) Trình thuật dùng hình ảnh Thiên Chúa ban ngày đi trước họ trong cột mây để dẫn đường, ban đêm trong cột lửa để soi sáng và dân Ngài có thể đi cả đêm lẫn ngày.

Ngay từ đoạn văn khởi đầu ra khỏi Ai Cập nầy, chúng ta dễ dàng nhận thấy ý nghĩa muốn đề cập . Đây là hình ảnh lý tưởng khi đoàn người được nhận ơn Cứu Độ, trở thành đoàn người tự do khỏi ách nô lệ của  satan, nhận lấy Thiên Chúa làm gia nghiệp và bước đi vững vàng trong ân nghĩa dư tràn của Ngài. Đây cũng là hình ảnh của Ngày Yahveh, ngày Cánh Chung khi Thiên Chúa hiển trị “dưới đất cũng như trên trời

3.4 Biển Đỏ .

Các anh chị nào nếu có dịp xem  bộ phim “ Mười điều răn ” sẽ thấy vẻ hoành tráng khi dân Israel vượt qua biển giữa hai vách tường nước cao vòi vọi, bên trên bờ là Môsê với tay cầm gậy đưa cao. Các tình tiết trong phim được lấy cảm hứng từ thiên anh hùng ca trình thuật trong chương 14 của sách Xuất hành. Chương nầy nói gì ?

Pharaoh và triều thần nuối tiếc một nguồn lực từng phục vụ nên ra quân truy đuổi, hy vọng buộc đám dân vừa nếm mùi tự do lại lâm vào cảnh nô lệ cho họ. Đám dân vừa tập tễnh biết tự do, đã vội lên tiếng trách móc Môsê và Thiên Chúa mà quên khuấy ngay kỳ công Thiên Chúa đã làm cho họ. Đức Tin không bám rễ sâu vào lòng, khi có biến cố thử thách là dễ bị chối bỏ và trở về ngay thân phận nô lệ tội lỗi. (Chúng ta sẽ thấy lại hình ảnh nầy trong Tin Mừng Mt 12,43-45 và Lc 11,24-26 với đề tựa Quỷ phản công )

 Tuy nhiên, Thiên Chúa giàu lòng thương xót, đã không bỏ mặc con người yếu hèn kém tin. Trong trường hợp nầy cũng vậy, Ngài đã cho Môsê đưa gậy trên biển và nước rẽ hai, toàn dân an toàn vượt biển. Chiến mã và kỵ binh Ai Cập thấy thế cũng tràn xuống, đuổi theo,  nước biển  đổ ập vùi chôn họ. Thật ra thì các trình thuật cổ xưa hơn, không cho các chi tiết rõ ràng và chỉ nói những kẻ đuổi theo được phát hiện phơi thây trên bờ biển. Đoạn trình thuật này có ý nghĩa Thiên Chúa phù trợ dân Ngài. Các anh chị cũng nên biết sự thực thì không phải dân Do Thái ra đi một cách rầm rộ khí thế nhưng là các cuộc đào thoát nhỏ lẻ trong đêm và bị truy kích, có thể trong khi mãi mê truy kích như thế, quân binh Ai Cập bị thủy triều cuốn phăng đi. Thế là dưới ngòi bút và dưới nhãn quan lòng tin, các tư tế nhận thấy đây là ơn Đức Chúa đã làm cho tổ tiên mình nên biên tập lại cho khí thế.

Ý nghĩa thứ nhất chúng ta rút ta được là những người như Môsê  phải chiến đấu để vực dậy anh em mình và làm cho họ thành những người tự do . Chính những người được chọn lựa phải cũng cố lòng tin của anh em . ( Phêrô sau nầy cũng được trao phó sứ mạng nầy và qua ông là các kẻ kế nhiêm, thí dụ như  Đức Gioan Phaolô II, Benêđíchtô 1… ) Thủ lãnh thế gian cũng như Pharaoh xưa kia, không dễ dàng buông tha những nô lệ của mình và không từ bỏ thủ đoạn nào để tái lập ách thống trị trên những người được cứu rỗi. Chúng ta là những người còn kém tin, nên những biến cố trong cuộc đời, những thử thách đôi khi nghiệt ngã, dễ làm chúng ta buông xuôi trách móc ngược lại.  Nhưng Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ chúng ta không để mặc chúng ta trong cơn thử thách.Thông qua Hội Thánh, Thiên Chúa không ngừng gia ân để cũng cố chúng ta được bền đổ và vượt qua biển Đỏ của chính mình để vào Đất Hứa, nhờ công nghiệp của Môsê mới là Đức Yêsu Kitô. Sau nầy khi dạy cho chúng ta cầu nguyện tại Kinh Lạy Cha, Ngài đã chẳng hướng dẫn chúng ta xin cho khỏi sa cơn thử thách đấy sao. Câu chuyện từ Cựu ước mà được sáng tỏ trong Tin Mừng là vậy. Càng thấy sự mỏng dòn yếu kém thì chúng ta càng khẩn thiết xin lòng thương xót vô biên của Đức Chúa .

Đối với anh chị, những người sẽ là tân tòng, bài học nầy còn có ý nghĩa tuyệt vời hơn: Khi chịu phép thanh tẩy, anh chị cũng bước qua khỏi biển Đỏ, theo lời mời gọi và ân sủng của Thiên Chúa. Anh chị đã dứt khoát bỏ lại sau lưng cuộc đời trước kia và bắt đầu khám phá một khung trời tự do mới, tự do con cái Chúa. Chúng ta sẽ không làm việc đó một mình nhưng cùng cộng đoàn những người tin dưới tác động của Thánh Thần Thiên Chúa

4. Hành trình trong sa mạc.

4.1 Vai trò Môsê.

            Môsê không phải nhà cầm quân đánh giặc, đã có Yoshuê. Ông cũng không phải người hướng đạo, đã có dân Madian dẫn đường. Ông cũng không phải trông nom lễ tế, đã có Aaron cùng các tư tế. Môsê là người cầu nguyện.( Xh 17,8-16)

          Cầu nguyện là thân thiết với Thiên Chúa (Xh 24,8-18;33,18). Ông chịu lấy những chỉ thị Thiên Chúa mà ban xuống cho dân bằng các sấm ngôn cũng như luật lệ. Phân giải các tranh chấp giữa các bộ tộc. Hun đúc, tôi luyện họ trở thành 1 dân, có liên lạc với nhau theo truyền thống đạo giáo Đức Chúa truyền.

4.2 Sự nghiệp Môsê.

          Môsê được xem như người sáng lập nên 1 dân và ban bố lề luật theo lệnh truyền của Đức Chúa. Ông có ảnh hưởng trên các bộ tộc, đặc biệt bộ tộc xuất phát từ Yuse là Mơnasse và Ephraim, tôi luyện cho họ lòng sùng bái Đức Chúa, chuẩn bị cho dân đón nhận giao ước với Đức Chúa.

4.3 Trong sa mạc.

         Sa mạc, trong kinh thánh gồm 2 hình thức cựu trào. Dân Israel không ưa gì sinh hoạt trong sa mạc. Cain, có tội mà bị lưu vong trong sa mạc. Ismael, dân du mục tha phương trong sa mạc. Như thế, sa mạc là nơi cư trú của những kẻ bị trục xuất, ngoài vòng pháp luật. Sa mạc còn là nơi mãnh thú, quái vật, tà ma quỹ dữ ẩn náu. Con chiên (dê) mang tội ( bouc émissaire) bị đuổi vào sa mạc, làm mồi cho Azaxel quỷ sứ ăn. Như thế, sa mạc là nơi thử thách.

        Tuy nhiên, dưới nhãn quan của các ngôn sứ, sa mạc được coi như thời thanh xuân của Israel. Đây chính là ý nghĩa Sách Xuất Hành muốn đề cập đến: Tôn giáo Israel toàn vẹn và trung tín dưới sự dẫn dắt của Đức Chúa. Trình thuật cuộc hành trình 40 năm trong sa mạc như là cuộc tẩy luyện, lột xác của con bé lọ lem ngốc nghếch, được cứu thoát khỏi thân phận nô lệ, trỏ thành người yêu kiều diễm của vị Thần Duy Nhất. Chẳng thế mà về sau các ngôn sứ, nhất là Hôsê, xem như là giai đoạn trăng mật giữa đôi hôn phối mà tuyệt đỉnh là hôn ước Sinai.

          Tất nhiên, để đạt được hôn ước nầy, hai bên đã không ngừng thử thách nhau, đòi hỏi cũng như đáp ứng. Các câu chuyện về bánh Manna, chim cút, Nước từ đá… là hình ảnh cho các thử thách, đáp ứng nầy.

5. GIAO ƯỚC SINAI.

5.1 Giao ước trong Cựu Ước.

          Cựu Ước là 1 chuỗi các giao ước mà trong đó ân sủng luôn đi trước. Ân sủng là nền tảng của lề luật, là phương cách sống để kết thân với Thiên Chúa. Được thể hiện bằng các lời chúc lành, chúc dữ :

-         Giao ước với Noê : diễn tả ý định phổ cập, đại đồng của Ơn Cứu Độ.
-         Giao Ước với Abraham : bước đầu cụ thể hóa Ơn Cứu độ nơi một dòng tộc.
-         Giao ước Sinai: Giao ước tuyệt đỉnh của Cựu Ước, nền tảng cho mọi giai đoạn Thánh sử Cựu Ước.
-         Giao Ước David : Lời Hứa vô điều kiện về thực hiện ơn Cứu độ cùng tận.
-          
5.2 Tính chất giao ước.

-         Được xây dựng trên sáng kiến tuyệt đối của Thiên Chúa. Ngài tự do lựa chọn chứ không tự buộc mình vào liên đới với một dân nào đó, do tư cách của họ.
-         Giao ước của Thiên Chúa đáng tin cậy, không bội ước, thay đổi thái độ. Sự trung tín của Thiên Chúa là nền tảng để mỗi người trong giao ước có thể xây dựng một đời sống vững vàng, chổ nương tựa bền vững. Tuy nhiên, trung tín là trung tín với LỜI của Ngài chứ không lệ thuộc vào sự trung tín của dân. Sự trung tín nầy vô điều kiện.
-         Hứa và giữ Lời của Thiên Chúa là một. Chính vì thế Thánh sử mới có 1 hướng  đi, quá khứ bảo đảm cho tương lai để tiến đến tột cùng : LỜI Thiên Chúa trở thành 1 nhân vật : Lời đã thành xác phàm và ở giữa chúng ta.

5.3 Giao ước Sinai – Thập giới.

           Khi đề cập đến giao ước Sinai, không ít người tín hữu chẳng nhận ra ân huệ Thiên Chúa trao ban. Thật thế, nhìn về khía cạnh luân lý, người ta xem thập giới như những điều buộc phải thế nầy, thế khác mà không phải là ân huệ, cảm thấy nặng nề khi gìn giữ.

          Khi con người mất đánh mất mối thâm tình với Thiên Chúa, con người đánh mất luôn phẩm giá cao quý “ giống hình ảnh Thiên Chúa”. Mối quan hệ với Thiên Chúa đổ vỡ dẫn đến việc con người không còn làm chủ được bản thân, tương quan nhân ái với nhau. Thay vào đó, bạo lực trở thành động lực phát triển và chi phối con người. Hành vi tiêu biểu của loài thú.

          Với Thập giới trên núi Sinai, Thiên Chúa đã tiến hành một bước quan trọng để khôi phục phẩm giá con người. Ân huệ ban sự sống là như thế. Thập giới như những mốc cắm chặng để con người được bảo vệ khỏi những sa đọa.

          Trong ba giới đầu tiên, Thiên Chúa muốn con người nhìn nhận lại mối quan hệ Đấng Thánh – Thụ tạo. Chỉ khi nhìn nhận Thiên Chúa là tất cả trong cuộc đời, con người mới thấy sự yếu đuối mỏng dòn để được Ngài nâng đỡ, mới có năng lực để xây dựng mối tương quan với nhau trên căn bản con người

          Các giới răn thứ tư trở về sau, cho con người khuôn phép để sống xứng đáng với vị thế con người, tách con người thoát bản năng thú vật. Con người cần cư xử  với nhau đúng mực, giới hạn cái tôi vị kỷ, đã là nguyên nhân gây đổ vỡ ban đầu.

          Sau nầy, khi nhìn lại những ân sủng Đức Chúa đã thực hiện nơi Dân của Ngài, các ngôn sứ có lý khi xem Thập giới như Cây Trường Sinh, được ban cho nhân loại. Những ai ăn trái nầy, họ được sự sống đời đời Thiên Chúa trao tặng. Ân huệ nầy không chỉ dành riêng cho Israel, nhưng còn được ban tặng cho toàn thể nhân loại.

5.4 Đặc ân của giao ước.

          Khi nhận lấy giao ước, dân Israel được hưởng các ân sủng của Đức Chúa, làm họ trở nên cao quý trước muôn dân :

a / Israel trở thành  một dân thánh ” nghĩa là dân được thánh hiến cho Thiên Chúa. Thuộc về Thiên Chúa thì gọi là thánh. Israel là vương quốc mà vị vua duy nhất của vương quốc nầy là ĐỨC CHÚA. Chính vì thế  nhiệm vụ trước tiên của lãnh đạo Israel là thiết lập công lý. Dân Israel là những người tự do chỉ thuộc về Thiên Chúa nên không được để lây nhiễm bời các ngẫu tượng, các tập tục ô uế và các giá trị sai lầm của các nước khác .

b /  Israel là  “ một vương quốc tư tế ”. Trong  tôn giáo, tư tế là người đến gần Đấng Thánh và là người trung gian giữa Ngài và con người. Thế nhưng với đặc ân nầy thì toàn dân Israel được nhận biết và đến gần Thiên Chúa theo cách mà các dân khác không có. Họ sẽ nhận được các lời Thiên Chúa hứa cho loài người và Ngài phái đến cho họ các ngôn sứ để họ là người đầu tiên được hiểu biết rõ ràng những đòi hỏi của công lý và tình huynh đệ .

Các đặc ân trên giúp chúng ta hiểu điều sau nầy Đức Yêsu nói với các tông đồ trong buổi Tiệc ly về Giao ước mới (Mc 14,24 ) Trong lời cầu nguyện kế tiếp, Ngài đòi hỏi các người tin trở nên dân mới, thánh hiến cho Thiên Chúa và là tư tế của Thiên Chúa trong thế giới hôm nay. Các đặc ân nầy chính là vương tử , tư tế và ngôn sứ mà mỗi người khi chịu phép thanh tẩy nhận được vậy .

6 .  Lề luật .

Thập giới được xây dựng như một khung sườn quy định cách thức dân Israel phải ứng xử thế nào trong mối tương quan với Thiên Chúa và với anh em. Lề luật Môsê được mặc khải, là bánh ( lương thực) Thiên Chúa nuôi dưỡng Dân. Triển khai chi tiết hơn , các thủ lãnh trong dân hình thành các lề luật chi tiết để tiện quản trị dân chúng ngày một thành một xã hội phức tạp. Các luật nầy  gồm cả những  quy định về vệ sinh, sức khỏe cộng đồng. Chẳng may, con người vốn hay cực đoan, dần biến lề luật thành gánh nặng trên đầu cổ dân, biến thành công cụ bóc lột và tránh né nghĩa vụ đối với đòi hỏi của Thiên Chúa. Đức Yêsu đã có thái độ đối với cách hành xử lề luật kiểu nầy trong cuộc đời rao giảng của Ngài, đặc biệt trong chương nói về sự Công Chính Mới.

Môsê đã dẫn dân Israel đi đến đất hứa với bao lo toan nhưng chính Thiên Chúa quan phòng đã gìn giữ và huấn  luyện dân Ngài . Khi gần đến Đất Hứa , ông giao quyền cho Yoshuê và không lâu từ trần trong ân nghĩa Thiên Chúa .

 Chúng ta sẽ theo dõi tiếp phần lịch sử Cứu Độ trong chương tiếp theo ./.

Tuesday, 21 October 2014

Lm Nguyễn Thế Thuấn CSsR: Giáo lý Dự tòng: ĐÔI DÒNG DẪN NHẬP



                                         ĐÔI  DÒNG  DẪN  NHẬP

      
Các bạn , các anh chị thân mến.

Hôm nay, chúng ta có cơ hội gặp gỡ nhau ở đây, là một ân huệ của Thiên Chúa cho dù với nguyên nhân nào. Chúng ta có một thời gian tương đối để cùng chia sẻ với nhau những điều mà tự muôn đời Thiên Chúa muốn nói với từng người trong chúng ta Để có được tâm tình chia sẻ đó, chúng tôi mong các anh chị tạm thời gạt bỏ các quan niệm, nếu có, của mình để nghe một số khái niệm mới trong cuộc hành trình chúng ta đi tìm Đấng Cứu Độ, Đấng mà chúng ta chọn làm gia nghiệp của mình. Xin mượn hình ảnh một câu chuyện Thiền để nói về vấn đề nầy như sau :

Có một người, tự hào hiểu biết về thiền học, đến hỏi về Thiền với  Nan-in. Thiền sư mời anh ngồi và rót trà, trong lúc anh thao thao bất tuyệt về các kiến thức Thiền của mình. Nan-in cũng không ngừng rót trà vào tách anh ta, dù đã tràn ra ngoài. Thấy thế, anh ta kêu lên: “ Dừng lại, thưa ngài, tách đã đầy tràn rồi, ngài không thấy sao ?” Nan-in cười nói với anh:  “Anh cũng thế, lòng anh đầy ắp rồi, đâu còn chỗ cho các kiến giải khác.”

Trong tâm tình như vậy, chúng tôi mời các anh chị, chúng ta cùng tìm kiếm  Chúa Yêsu Kitô, qua Kinh Thánh. Thông thường, khi bắt đầu đọc 1 cuốn sách mới, người ta đọc phần dẫn nhập trước, để hiểu đại ý sách đó muốn nói gì. Đọc Kinh Thánh cũng vậy. Để không cảm thấy mình rơi vào khu rừng mà không có chỉ dẫn, các anh chị nên đọc phần dẫn nhập trong từng sách. Tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy đa số không lưu tâm đến, nên ở đây chúng tôi cố tóm lại, hy vọng phần nào anh chị có được một khái niệm tương đối theo trình tự ( logích ). Tất nhiên, bản tóm của bản tóm lược thì không thể nào lột tả hết cái thần, cái ý của những điều muốn nói nên trong thâm tâm, chúng tôi rất mong các bạn bớt chút thời gian để đọc tất cả .

1 . Chúa Yêsu đã phục sinh .

Kinh Thánh là Lời của Thiên Chúa mặc khải cho con người biết vận mệnh của họ, kêu mời họ đến với sự sống. Đây không phải là cuốn sách triết học, sách giáo lý mà là cuốn sách nói về một chuỗi các biến cố ,và biến cố trung tâm, chính là Đức Yêsu đã chết trên thập giá và sự phục sinh của Ngài. Điều nầy nói lên: chúng ta được sinh ra bởi tình yêu của Thiên Chúa, từ hư vô, để kết thúc trong sự hiệp thông hoàn toàn với Đấng Hiện Hữu. Nhưng để đạt điều đó, mỗi cá nhân, nhân loại, phải trãi qua một cuộc lột xác. Đó chính là sự chết và phục sinh.

Kinh Thánh gồm hai phần: Cựu ước và Tân ước. Ước đây là giao ước, là hợp đồng nói theo ngôn từ ngày hôm nay và đây là giao ước giữa Thiên Chúa và con người. Các sách của Cựu ước trình bày một loạt các câu chuyện nối kết nhau, giữa các câu chuyện đó, đôi khi là chuyện gần với thần thoại xen lẫn với các câu chuyện thật, có khi là những diễn từ, các việc phụng tự, đời sống xã hội, các lời trách cứ hay mang lại hy vọng, những tiếng kêu mời tình thân ái … Trong 46 cuốn cách Cựu ước nầy hầu như Thiên Chúa hiện diện khắp nơi trên từng trang sách. Cựu ước cho chúng ta thấy cách thức Thiên Chúa chuẩn bị cho con người, cách riêng dân tộc Israel, để họ nhận biết và đón nhận nơi Đức Yêsu giao ước kỳ diệu. Có thể dùng câu nầy để minh họa các dòng trên như sau :

“ Thuở xưa, nhiều lần, nhiều cách, Thiên Chúa đã phán với cha ông chúng ta qua các ngôn sứ ; nhưng vào thời sau hết nầy, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử .” ( Dt 1,1-2)

Sự phục sinh của Chúa Yêsu đã để lại một con đường sự sống, đó là nguồn cội cho mọi lời rao giảng của các tông đồ và các cộng đoàn Hội Thánh tiên khởi của Chúa Yêsu Kitô. Những chứng từ được viết từ buổi đầu ấy được các vị có trách nhiệm chuẩn nhận làm thành bộ Tân ước bao gồm 27 cuốn  dưới sự linh ứng của Chúa Thánh Thần

2 . Đọc Kinh Thánh bắt đầu từ đâu ?

Dễ nhất là khởi từ các sách Tin Mừng, nơi chúng ta gặp gỡ Đức Kitô. Ngài là Lời của Thiên Chúa ( Ngôi Lời ).Tuy nhiên, không thể có đức tin Kitô giáo mà không có Cựu ước. Những ai đọc Cưụ ước, khi nghe lời Đức Kitô nói, sẽ hiểu rõ hơn những bài học trong đó và khám phá ra những ý nghĩa của nó. Tốt nhất nên đọc liên tục một lần tất cả các sách Tân ước, khởi từ các sách Tin Mừng của Matthêu, Marcô, Luca và Yoan.

Khi đọc Tin Mừng, cũng đừng nghĩ mình là người đầu tiên hiểu được sứ điệp của Thiên Chúa, nếu không, có nguy cơ bạn sẽ thành lập một giáo phái mới. Cũng đừng nghĩ mọi vấn nạn riêng mình có thể giải quyết, nhờ đọc Kinh Thánh. Phải hiểu rằng, Lời Thiên Chúa nói ra là trong hoàn cảnh cụ thể và trước những những vấn đề riêng biệt của người đón nhận Lời ấy. Do đó, phải tìm hiểu xem đâu là vấn đề của người ta để tìm xem Lời Chúa nói có ý nghĩa đích thực gì. Sau đó chúng ta hãy đặt lại vấn đề Lời Chúa nói mang lại ánh sáng cho vấn đề hiện tại của chúng ta như thế nào.

Cũng không phải Thiên Chúa dạy dỗ trong sớm chiều nhưng trãi dài qua hơn 15 thế kỷ từ Abraham cho tới thời các tông đồ và Ngài cũng không dạy tất cả mọi sự ngay từ đầu. Do dó không có gì ngạc nhiên khi Môsê và các ngôn sứ, không biết một loạt các vấn đề quan trọng mà các tông đồ, chứng nhân của Chúa Yêsu, kể lại cho chúng ta .

Khi đọc Kinh thánh cũng đừng bị cuốn hút vào những trang sách được cố tình viết theo lối hành văn phức tạp của thể văn thời ấy mà ta thường gọi là văn khải huyền, để rồi quên đi những điều rõ ràng, căn bản là cái chính. Cuối cùng là các anh chị hãy không ngừng đọc Kinh Thánh, mục đích không phải để hiểu những gì chưa hiểu nhưng là một bằng chứng chúng ta yêu mến Thiên Chúa và Ngài là người Cha nhân hậu sẽ ban cho chúng ta “ Sự khôn ngoan của Kinh Thánh” để tìm thấy sự sống trong mọi Lời của Ngài .



3 . Sử dụng sách Kinh Thánh như thế nào ?

Các sách trong Kinh Thánh được chia thành từng chương khác nhau theo sáng kiến một Giám mục người Anh thế kỷ thứ 8. Sau đó năm 1551, một thợ in người Pháp thêm vào công việc nầy bằng cách đánh số câu, bất đầu từ Tân ước, sau đó áp dụng luôn cho cả phần Cựu ước nữa .

Như thế, các sách trong Kinh Thánh được chia thành nhiều chương và mỗi chương thành nhiều câu. Thí dụ như sau :

-   Ga 20,13-15 có nghĩa là Tin Mừng thánh Gioan  chương 20 từ câu 13  đến câu 15 . Trong đó Ga là từ viết tắt của Gioan .
-   1 Cr 1,5-7 có nghĩa là thư thứ nhất của thánh Phaolô gửi tín  hữu Côrintô chương 1 từ câu 5 đến câu 7, trong đó  1 trước Cr có nghĩa là thư thứ nhất, Cr là viết tắt của Côrintô .

Trong tất cả các sách Kinh Thánh từ Cựu  ước cho đến Tân ước ở phần đầu sách đều có ký hiệu nói trên để người đọc dễ truy tìm câu cần đọc. Ngoài ra , trong các sách, đa phần đều có thêm phần chú thích bên dưới trang, sau một ký hiệu gạch ngang và được in bằng tuồng chữ khác trong trang chính . Các anh chị cũng nên ghé mắt nhìn qua, ngõ hầu có thêm chút kiến giải cho mình vì đa phần các chú thích nầy đều do các nhà chú giải Kinh Thánh có kiến thức sâu rộng .

4. Đọc hiểu Kinh Thánh thế nào?

Thật là sai lầm khi đọc và hiểu Kinh Thánh theo nghĩa đen của sự kiện. Các giáo phụ trong những thời kỳ đầu đã loại bỏ cách hiểu ấu trĩ nầy. Hội Thánh từ thời trung cổ, giáo đoàn Alexandria đã biết phải hiểu theo nghĩa thế nào. Tựu trung như sau :

- Nghĩa mặt chữ cho biết sự kiện ( dù sự kiện đó đôi khi không có thật).
- Nghĩa tượng trưng cho biết điều phải tin.
- Nghĩa luân lý cho biết điều phải giữ.
- Nghĩa thần bí cho biết điều hy vọng.

Cũng cần nói thêm, phim ảnh về các sự kiện Kinh Thánh dễ làm méo mó sứ điệp Cứu độ muốn đề cập, nhiều người nhầm tưởng một phiên phóng sự tường thuật tai chỗ mà quên nghĩa đạo lý và thần học của sự kiện. Cũng dễ hiểu vì phim ảnh có mục đích là lợi nhuận nên cần có những màn hư cấu để thu hút.

Đôi dòng gọi là dẫn nhập, chúng ta cùng đi vào phần đầu tiên trong chương trình Cứu độ của Thiên Chúa .





                                               DẪN NHẬP CƯU ƯỚC.

Các bạn, các anh chị thân mến,

             Thời gian đã 5 năm, từ khóa gldt 1AP 2008 đến khóa 10AP 2012, chúng tôi nhận ra rằng giáo trình dẫn nhập vào Cựu Ước cần được hiệu chỉnh lại, phù hợp với điều kiện tìm hiểu của anh chị học viên hơn. Lịch sử Cứu Độ qua Cựu Ước không phải là bộ sách được sáng tác từ thuở hồng hoang, nhưng trãi qua nhiều giai đoạn.

          Chúng ta biết văn minh chữ viết được hình thành trong một thời gian dài. Trước thời kỳ nầy, người ta sử dụng 1 số phương tiện truyền khẩu như thần thoại, truyền kỳ, trường ca… để lưu lại ký ức, kinh nghiệm cho hậu bối. Dân Israel, Dân Thiên Chúa, cũng nhận được mặc khải tiệm tiến như vậy. Họ chỉ làm quen với nền văn minh chữ viết khi tiếp xúc cùng các sắc dân Canaan sau cuộc vượt thoát khỏi Ai Cập, được tường thuật trong Sách Xuất Hành ( Exodus).

          Khi theo học các lớp Giáo lý, nhất là Gldt, rất nhiều anh chị bở ngỡ khi được giới thiệu 1 cách đột ngột về Ngũ Thư (Torah), nhất là Sách Sáng Thế ( Genesis ), trong đó trình bày câu chuyện thi vị hóa về Thiên Chúa tạo dựng vũ trụ và con người, câu chuyên Ađam – Eva, nguyên tội  ( péché originel )… Đây là đề tài cho nhiều luận điểm khích bác, châm chọc, của nhiều học thuyết xưa nay, cũng như những bênh vực mù quáng, giáo điều, ấu trĩ của nhiều tín hữu. Để có thể cảm nhận tương đối những điều Cựu Ước trình bày, chúng ta lần lượt cùng nhau tìm hiểu:

1.      Lược sử dân Israel.

          Lịch sử cận đại nhận định có 5 nền văn minh lớn ảnh hưởng đến phát triển của cộng đồng nhân loại : Lưỡng Hà ( Lưu vực 2 sông Euphrate- Tigre), Sông Nil ( Ai Cập cổ), Hằng Hà ( Ấn Độ), Hoàng Hà ( Trung Hoa ), Châu Mỹ ( Maya, Incas). Trong đó, văn minh Lưỡng Hà và Ai Cập cổ có sự giao lưu tương đối phát triển. Rất nhiều bộ tộc du mục di chuyển giữa 2 nền văn minh nầy qua 1 giải đất hẹp: vùng Palestine.

         Khoảng 18 thế kỷ trước Công nguyên, trong số các bộ tộc du cư từ Lưỡng Hà sang Ai Cập, có bộ tộc do Abraham đứng đầu.Trên khía cạnh lịch sử, Abraham là nhân vật không mấy tên tuổi. Tuy nhiên, dưới nhãn quan tôn giáo, ông được nhìn nhận như tổ phụ của nhiều dân tộc trung cận đông, đó cũng là ý nghĩa tên của ông. Thú vị là nhân chủng học hiện đại phát hiện: dân Israel và Á Rập có cùng ông tổ.

         Trong các thời kỳ đói kém, nhiều bộ tộc du mục thường hay nương nhờ tại các vùng biên thùy Ai Cập, tại thời điểm nầy, chính quyền cai trị là người Hyksos. Trong đó có Abraham và con cháu ông, mà Yuse, là khuông mặt nổi bật. Ông làm quan tướng  cho chính quyền sở tại.

         Đến thế kỷ 13, người Ai Cập tại phương nam khôi phục lại vương quyền trên toàn bộ lãnh thổ Ai Cập với những tên tuổi như Ramses I, II…nhiều dân du mục bị cưỡng ép lao động nặng nhọc, phục vụ cho công cuộc xây dựng các kiến trúc của các triều Pharaoh. Du mục là dân ưa thích sự tự do, họ trốn chạy vào vùng sa mạc hoang địa, sống đời phóng khoáng như cha ông. Môsê nổi lên như một lãnh tụ đã đưa Israel thoát khỏi thân phận nô lệ để hình thành nên 1 dân đặc biệt,  Dân của Giao Ước, Dân Thiên Chúa. Trên 200 năm tiệm cận đất Canaan, dân Israel bằng nhiều hình thức: đánh chiếm, giao hảo, chen lấn dần giữa dân cư trong xứ rồi sáp nhập… Đây là giai đoạn Cựu Ước gọi là thời các thủ lãnh với  nhũng tên tuổi như Deborad, Ghideon, Samson…

         Thiên niên kỷ 1 trước Công nguyên, năm 1000, David với tài  chính trị và  dụng binh khéo léo đã bắt các thế lực chống đối quy phục, tiến vào Yêrusalem, hình thành nên trung tâm tôn giáo, chính trị của Israel. Đây là thời kỳ huy hoàng nhất trong lịch sử Israel, kéo dài 69 năm, dưới triều đại David và Salomon. Sau thời kỳ hoàng kim nầy, Israel bắt đầu trượt dài do não trạng địa phương, tranh dành trong nội bộ các chi tộc, và hậu quả là cuộc phân chia  Nam Bắc : Bắc quốc Israel, còn gọi là Ephraim, với 10 chi tộc, đế đô là Samarie, Nam quốc Yuđa với chi tộc Yuđa và Bengiamin, thủ đô Yêrusalem. Cùng với việc phân chia đất nước, việc ly khai tôn giáo cũng thành hình.

         Bắc quốc tồn tại được 200 năm, tận diệt vào năm 721 trước Công nguyên, vào thời Sargon đệ nhị của Assur. Toàn dân bị lưu đày khắp đế quốc và dân nơi khác lại định cư tại Samarie, theo chính sách chống nổi loạn của chính quyền Assur. Nam quốc Yuđa cũng lâm vào hoàn cảnh không khá hơn, chính trị lúc dựa bên nầy, lúc ngã bên kia, hậu quả bị Nabucho Đonosor, đế quốc Babylone đánh chiếm năm 587 trước Công nguyên. Đền thờ bị phá hủy, toàn dân phải lưu đày tại Babylon, ngoại trừ 1 số nhỏ, số sót lại, theo ngôn từ của các ngôn sứ.

          Sau 50 năm lưu đày tại Babylon, dân Israel có cơ hội suy tư, cảm nhận những gì Thiên Chúa đã làm cho dân tộc. Năm 538, vua Kyrô của Batư tiến vào Babylon, cho phép các dân lưu đày hồi hương. Nhiều nhóm Israel xuất hành, trở về kiến tạo lại đất nước. Từ đây, vương quyền của Israel chỉ còn trên bình diện tôn giáo, mà các thượng tế, kinh sư là người lãnh đạo. Năm 332, lại 1 biến cố làm thay đổi cục diện chính trị vùng Đất Hứa, Alexandre đại đế của Hy Lạp phá tan đế quốc Batư. Tuy nhiên, Alexandre mất sớm, đế quốc được chia cho các tướng lĩnh: Ai Cập với các vua Ptolémé, (Israel thuộc quyền các vua nầy); Syria với các vua Antiôkô. Bất hạnh thay, năm 200, Antiôkô xứ Syria thôn tính Ptolémé, Israel lại rơi vào tay Syria với các cuộc cấm cách bách hại đạo Do Thái dữ dội, đặc biệt dưới triều Antiôkô Êpiphanê (-175-163). Cuộc cấm cách bách hại nầy làm trổi đậy cuộc chiến phục quốc Israel do anh em nhà Hasmônê lãnh đạo, điển hình là Maccabê  (Sách Maccabê ). Cuộc chiến thắng lợi, dòng họ Hasmônê thu tóm mọi quyền lực chính trị và tôn giáo và điều hành đất nước từ 142 đến 63 trước Công nguyên.

        Đế quốc Roma nổi lên như kẻ kế thừa đế quốc Hy Lạp, lần lượt xâm nhập và đánh chiếm các nước khác. Nhân cuộc tranh chấp quyền lực của anh em nhà Hasmônê năm
-63 trước Công Nguyên, Pompéius kéo quân vào Yêrusalem, chiếm quyền cai trị và chỉ để nhà Hasmônê nắm quyền tôn giáo. Chính trong giai đoạn nầy mà Đức Yêsu, vị Mêssia được mong đợi ra đời. Đế quốc Roma đã tận diệt Israel vào năm 131, triều vua Hadriano,  sau nhiều cuộc nổi loạn của dân bản xứ. Ông phát vãng toàn bộ dân Israel, Yêrusalem trở nên 1 thành dân ngoại, cấm tuyệt không cho bất kỳ người Do Thái nào vào. Mãi 1948, Israel mới được tái lập dưới sự bảo trợ của Liên Hiệp Quốc.

2.      Giải thích lịch sử của các ngôn sứ.

         Phải nói ngay từ ban đầu, Kinh Thánh Cựu Ước được viết đa phần trong khoảng thời gian từ thế kỷ 8 đến thế kỷ 6 trước Công nguyên, dựa trên những truyền kỳ, ký ức của cha ông, nhất là với biến cố lưu đày tại Babylone năm 587.

         Làm thế nào dân Do thái lại sống sót, trong khi biết bao dân tộc khác đã đánh mất bản ngã, danh tính, khi trà trộn làm dân của các đế quốc Tiểu Á cổ thời? Không mấy dân bị tàn phá, bại trận liên tiếp, bị phát lưu tha phương, vẻn vẹn chỉ còn một nhóm sót lại, dưới ách đô hộ lâu năm của những quyền bính xa lạ, văn minh, thế mà người Do Thái vẫn tồn tại. Chẳng những thế, họ còn tái thiết cộng đoàn và chuyển lại một truyền thống phát triển thêm, có ảnh hưởng kiến tạo trên tất cả lịch sử về sau. Tại sao? Câu trả lời chỉ có thể là : Các ngôn sứ trong vòng 2 thế kỷ 8 – 6 đã tổ thuật được một giải thích đặc biệt về trình tự lịch sử và gây được người hưởng ứng, một số người vừa đủ để làm cho lịch sử đến sau phải chuyển qua hướng mới.

         Thật ra, chính các ngôn sứ đã không nghĩ thế. Họ không phải là những triết gia lập thuyết 1 cách trừu tượng, sau khi đã chiêm nghiệm, quan sát lịch sử. Các vị tự giới thiệu bằng kiểu nói của sứ giả : Chúa Thượng phán thế nầy !... Họ tin chắc chính Thiên Chúa đã phán với họ cũng như đã phán với cha ông họ qua các truyền kỳ. Bằng cách nào là 1 vấn đề thuộc hiện tượng thần bí.

         Phương thức giải thích lịch sử của ngôn sứ không phải do hoạt động trí khôn họ. Thiên Chúa đã phán với họ qua biến cố họ sống, đó là ý nghĩa họ thấy chính trong biến cố, khi lòng trí họ mở ra cho Thiên Chúa cũng như giác quan họ mở ra cho biến cố bên ngoài. Vì thế, việc giải thích lịch sử do các ngôn sứ, cũng như định hướng và ảnh hưởng trên lịch sử, được đồng hóa với Lời Thiên Chúa ngỏ cùng loài người. Chúng ta có được tường thuật ơn thiên triệu nầy trong các sách ngôn sứ, nhất là trong Isaya 6, 1-8.

         Kinh nghiệm của Isaya là kinh nghiệm căn bản, cắm sâu vào bản ngã của 1 con người. Chính tại kinh nghiệm ấy, đã tóm tắt tất cả những cốt yếu cho việc giải thích lịch sử của các ngôn sứ : Có kinh nghiệm ý thức về uy quyền và thánh thiện của Yahveh Thiên Chúa là điều căn bản mọi sự, có con người trước nhan Thiên Chúa, vừa bị lên án vừa được thứ tha. Có lời kêu gọi của Thiên Chúa và tiếng đáp ứng của con người ( Các anh chị tham dự lễ mùng 1 tết Quý Tỵ 2013 đã được nghe ơn gọi nầy của Isaya ). Đấy chính là Thiên Chúa đứng trước mặt loài người, trong sự phán xét và trong lòng thương xót của NGÀI, ra lời hiệu triệu, đòi hỏi phải đáp ứng. Ngôn sứ giải thích lịch sử như thế, và họ đã lôi kéo được 1 số người sẵn sàng đón nhận. Các chuỗi biến cố cùng với sự am hiểu theo nhãn giới các ngôn sứ đã có những hậu quả kỳ vỹ cho lịch sử những thế kỷ về sau.

          Các sách Cựu Ước, trong hình thức còn lưu lại, đều được viết sau thời các ngôn sứ và mang dấu tích ảnh hưởng của các ngài. Các sách lịch sử được soạn lại, theo những biên niên sử và hồ sơ xưa sưu tập, nhưng do tay các đồ đệ của các ngôn sứ. Như vậy, ngũ kinh ( Torah ) cũng được san định dưới ảnh hưởng của các ngôn sứ. Ơn kêu gọi của Abraham, của Môsê, đều được tường thuật bằng từ ngữ các ngôn sứ dùng để diễn đạt ơn thiên triệu của họ. Các môn đệ của các ngôn sứ đã tra tay viết lại lịch sử thánh của Israel là có ý định cho thấy ý nghĩa chất chứa trong đó, chiếu theo giáo huấn của các ngài.

3.      Nguồn tài liệu.

                  Khi soạn lại các sách, đồ đệ các ngôn sứ đã căn cứ vào các truyền kỳ, truyện tích được lưu truyền từ thời cha ông, kết hợp lại với những gì được thu nhận với nền văn minh tiếp xúc, nhất là ảnh hưởng các ngôn sứ, để hình thành đại bộ phận các sách Cựu Ước. Các truyền thống nầy đan xen nhau, bổ túc cho nhau, đôi khi song song… thể hiện dẫy đầy trong các sách. Khoa nghiên cứu Kinh Thánh có nhiều nhận định về các nguồn tài liệu nầy, tuy nhiên, phổ biến nhất là nguồn 4 truyền thống. Gọi là J E D P.

               Nguồn tài liệu J được hình thành khi vào giai đoạn lập quốc của Israel kéo dài đến vương quốc Yuđa ở phương nam, Gọi Thiên Chúa là Yahveh. Ký hiệu J. Nguồn tài liệu E được biên soạn tại phía bắc, vương quốc Israel Ephraim, gọi Thiên Chúa là Elohim ( số nhiều của EL: Thần ), Ký hiệu E. Sau khi Israel Ephraim bị tàn phá, 2 nguồn tài liệu nầy được đúc kết chung với nhau (JE). Đến thời vua Yôsia của Yuđa, vào thế kỷ VII trước CN, có thêm nguồn tài liệu Đệ nhị luật, còn được gọi là Thứ luật (Deuteronomium) được phối hợp vào (JED). Sau thời lưu đày Babylon, có thêm 1 nguồn do các tư tế, môn đệ ngôn sứ san định, gồm luật lệ và 1 số trình thuật. Ký hiệu P. Trình thuật Thiên Chúa tạo dựng vũ trụ và con người mở đầu trong Sách Sáng Thế và cả Cựu Ước, là công trình của các vị tư tế nầy.

           Hiện nay, khoa nghiên cứu Kinh Thánh vẫn đang nổ lực tìm hiểu thêm về các nguồn tài liệu , theo nhiều phương pháp, hướng nghiên cứu khác nhau. Chúng tôi mong muốn trình bày cho các anh chị đôi nét sơ lược để bớt chút ngõ ngàng khi tham gia khóa học.

          
        










                 TẠO  DỰNG - SA  NGà -  LỜI  HỨA  CỨU  ĐỘ .

1.      SÁCH SÁNG THẾ.

 Khát vọng con người trong mọi thời là muốn biết nguồn cội của mình. Đây chính là nỗi khao khát Thiên Chúa đặt  trong lòng mọi người, như công cụ mặc khải về sự hiện diện của Ngài. Con người luôn tìm kiếm quá khứ của mình, khởi từ các nhóm người rồi đến các dân tộc, nỗ lực tìm kiếm như để tìm thấy trong quá khứ những điều mà ngày hôm nay họ tin tưởng. Kể lại lịch sử mình là cách khẳng định căn tính bản thân giữa bao cộng đồng dân tộc lớn nhỏ. Sách Sáng Thế cũng như vậy. Sách nầy được hình thành từng khúc, từng đoạn, trong nhiều thế kỷ. Đến thế kỷ thứ sáu trước Công Nguyên, mới được định hình vĩnh viễn. Có nghĩa, dân Israel sau lưu đày Babylon, đã đem niềm tin của mình viết thành văn tự. Đây là một áng văn bình dị nhưng tuyệt diệu để diễn đạt tình yêu của Thiên Chúa

Chúng ta không tìm đọc trong Sáng Thế như một tài liệu về nguồn gốc vũ trụ, hay một tội phạm của nguyên tổ loài người. Những áng văn diễn tả trong những chương đầu của sách, mang đậm nét một bài thánh ca phụng vụ, trong đó, con người cảm nhận được Thiên Chúa  là Đấng tạo thành, Ngài vượt xa các công trình sáng tạo đang làm cho chúng ta ngây ngất chiêm ngưỡng, thán phục. Các chương nầy cố gắng đưa ra một chuổi nối kết những khoảng thời gian vô tận từ lúc tạo thành cho đến các “ Tổ phụ tiên khởi của lòng tin ” mà người được ghi nhớ đầu tiên là Abraham. Phần thứ hai, gợi nhớ hình ảnh các thị tộc du mục, đã tin vào Thiên Chúa thời bấy giờ. Một Thiên Chúa của cha ông họ rất gần gũi, thân mật, luôn che chở họ. Phần thứ ba trong sách là câu chuyên ông Yuse, làm lóe lên tia sáng đầu tiên trong những tấn bi kịch đời sống con người. Loài người cần một vị Cứu Tinh và ơn cứu thoát của họ sẽ đến, nhờ những người mà trước đây, chính họ ngược đãi và loại trừ .

Sách Sáng Thế hình thành do nhiều tác giả và nhiều giai đoạn từ lúc bán khai du mục không có chữ viết và được ấp ủ truyền khẩu cho đến khi định cư tại Palestin và dần gia nhập vào nền văn hóa chữ viết. Các tác giả đầu tiên đã vay mượn nhiều của văn chương người Babylon và phần thi ca của họ về đôi vợ chồng nguyên thủy, về nạn hồng thủy, nhưng cải biên lại để đưa ra cái vũ trụ quan xuất phát từ niềm tin của cha ông. Các trình thuật cổ xưa nầy còn được các tác giả khác bổ sung thêm những yếu tố thuộc về truyền thuyết khác, thường trùng lắp nhau. Sau cuộc lưu đày từ Babylon trở về, các tư tế lại viết thêm nhiều đoạn. Một trong đó, là bài thơ sáng thế trong sáu ngày, bài khởi đầu trong sách Sáng Thế và là chương mở đầu cho toàn bộ Kinh Thánh .

   2. THIÊN CHÚA TẠO DỰNG . ( St 1,1-31 và  2,1-4a ) ( St 2, 4b-25)

Như đã nói ở phần trên, chúng ta có hai đoạn văn đơn sơ nói về sáng tạo nên vũ trụ và con người, do các tác giả khác nhau biên soạn. Các đoạn văn nầy không thể gán ghép vào nhau, nhưng mỗi đoạn đều thấm đẫm những ý nghĩa soạn giả muốn truyền đạt. Chúng ta sẽ lần lượt cùng tìm hiểu :

2.1 Tạo dựng trong sáu ngày ( St 1,1-31)

Trước tiên  bài ca tạo dựng vũ trụ trong 6 ngày có tiết điệu  nhịp nhàng mang dấu chỉ một bài thánh ca phụng vụ, chứ không phải là  một bài giáo khoa khoa học, miêu tả vũ trụ hình thành như thế nào, như những tranh luận trong hơn mấy trăm năm qua. Chắc hẳn, ai là người Việt Nam cũng thuộc tích con Rồng cháu Tiên, nhưng không ai tin đó là một luận thuyết khoa học. Bài ca tạo dựng vũ trụ cũng thế, nó cho chúng ta điều cảm nhận đầu tiên về một Thiên Chúa Hằng hữu, vượt xa mọi công trình tạo dựng của Ngài, dù các công trình đó đang làm cho chúng ta ngây ngất chiêm ngưỡng, cũng như hãi sợ, vì không hiểu hết các cơ chế của nó. Cũng trong trình thuật nầy cho thấy toàn bộ công trình Ngài tạo dựng  là một  sức sống, mà Lời và Thần Khí được nói ở đây như đôi bàn tay của Thiên Chúa Tạo Thành.

Chương nầy ( St 1 và 2,1-4a) thuộc truyền thống P, cho thấy sự uyên bác của hàng tư tế hơn đâu hết. những dòng viết nầy không phải được viết trong sáng chiều, nhưng là đúc kết, suy nghĩ, cân nhắc trước sau minh bạch, từ thế hệ nầy sang thế hệ khác. Không thể xem đây là một chương ấu trĩ, luộm thuộm. Chương nầy là một mệnh đề đức tin. Lời văn trong câu nêu lên đạo lý cơ bản : Thiên Chúa tạo nên vũ trụ bởi ý định hoàn toàn tự do của Ngài.

Câu “ Thiên Chúa phán ” hàm ý đây là ranh giới giữa Đấng Tạo Thành và các loài thụ tạo. Thế giới thụ tạo không phải là Thiên Chúa, không phải là khuôn mặt của Ngài và Ngài càng không lệ thuộc nó.

“ Liền có” Cụm từ khẳng định Thiên Chúa Toàn Năng, tạo thành vũ trụ từ hư không, mọi tạo thành được hiện diện theo ý định của Thiên Chúa, một ý định tốt lành thánh thiện được trình thuật trong câu thường hay lặp lại: “ Thiên chúa thấy thế là tốt đẹp ”, mang một tín yếu cơ bản là Ngài không tạo nên gì xấu.

Thiên Chúa quan phòng tạo dựng vũ trụ theo 1 trình tự. Ngài không tạo ra  cách ngẫu nhiên, nhưng theo 1 tiến trình tuyệt hảo, được Sách Sáng Thế diễn đạt bằng cuộc phân tách trong 3 ngày đầu và trang trí trong 3 ngày tiếp theo.

Thiên Chúa cho thấy sự huyền nhiệm phong phú sâu thẳm nơi Ngài, Thiên Chúa duy nhất nhưng không đơn độc. “ Thần khí bay lượn trên mặt nước ( St 1, 2)… Lời phán ( St 1, 3)… Chúng ta hãy taọ dựng con người ( St 1,26)…”

Chương đầu tiên nầy cho biết: Thiên Chúa là Đấng duy nhất hiện hữu và vũ trụ cùng các định luật của nó đều là thụ tạo của Ngài. Thật tuyệt vời! Trong lúc các nền văn minh chói lọi cổ đại còn tin tưởng thờ thụ tạo như thần mặt trời ( Ai Cập, Aton), mặt trăng ( lưỡng hà, Ur), lại có một nhóm dân không lấy gì nổi bật, bé tí, chẳng văn minh bằng ai, xác quyết vũ trụ nầy là thụ tạo.

Con người cũng là thụ tạo do Thiên Chúa dựng nên, nhưng có vị thế đặc biệt trong tạo dựng. Đoạn trình thuật cho thấy tính chất trang trọng, như có sự bàn thảo:   “Chúng ta hãy tạo dựng con người theo hình ảnh chúng ta, giống như chúng ta, để làm bá chủ…và Thiên Chúa đã tạo dựng con người theo hình ảnh Thiên Chúa” Câu  nầy cho chúng ta thấy Thiên Chúa yêu thương và trao cho con người phẩm giá cao quý:

-           Thiên Chúa sáng tạo nên con người theo hình ảnh Thiên Chúa. Đây là  một trong những điều quan trọng nhất mà Kinh Thánh khẳng định . Con người không thể bị giam hãm trong các ảo ảnh mình tạo ra, không là tù nhân của các phạm trù do mình đặt, nhưng là con người được tạo ra cho Sự Thật. Thiên Chúa đã cho con người biết những điều nầy bằng chính ngôn ngữ và kinh nghiệm con người rằng chúng ta được sáng tạo để đáp lại lời mời gọi của Thiên Chúa ( Mặc khải tiên khởi)

-    Thiên Chúa sáng tạo con người có Nam có Nữ. Đây chính là phẩm giá của họ. Thật đáng kinh ngạc,  một xã hội cổ mà khẳng định tính chất bình đẳng nam nữ, tôn trọng phẩm giá con người. Như thế, điều nầy nói lên rằng, Tình yêu đứng đầu trong chương trình Thiên Chúa, sự tiến hóa lâu dài về tình dục chỉ nhằm chuẩn bị cho tình yêu mà thôi.

-    Hãy thống trị mặt đất mang lại ý nghĩa trao phó cho vũ trụ cho con người để tiếp tục góp phần vào sự thăng hoa của vũ trụ. Thiên Chúa nâng cao phẩm giá con người, như một đồng chủ nhân, một cộng tác viên tham gia vào công cuộc tạo thành. Con người sẽ sử dụng mọi khả năng để làm cho cuộc sống phát triển.

Đến đây, không thể không nói đến khoa học. Có một số những kẻ mệnh danh là nhà khoa học, từ xưa đến nay, xem Thiên Chúa như là như là một trở ngại, kìm hãm sự phát triển của con người. Những tưởng một mớ kiến thức mình có được là một sự khám phá kỳ vỹ, đẩy Thiên Chúa tới sự tiêu vong, trong lúc thực chất những cái mà họ ngỡ của mình phát minh ra chỉ là những công cụ Thiên Chúa ban tặng cho con người để làm chủ vũ trụ

Sau khi hoàn tất việc tạo dựng, ngày thứ bảy Thiên Chúa nghỉ ngơi, mang ý nghĩa  thánh hóa con người khỏi những ách thường ngày trong cuộc sống, để gặp gỡ Thiên Chúa, tha nhân cũng như soi rọi bản thân trong mối quan hệ của thân phận thụ tạo  và Đấng Tạo Thành .

Qua đoạn trình thuật trên, chúng ta nhận thấy Kinh Thánh đề cao phẩm giá con người khi khẳng định con người xuất phát từ Thiên Chúa, chứ không phải là một sản phẩm ngẫu nhiên. Các dân tộc cổ đại tin rằng, họ lệ thuộc các sở thích thất thường của các vị thần, con người vô phương thoát khỏi sức mạnh của định mệnh. Ngay cả những người vốn rất tự hào là những người tự do, như người Hy Lạp, cũng phải khuất phục sức mạnh nầy. Truyền thuyết về Oedipus là một minh chứng. Trái lại, Kinh Thánh lại giới thiệu những con người không sợ quyền lực tự nhiên, được phú bẫm năng lực để làm chủ chúng. Con người có tự do.

Đằng sau trình thuật nầy, chúng ta có mặc khải đầu tiên về Ba Ngôi Thiên Chúa. “ Chúng ta ( Elohim ) hãy làm ra người theo hình ảnh chúng ta ” (St 1,26 ) Thiên Chúa đã  tạo dựng người như chóp đỉnh của tạo thành, như hình ảnh Thiên Chúa, hình ảnh tuyệt vời không gì sánh được.

2.2 Thiên Chúa tạo dựng Con Người, Thử thách ( St 2, 5-25 )

Liền ngay sau trình thuật tạo dựng trong 7 ngày, chúng ta gặp một trình thuật còn cổ xưa hơn nhiều: Người Nam và người Nữ trong vườn địa đàng. Truyền thuyết mang ý nghĩa cách con người đang hiện hữu chọn lựa tương lai họ. Phần trình thuật nầy cho thấy nhân loại có bước phát triển, từ bán khai du mục tiến đến định cư, phản ảnh  câu chuyện Ađam được đặt trong vườn Eđen để chăm sóc vườn và cai quản muôn thú.

Truyền thuyết Ađam như nói trên được biên tập lại từ thần thoại của văn minh Lưỡng Hà nhưng mang một nội dung mới. Tiếng Hipri, Ađam có nghĩa là Con người, loài người. Thiên Chúa được miêu tả như người thợ gốm nhào nặn nắm bụi đất trong tay, cho nó đón nhận sinh khí, sự sống từ chính hơi thở mình. Đây là hình ảnh nên thơ và tuyệt diệu miêu tả mối quan hệ yêu thương Thiên Chúa đối với con người: Nhận lấy sức sống từ Ngài.( Hình ảnh nầy, chúng ta được gặp lại trong Tin Mừng, vào Ngày thứ nhất trong tuần, khi Chúa Yêsu sống lại. Ngài cũng thổi hơi trên đầu các tông đồ để ban Thánh Thần cho họ, để trở thành tạo vật mới trong cuộc tạo thành mới).

Ađam ( Con Người) được trao phó để làm chủ. Thiên Chúa giàu nhân ái cho con người làm chủ  khu vườn qua việc đặt tên các loài thú, chim muôn…thu hoạch mọi hoa trái trong vườn để sử dụng. Con người có được mọi thứ, bao gồm cây Trường Sinh để sống mãi trong hạnh phúc, nhưng cần vâng lời Thiên Chúa tránh xa cây Biết Lành Biết Dữ. ( Con Thiên Chúa là vâng phục Thiên Chúa, các bạn lưu ý để đối chiếu lại với 3 cơn thử thách của Chúa Yêsu trong hoang địa) Như thế, làm chủ không phải là ăn không ngồi rồi, nhưng vui sướng trong công việc được chúc phúc, thiên nhiên hài hòa và mang hoa trái cho việc lao động đó.

Đến đây, chúng tôi giải thích thêm để các bạn hiểu: Biết Lành Biết Dữ chỉ tất cả nội dung sự biết. Hai từ đối chọi đó hợp làm một, diễn tả tính toàn diện. Biết không thuần lý như hiểu biết cách thực hiện, khéo léo, giỏi việc gì…nhưng ý nói đến tài năng siêu phàm, hiểu theo nhãn giới vùng Tiểu Á, là các phù phép ma thuật. Đối với các ngôn sứ, các loại ma thuật là quyền năng trộm của Thiên Chúa, nghịch lại Thánh Ý Thiên Chúa. Tác giả đặt tội trộm quyền phép Thiên Chúa, vào ngay nguồn gốc nhân loại.

 Con người còn được đặt trong môi trường tuyệt vời để phát triển, Thiên Chúa cũng đã ban cho con người một trợ tá tương xứng, để họ kết hợp trong tình yêu, trao hiến chính mình và chia sẻ hạnh phúc với nhau. Người Nữ xuất hiện như người bạn đời, chứ không là tỳ nữ. Cả hai trở thành một xương một thịt biểu hiện tính duy nhất của đôi lứa chứ không phải là một tạm ước, để hai bên tận hưởng nhau ( Một phương thức sống thường bắt gặp trong thời buổi hiện nay ) Họ làm nên một  gia đình, nơi đó, công trình Thiên Chúa được thực hiện. Từ gia đình đó con cái sinh ra và như thế, đôi lứa hoàn lại cho nhân loại kho báu nhân tính họ đã nhận.

Trình thuật nầy không có tham vọng mô tả phương thức loài người xuất hiện. Trình thuật mang một sứ điệp tiên tri: Khi tạo dựng lứa đôi, Thiên Chúa cho chúng ta hiểu phần nào mầu nhiệm Đức Kitô, Đấng đến với nhân loại như vị hôn phu. Như Eva ngày xưa xuất phát từ cạnh sườn Adam khi ông đang ngủ thế nào thì từ cạnh sườn  Đức Yêsu trên thập giá, nước và máu trào ra sản sinh nên một Hội Thánh  thanh tẩy, hôn thê yêu quí của Ngài .

2.3  SA NGÃ . ( St 3, 1-7 )

 Chúng ta không ảo tưởng về con người đầu tiên như một anh Tarzan Adam  trong khu rừng Eden, đã phạm một sai lầm kếch sù, làm di hại đến toàn thể loài người hậu bối. Chúng ta cùng theo dõi trình thuật gồm 3 bước: Cám dỗ, sa ngã, phán xét.

Tiếp sau trình thuật con người trong môi trường thân tình với Thiên Chúa, lại nói ngay hiện trạng số kiếp con người. Lỗi tại ai? Khẳng định đầu tiên: cái xấu, không đến từ Thiên Chúa, nhưng từ thủ lãnh kiêu ngạo là Satan, sách Gióp đã mô tả. Con rắn trong sách mang dáng dấp của tên thủ lãnh tối tăm nầy. Trong ký ức của nhân loại, loài bò sát nầy đã gây ra nhiều tổn thất nhân mạng từ buổi sơ khai tới giờ, nên sách đã mượn hình ảnh nầy, để diễn tả bộ mặt tên xấu xa đó.

Chước cám dỗ đến, ngụy trang dưới khuôn mặt tốt đẹp: tìm sự khôn ngoan. Satan đặt để trong lòng con người mối hoài nghi về tình yêu của Thiên Chúa.Trình thuật sự sa ngã nầy là áng văn diễn tả tâm lý hay tuyệt của tác giả:

Satan đặt câu hỏi bâng quơ, có vẻ như quá đáng về điều cấm của Thiên Chúa. Nó  để người nữ ngây thơ tự nhiên liên tưởng đến, rồi đính chính, làm như đã đề phòng, bênh vực Thiên Chúa. Nhưng những lời đính chính nầy cũng đã làm tổn thương sự đơn sơ vâng phục. Thế là Satan trắng trợn quả quyết : “ Chẳng chết chóc gì đâu…” một bước lớn trong quá trình quyến rũ. Thế là, nó để mặc cho người nữ phân vân nghi hoặc.

Không chống lại được cám dỗ thì tất yếu phải sa ngã phạm tội. Trình thuật tiếp nối với cuộc đối thoại tay ba giữa Thiên Chúa, người Nữ, người Nam, nghe thật kỳ lạ Người nữ thèm ăn mà người nam mới là thủ phạm. Thật ra tác giả trình thuật nầy thấy vào thời bấy giờ người ta khai thác phụ nữ cũng như sự khéo léo của người bị khai thác để lấy lòng chủ nhân mình, nên đã có suy nghĩ đàn bà là kẻ đầu tiên bất trung, nhưng Thiên Chúa tỏ hết mọi sự, đâu chấp nhận kiểu chạy tội của người đàn ông.

 Chi tiết nói lên một cách mỉa mai nỗi thất vọng ê chề của con người khi có tội: thấy mình trần truồng. “Xấu hổ vì trần truồng” : ám chỉ đến xúc động giác quan ngoài ý muốn. Điều nầy chỉ sự hỗn loạn trong con người, không làm chủ được mình. Sự rạn vỡ của bản lĩnh con người. Xấu hổ, diễn tả sự đảo lộn trật tự đó. Con người thay vì biết điều thiện, điều ác, như các vị thần, chỉ còn biết điều ác. Bi đát hơn, trốn vào cây cối để tránh Thiên Chúa, được coi là  lý tưởng đạt cho kỳ được. Tan tành các phấn khởi muốn làm nên một thần linh.

Trình thuật tả cảnh cuộc phán xét là cách nói lên thân phận kiếp người lầm than khi ra khỏi ân nghĩa Thiên Chúa: gánh nặng lao động, mối tương quan vợ chồng theo kiểu thống trị ( Adam dặt tên cho vợ ) sinh hạ và dưỡng dục …Nhưng liền sau các phán quyết đó, trình thuật liền cho thấy  niềm hy vọng của chiến thắng sự ác một lần dứt khoát. Đây chính là nguồn động lực khích lệ con người xuyên suốt lịch sử Sách Thánh. Đây cũng chính là niềm hy vọng khiến chúng ta tỉnh thức, khi đâu đâu cũng thấy những cái ác, cái thất vọng hoặc cái ru ngủ chúng ta, hoành hành.

Đến đây, các anh chị, các bạn lại thắc mắc: vậy thì tội nguyên tổ hay tội tổ tông là gì, khi tường thuật từ sách Sáng Thế chỉ nói lên như một trực giác, có thể hiểu điều nầy được không ?

Thú thật, tất cả chúng tôi, đều trãi qua thắc mắc nầy. Khi còn là trẻ con, chúng tôi cũng tin một cách xác tín và đơn sơ rằng, quả thật tội nầy ta mắc phải là tại ông Ađam đã dại đột nghe lời bà Eva, xơi ngay trái Cấm khiến Thiên Chúa nổi giận,làm án trên suốt con cháu ông bà. Hiện nay, nhiều người đạo gốc, vẫn còn suy nghĩ ấu trĩ như vậy. Tuổi tác ngày càng cao, nhưng căn bản lòng tin vẫn không trưởng thành, không quan tâm học hỏi để phát triển, bằng lòng với những kiến thức được trang bị cho trẻ em.

Như thế, nguyên tội phải hiểu như thế nào mà mỗi người đều vướng? Phải nói ngay rằng các nhân vật trong sách Sáng Thế cũng như con rắn là do tác giả vay mượn từ thần thoại cổ, mà thần thoại là các mãnh vỡ còn lại của thông điệp cổ nhân muốn truyền lại. Bài học đó ở đây là tất cả chúng ta đều sa ngã, kẻ nặng người nhẹ, tất cả chúng ta đều bất trung với Thiên Chúa. Nhìn ngắm các sự kiện trong lịch sử, đặc biệt trong lịch sử Israel, có thể hiểu ngay ra rằng: tội lỗi chúng ta không phải là tội lỗi một cá nhân riêng lẻ. Mỗi người trong chúng ta ngay từ lúc chưa lọt lòng mẹ đã dầm mình trong một thế giới bạo lực: người chung quanh, văn hóa, các kinh nghiệm đầu đời đều dạy cho chúng ta biết tội là gì. Dùng theo ngôn ngữ tâm phân học thì chúng ta nhiễm tội từ vô thức tập thể.

Câu chuyện nguyên tổ sa ngã nói lên thực trạng chung nhất nơi con người, muốn tự mình phán quyết điều lành dữ, nhân danh điều tốt, điều thiện. Làm người, ai cũng vướng vào nguyên tội là vậy.

Cũng phải nói rằng, sự dữ xuất hiện từ thời gian cụ thể trong lịch sử là sự kiện không ai biết, nhưng hậu quả tràn lan của nó, đã không còn là vấn đề phải nghi ngờ. Sáng Thế cho ta thấy một thứ trực giác từ biến cố đau thương nầy, biến cố làm thay đổi hẳn cuộc sống con người, phải đau đớn, gian truân như kinh nghiệm mà mỗi người trong chúng ta đã trãi. Kinh nghiệm nầy chúng ta nhận ra trong tất cả mọi hình thái của sự dữ đang  hoành hành làm cho cuộc sống băng hoại đi, không phải chỉ một lần trong dòng thời gian, nhưng tiếp tục mỗi ngày : Hận thù, chiến tranh, ghen ghét, gian dối, lừa đảo … đè nặng  lên cuộc sống nhân loại. Thế đấy, nguyên tội là cách nói tính chất tội gốc do con người muốn tự tại, muốn tự mình phán xét mọi sự dù mình là “Không” trước mặt Thiên Chúa.

2.4 Lời hứa cứu độ.

Thật ra, nguyên tội là mặt khác của ơn cứu độ, chẳng thế mà trong Công Bố Phục Sinh đã gọi lại tội hồng phúc đó sao? Con người vô phương thoát khỏi ách thống trị của Satan, thủ lãnh của sự dữ, nếu không được ơn hòa giải với Thiên Chúa. Trình thuật cho thấy hé rạng một tia hy vọng chiến thắng về phía loài người  “Dòng giống nó sẽ đạp đầu ngươi ”, dấu chỉ Đức Mêsia Yêsu sau nầy. Thiên Chúa đã đi trước một bước, trong tiến trình giải cứu chúng ta, nhờ Đức Yêsu Kitô. Nguyên tội chỉ có thể hiểu được nhờ ánh sáng Tin Mừng. Có thể mượn hình ảnh nầy để hình dung : chúng ta ở trong bóng tối nhưng không biết mình trong bóng tối, chỉ khi có ánh sáng (ơn Cứu Độ), chúng ta mới nhận thấy mình đang ở trong bóng tối. Thiên Chúa bẽ gãy mưu toan của tên ác thần bằng cách cho Con Một xuống trần, vào một vị thế cùng tận nhất của nhân loại để rồi từ đó “ Kéo tất cả lên với người  ” (Ga 12,32 ).

Để hiểu được, Lời hứa cứu độ từ đâu, mong các anh chị kiên nhẫn theo dõi tiếp đến phần các ngôn sứ, sẽ có cái nhìn phản hồi lại trình thuật nầy. ( trình thuật nầy được biên tập lại vào khoản thế kỷ  thứ 8 đến thế kỷ thứ 6 trước công nguyên, dưới ảnh hưởng các ngôn sứ, là người được mặc khải tuyên Lời Thiên Chúa). Chúng ta sẽ cùng theo dõi trong các chương kế tiếp.

3.HẬU QUẢ NGUYÊN TỘI.

3.1. Đổ vỡ trong bản lĩnh con người.

           “ Xấu hổ vì trần truồng” là cụm từ diễn tả sự băng hoại tự bản lĩnh con người. Con người không còn làm chủ được bản năng và để thú tính bắt đầu chi phối. Hình tượng ngây thơ trong trắng nhường chổ cho lăng kính cầm thú. Sự hài hòa, làm chủ bản thân và thiên nhiên được thay thế cho thất vọng về chính bản thân.

3.2. Đổ vỡ trong mối quan hệ vợ chồng.

        Còn đâu “ Xương nầy bởi xương tôi, thịt nầy bởi thịt tôi”. Thay vào đó là sự đổ vạ và lăng nhục : “ Người đàn bà Ngài cho ở với con, đã cho con ăn trái cây ấy…” Tội lỗi không làm con người hợp nhất, dù là đồng phạm. Chính cái Tôi không chấp nhận mình tội lỗi, đổ thừa cho kẻ khác. Thiên Chúa cũng bị coi là tác nhân gây nên. Mối quan hệ yêu mến thâm tình biến thành tương quan quyền lưc. Adam đặt tên cho vợ cho thấy sự bình đẳng đã mất.

           Mối tương quan bình đẳng, yêu thương nầy chỉ được tái tạo lại khi Chúa Kitô đến, đặc biệt trong bí tích hôn nhân Công Giáo.

3.3. Đổ vỡ trong gia đình, quyến thuộc. Cain – Abel ( St 4, 1-16)
       
Thoạt đầu, câu chuyện Cain và Abel cũng là một câu chuyện không ăn nhập gì với Adam và Eva nhưng được biên tập lại để nói lên một ý nghĩa khác. Trình thuật cho thấy: bạo lực là nhân tố quyết định của lịch sử loài người. Gốc rễ của bạo lực nằm ngay trong thâm tâm con người ( St 4,7 ) và Thiên Chúa, Đấng thi hành công lý, chống lại thứ công lý trả đũa bạo lực nầy ( St 4,15

Anh em không dung nhau dù được cảnh báo. Hậu quả nguyên tội nhanh chóng lan tràn và sức hủy diệt nó ngày càng mãnh liệt. Sự trầm trọng thể hiện nơi sâu thẳm con người, không từ thủ đoạn. Trình thuật nầy gợi nên con người cần Đấng Cứu độ như thế nào. Nói như Phaolô, cái tốt đẹp biết vẫn không làm, cái xấu biết nhưng lại làm, là thế.

3.4. Đổ vỡ trên toàn nhân loại. Lụt hồng thủy. ( st 6,5-21; 7,1-23; 8, 1-22)

Phải nói ngay cơn hồng thủy đã để lại một dấu ấn mạnh mẽ trong ký ức nhân loại và nó xuất hiện gần như trong thần thoại của các nền văn minh nhân loại, từ dân tộc nầy sang dân tộc khác. Chúng ta không đề cập đến sử tính của nó, trình thuật nầy muốn nói với chúng ta điều gì ?

Khi nguyên tội là căn bản, mối tương quan xã hội tràn ngập tội lỗi. Sáng Thế trình bày Thiên Chúa nhìn xuống trần gian và thấy: Nếu con người làm được điều gì, thì đó là tội lỗi. Con người cần được tẩy luyện để trở nên trong sạch, Thiên Chúa sẽ thực hiện ý định Cứu Độ của Ngài.

Cơn hồng thủy là ẩn dụ của bí tích thanh tẩy ngày nay. Nước của Thần Khí tuôn đổ để xóa bỏ tất cả tội lỗi, thánh hóa, biến con người nên trong sạch trong ơn nghĩa Thiên Chúa. Theo một nghĩa nào đó, chiếc tàu ông Noê, chính là Hội Thánh ngày nay. Chúng ta gia nhập vào nhờ lòng tin và bí tích thanh tẩy, được Chúa Yêsu Kitô là Noê mới tiếp nhận. Sau đó, không phải chỉ co rút trong lòng Hội Thánh nhưng còn có sứ vụ cứu độ thế gian, xây dựng thế giới mới trong đó Thiên Chúa hiển trị là ý nghĩa của đoạn trình thuật nầy vậy.

3.5.  nguyên tội : Bản chất con người. Tháp Babel.( St 11,1-9)

Trình thuật nầy cũng lấy một phần huyền thoại của Babel (babylon cổ) là thủ đô nổi tiếng một thời với các dinh thự bằng gạch nung và các tòa tháp bị bỏ dở dang một cách kỳ lạ. Huyền thoại Babylon cho rằng các thần sợ hãi khi bị loài người ngạo nghễ   (Lại kiêu ngạo, không phải tội nguyên tổ nầy chỉ được nói đến trong Sáng Thế mà còn bàng bạc trong kho tàng văn minh nhân loại )  đe dọa ngay trong nơi cư ngụ của các vị thần. Thế nhưng đâu là ý nghĩa mà soạn tác muốn nói đến ?

Chắc chắn là Thiên Chúa không ngại con người xâm phạm nơi ở như các thần linh Babylon, mà xuất chiêu làm con người không còn hiểu ngôn ngữ của nhau, đành chia tay tản mác theo từng nhóm ngôn ngữ. Trong quá trình phát triển, con người khám phá ra những kỹ thuật mới và dần đưa đến tham vọng quyền bính tập trung trong tay, tham vọng thống trị, chống lại các mối đe dọa cũng như rũi ro. Đó là nội lực của các đế quốc từng xãy ra từ cổ chí kim, huy động sức người sức của hòng duy trì phát triển tham vọng của thiểu số thống trị. Tất cả sẽ bị tan vỡ.

Tội lỗi không làm nhân loại đoàn kết, là điều khẳng định. Chính nguyên tội là tội gốc muốn mọi người suy tôn thần phục mình, là lý do con người chia rẻ, chẳng ai phục ai. Một trình thuật mang tính dụ ngôn tuyệt hảo.
 Duy nhất chỉ một mình Thiên Chúa quy tụ chúng ta lại : Khi Thánh Thần ngự vào tâm hồn các tín hữu trong lễ Ngũ Tuần (Cv 2) thì Ngài làm cho họ hiểu được nhau trong ngôn ngữ độc nhất của tình yêu. Sẽ chỉ còn một dân duy nhất là Hội Thánh .

4 . THỰC HIỆN LỜI HỨA : TỪ ABRAHAM ĐẾN YUSE .

4.1 Thiên Chúa kêu gọi Abraham. ( St 12,1-9 )

Mở đầu cho đoạn trình thuật nầy, chúng ta lại thấy câu : “Thiên chúa phán…”  Xem lại trong sách Sáng Thế, chúng ta thấy Thiên Chúa có ba lời phán :

Lời phán thứ nhất, (chương 1): Đó là lời phán tạo dựng. Lờì Ngài sáng tạo vũ trụ với các định luật tự nhiên của nó và vũ trụ không ngừng tùy thuộc vào Ngài. Thiên Chúa đã đặt để cho nó hầu như tự điều khiển, nhưng không phải tất cả Ngài đã ấn định ngay từ đầu và tự buộc mình, dù muốn dù không. Hoàn toàn không phải như thế nhưng nên hiểu như trong Tin Mừng Yoan : “ Cho đến nay Cha tôi vẫn làm việc ” (Ga 5,17) Thiên Chúa không ngừng bộc lộ chính mình qua các công trình Ngài thực hiện và tạo thành vẫn đang được tiếp tục .

Lời phán thứ hai (chương 9 ) cho ông Noê cũng mang nhiều ý nghĩa. Ngài đã thiết lập một giao ước với mọi dân tộc vì tất cả đều là dòng dõi của Noê . Thiên Chúa giáng phúc cho họ qua con đường cứu độ và họ sẽ gặp con đường nầy qua 1001 nền văn hóa và tôn giáo của họ ( Cv 17,27 ) Điều nầy thể hiện khi Lời hoặc sự Khôn Ngoan của Thiên Chúa tự lộ diện trong cuộc tìm kiếm khôn ngoan của họ. Thế nhưng, khi trao phó kho tàng vũ trụ cho nhân loại ngày càng lý trí hơn thì Thiên Chúa vẫn chưa lộ ra điều lạ lùng đó là một tình yêu năng động với các sáng kiến mà chỉ mình Ngài mới hiểu. Như thế, Ngài kêu gọi những con người, nhóm người cùng sống với Ngài trong một lịch sử  độc đáo và thường trái ngược với các kinh nghiệm chung. Đó là nội dung lời phán thứ hai.

Lời phán thứ ba (chương 12 ) với lời gọi Abraham khởi đầu cho một dân của Thiên Chúa, khác với các dân khác, giữa những người được chọn và không được chọn đôi khi làm cho lương tâm nhiều Kitô hữu cảm thấy khó chịu. Câu chuyện về sau của Êsau và Giacóp là một thí dụ .Chúng ta sẽ phải nhận thấy tính chất độc đáo nơi ơn gọi của mỗi một người. Tất cả hoạt động trong thánh sử đều là sáng kiến của Thiên Chúa và do Ngài điều khiển:

 “ Hãy rời bỏ xứ sở, họ hàng và nhà cha ngươi mà đi tới đất Ta sẽ chỉ cho ngươi, Ta sẽ làm cho ngươi thành một dân lớn,  sẽ chúc phúc cho ngươi. Ta sẽ làm cho tên tuổi ngươi được lừng lẫy, và ngươi sẽ là một mối chúc lành. Ta sẽ chúc phúc cho những ai chúc phúc ngươi. Ai nhục mạ ngươi, Ta sẽ nguyền rũa. Nhờ ngươi, mọi gia tộc trên mặt đất sẽ được chúc phúc .

Trong trình thuật nầy, chúng ta rút ra được những gì ?

Dân Thiên Chúa được bắt đầu với Abraham. Ý định cứu rỗi của Thiên Chúa trên nhân loại được xác định rõ rệt: Ngài chọn 1 dòng dõi, chính với dòng dõi đó Thiên Chúa dấn mình vào lịch sử. Ơn thiên triệu Abraham phản ảnh :

- Thiên Chúa chọn Abraham, tương phản với muôn dân đông đảo: Hoạt động trong thánh sử là do Thiên Chúa điều khiển.
- Lời Thiên Chúa đòi hỏi cắt đứt với mọi dây liên lạc tự nhiên: Ngài kể tỉ mỉ những điều phải từ bỏ. Ngài biết khó khăn của sự đòi hỏi nầy, yêu cầu mọi việc phó thác cho Ngài đẫn dắt. Đích hành trình sẽ được trỏ cho biết : Hãy dựa vào Ngài.

Thánh sử dựa trên Lời Thiên Chúa can thiệp, định đoạt ( Tv 39,13)

4.1.1 Abraham : Người lĩnh nhận Lời Hứa.

Thiên Chúa ban cho Abraham điều mà người ta cố sức đoạt lấy không thành ( ám chỉ Babel). Lời Hứa không chỉ dành cho ông và huyết thống, nhưng còn là sự chúc lành đại đồng.

-                             Trình thuật diễn tả việc lĩnh nhận bằng hình thức chúc lành.
-                             Lời chúc lành đó là nguồn gốc cho đạo lý về Mêsia, Đấng Cứu Độ, được thực hiện theo từng giai đoạn liên lạc chặt chẽ với nhau, bật nên sự trung tín nhưng không của Thiên Chúa
-                             Lời Hứa gồm 3 điều : *  Đất đai phì nhiêu
* Dòng dõi đông đúc
* Số mệnh nhân loại.

4.1.2       Abraham : Cha các kẻ tin, Tổ phụ lòng tin tiên khởi.

-                             Tuân thủ lệnh ra đi đến nơi bất định khi tuổi đã xế chiều.

Tính tuyệt đối của đức tin Abraham nơi Thiên Chúa trái ngược với những bảo đảm theo tiêu chuẩn loài người. Lời Thiên Chúa đến đòi hỏi phải cắt đứt với mọi dây liên lạc tự nhiên. Thiên Chúa kể tỉ mỉ các điều cần từ bỏ. Ngài biết khó khăn của từ bỏ đó. Abraham từ bỏ mọi thứ ông thụ đắc để phó thác cho Thiên Chúa hướng dẫn. Đích của cuộc hành trình cũng vô định : “ …đi tới đất mà Ta sẽ chỉ cho ngươi”. Thiên Chúa yêu cầu trông cậy tuyệt đối vào Ngài, không phân vân e ngại. Chính vì Tin vào Ngài, Lời Hứa nên hiện thực cũng như dấu lạ sẽ xãy ra cho kẻ tin sau nầy.

-                             Sẵn sàng hy sinh Isaac.

Abraham hẳn phải khổ tâm khi nghe 1 yêu cầu tưởng chừng phi lý: Sát tế đứa con huyết thống của mình. Tuy nhiên, lòng tin của Abraham vào Thiên Chúa không phải là lĩnh nhận 1 đạo lý khôn ngoan, bảo đảm, an toàn cho cuộc sống. Lòng tin Abraham đáp ứng với một ơn gọi : Tế nhận và chịu lấy sáng kiến của Thiên Chúa. Người Thiên Chúa chọn không ngụy biện, lấy sự khôn ngoan của con người để lấn át sự đòi hỏi của Thiên Chúa. Đó là lòng tin kiểu mẫu. Tất cả những ai đón nhận ý định Thiên Chúa như thế, chính là dòng dõi Abraham. Dòng dõi theo Lời Hứa của Thiên Chúa chứ không phải theo huyết thống. Ơn Cứu độ Thiên Chúa dạm hứa cho toàn nhân loại là thế.

4.2. ISMAEL – ISSAC .

Thiên Chúa, luôn trung thành với giao ước, chọn đúng thời điểm thích hợp, để thực thi ý Ngài. Con người chúng ta thường lo lắng vượt quá khả năng mình rồi hay tìm biện pháp để đạt cho được. Có lẽ câu chuyện bà Sarah, vợ của Abraham, là một thí dụ điển hình. Thấy mình đã có tuổi mà cả hai ông bà vẫn không con nối dõi, bà chủ động cho người hầu nữ Hagar chung đụng với chồng, như tục lệ thời bấy giờ. Kết quả là cậu bé Ismael ra đời. Ông tổ của người Arab ngày nay.

Tuy nhiên, con huyết thống không phải là con Lời Hứa và Thiên Chúa chọn lựa người thừa kế Ơn Cứu Độ theo ý định thẳm sâu của Ngài. Khi đến thời điểm thích hợp, Thiên Chúa đã cho Abraham người con do chính Sarah sinh ra, đứa con được chọn  theo lời hứa, được đặt tên là Isaac.

Isaac là dung mạo không nổi bật trong truyền thống Kinh Thánh lắm. Ông là gạch nối giữa Abraham – Giacóp, chỉ sự trung tín liên tục của Thiên Chúa trong quá trình thực hiên Lời Hứa.

4.2       Dung mạo Giacóp.

          Giacóp, điển hình cho dân Thiên Chúa chọn, như Abraham. Tuy nhiên, nơi Abraham  mọi trình thuật về ơn gọi vẫn chưa thể hiện hết ý định Thiên Chúa. Giacóp, phương thức được chọn xác định rõ hơn :

-                             Gốc của Israel xuất phát từ 12 người con của Giacóp (St 35, 23-26). Kể từ đây, con số 12 nầy luôn biểu trưng cho toàn thể dân Chúa thời Cựu Ước, cũng như  12 tông đồ sau nầy là trụ cột cho một dân được tái tạo mới trong Thần Khí.

-                             Thiên Chúa cho biết sự tự do lựa chọn của Ngài. Chọn con thứ, bỏ con cả. Ơn Thiên Chúa không nhất thiết phải theo lẽ tự nhiên hay suy đoán thường tình của con người. ( Cain- Abel, Ismael-Isaac, Êsau-Giacop… và còn nhiều trong diễn trình lịch sử cứu độ nữa)

-                             Sự lựa chọn của Thiên Chúa diễn ra trong hoàn cảnh không lấy gì làm gương mẫu của thường nhân : Giacóp, kẻ gạt gẫm, láu cá ( St 25; 26;27;36) ngay từ lúc sinh ra. Trình thuật cho thấy tội lỗi loài người không cản trở được Thiên Chúa trong ý định của Ngài. Một cách bí nhiệm, Thiên Chúa còn sử dụng cả sự  khiếm khuyết tội lỗi để thực hiện ý định.

-                             Vừa chống nghịch , vừa là công cụ của Thiên Chúa, Giacóp bịp bợm đã kết nối Thiên Chúa cách lạ kỳ, hầu như luôn đọ sức cùng Thiên Chúa. Chính vì thế Giacóp có tên mới: Israel.

Giacóp tiêu biểu cho dân Thiên Chúa chọn.( Dnl 32, 28 ; Is 65,9). Tội lỗi và Lời Hứa luôn kèm theo ơn được gọi. Con người được Thiên Chúa dạm ban ân sủng trong sự bất toàn của mình mà Giacóp là biểu trưng đó.

4.3        Mười hai chi tộc.

Mười hai chi tộc, thành phần của giao hiếu thánh, coi như phát sinh từ 12 người con của Giacop. Hai bộ tộc liên minh với nhau tạo nên mối liên lạc máu huyết giả tạo, coi nhau như anh em. Giao hiếu nầy không chỉ riêng cho người Tiểu Á mà còn phổ biến trong các xã hội khác, ngay tại Việt Nam.

Trên khía cạnh lịch sử, không phải tất cả 12 chi tộc nầy đều di cư xuống Ai Cập để rồi sau nầy làm cuộc xuất hành tiến về Đất Hứa. Có nhiều bộ tộc sống rãi rác, hoạt động bán du muc… chẳng thế mà sau nầy Moshe trốn sang Madian để ngụ cư nơi nhà người đồng chủng.

Phải nói mười hai chi tộc nầy được hình thành cách lỏng lẽo và chỉ bắt đầu với cuộc tiến chiếm dần Canaan trong thời gian 300 năm. Tuy nhiên, lịch sử Cứu Độ trình bày cho chúng ta mặc khải cứu độ được hình thành qua từng giai đoạn và Thiên Chúa trung tín với Lời Hứa của Ngài với các tổ phụ tiên khởi.

Số 12 không chỉ có trong  trong Israel mà còn nơi các bộ tộc khác, sách Sáng Thế cũng đã đề cập. Đây là con số mang tính chất tôn giáo: liên minh để duy trì sung bái tại 1 đền thờ trung ương. Địa điểm thờ phượng, đền thờ trung ương là mối liên kết các bộ tộc. Thời du mục là các trướng cung di động, có lúc tại Sichem, lúc tại Gilgal, Bethel. Với cuộc định cư tại Canan, Yêrusalem trở thành Đền thờ trung ương và đi vào lịch sử Dân Thiên Chúa.

5.      CHÂN DUNG VỊ CƯU TINH ( St 37-50)

Trong 13 chương nầy, trình thuật giải thích cho việc di dân sang Ai Cập làm tiền đề cho cuộc Xuất hành của Israel 500 năm sau. Giacop sang Ai Cập, người lĩnh Lời Hứa và những ai ở cùng ông, trở thành tâm điểm của trình thuật. Những chương nầy cho thấy dung mạo sơ khởi của vị cứu tinh qua câu chuyện cảm động của Yuse.

Yuse, con yêu của Giacop và Rachel, là cậu con ngoan và có biệt tài đoán mộng. ( đừng vin vào các trình thuật nầy để biện minh cho việc xem bói toán, chiêm tinh, giải mộng). Trình thuật nầy soạn giả muốn đề cập đến sự quan phòng của Thiên Chúa cũng như ơn gọi ngôn sứ.

Tất cả mọi biến cố trong cuộc đời, đều là công cụ để thực hiện Ý Định Cứu Độ của Thiên Chúa, bất chấp những mưu đồ bất chính. Điển hình là cuộc đời Yuse. Cuộc mưu hại vì ganh ghét của anh em trong gia đình, sự vu khống vì không chấp nhận thỏa mãn thói trăng hoa của bà chủ, bị bạn đồng cảnh ngộ lãng quên, tất cả không qua được ý định của Thiên Chúa trên người tôi trung.

Câu chuyện Yuse là chân dung đầu tiên được phác thảo của Vị Cứu Tinh: Có những người bị anh em bách hại, trở thành nguồn Cứu Độ của anh em mình. Nếu Yuse không nếm trãi những thử thách cay đắng, ông làm sao có thể cứu giúp anh em thân tộc và dân chúng đói khổ? Cũng thế, theo Ý Định Cứu Độ của Đức Chúa, Chúa Yêsu không nhập thể, chịu khổ nạn và phục sinh, làm sao con người được giải thoát, được sống và sống dồi dào trong ân nghĩa Thiên Chúa?