Thursday, 21 August 2014

Lm Nguyễn Thế Thuấn: Công vụ Tông đồ Chương 4



CHƯƠNG 4
CHỨNG TÁ
(Martus)
Coi LCerfaux, Témoins du Christ d’après le Livre des Actes
                        (Recueil II 157-174)
NRT 73 (1951) 152-165 ARétif : Témoignaga et prédication missinnaire dans les Actes dens les Actes des Aptres.
Tiếng Hilạp thông thường đã gồm 2 nghĩa :
- Chứng về sự kiện đã xảy ra : chứng nhân tòa án trước tiên.
- Áp dụng rộng rãi hơn : nói ra những quan điểm, hay chân lý mà mình xác tín (tất nhiên đây không còn là sự kiện giác quan tế nhận).
Lc24:48 Cv1:21 4:33... : tiếng trước tiên dùng cho “chứng tá” nói ra những “việc” những sự kiện chính mình đã được biết trực tiếp. Nhưng các việc đây là “sự nghiệp” Chúa Yêsu, và cách riêng sự sống lại của Ngài : Vai trò tông đồ chính là việc làm chứng đó. Nhưng hoàn cảnh đặc biệt Yêrusalem : “chứng tá” xuất hiện sau khi vụ kiện Chúa Yêsu đã kết liễu; vì thế chứng tá đây còn là kẻ ủng hộ, theo phe một người đã bị lên án (tương phản giữa việc dân đã chối từ Chúa Yêsu và việc làm chứng của các tông đồ : 5:30-32 10:39-42 13:27-31).
Bởi đó “làm chứng” có tính cách long trọng của tố tụng : và vì người họ làm chứng cho đã bị lên án, thì chứng đó trở nên một việc khiếu nại đòi duyệt lại bản án.
Bây giờ xét đến “nội dung” của chứng các Tông đồ làm : chúng ta có sự nghiệp Chúa Yêsu gồm cả sự sống lại của Ngài : sự nghiệp sinh thời có thể người khác chứng kiến nữa.
Và đàng khác, các “việc đó” trong quan niệm “chứng tá” hai yếu tố mật thiết chặt chẽ : nói ra điều đã xảy ra – và loan báo (cách xác tín với mục đích muốn kéo kẻ khác thông chia sự xác tín của mình) ý nghĩa của các điều đó. Chúng ta vừa có chứng cho sự kiện, vừa có chứng cho sự thật : hai điều liên kết chặt chẽ và là hậu kết không thể không có một khi biết rằng “Tin mừng” là mạc khải trong lịch sử.



Và trong khi chứng được tuyên ra giữa “chống đối” “chứng” (martus) sẽ dần dần phải học kiên nhẫn chịu đựng để đành lòng làm “nạn nhân” của chứng mình tuyên ra (5:41). Và có lẽ tiếng “martus” đã thiên hẳn về ý nghĩa “tử đạo” trong Cv22:20.

Tuesday, 19 August 2014

Lm Nguyễn Thế Thuấn Công vụ Tông đồ Chương 3



CHƯƠNG 3
CÁC TÔNG ĐỒ

Tiếng dùng để chỉ các ngài

Người hai vị: Khởi điểm tự sinh thời của Chúa : Ngài đã chọn mười hai người trong hàng những kẻ theo Ngài, và cho họ cộng tác vào công việc của Ngài. Việc chọn con số đó là một việc đầy ý nghĩa thánh sử : Chúa Yêsu liên kết công việc của Ngài với kế đồ Thiên Chúa đã diễn ra trong Cựu ước, và hướng vào việc xây dựng Cộng đoàn của Thiên Chúa. Nhóm 12 không phải là đại diện của 12 chi tộc Israel, hay là triều thần của Mêsia. Nhưng việc lựa chọn con số đó vừa hướng về trước và về sau : thành tựu ý định Thiên Chúa trên dân 12 họ, và dụng ý là hướng đến hình thức cùng tận của Cộng đoàn cánh chung. Việc chọn 12 vị cho thấy chủ trương rõ rệt của Chúa Yêsu.

Tông đồ (Apostoloi) (coi LCerfaux, Pour l’histoire du titre Apostolos dans le N.T., RSR 48 (1960) 76-92).

Tiếng dùng Apostolos không do chính Chúa Yêsu đặt cho 12 vị (Lc 6:13). Theo chứng chỉ văn kiện thì tiếng Apostolos dành cho 12 vị chỉ gặp thấy trong các văn kiện muộn thời hơn. Những thư đầu tiên của thánh Phaolô dùng theo nghĩa : tước vị của những môn đồ đặt biệt đã được Chúa ban quyền rao giảng Tin mừng : quyền đó vừa nhắm đến thời Galilê, vừa nhắm đến quyền rao giảng khắp nơi sau sống lại, và nhắm đến cách riêng quyền hành của họ hoàn toàn dựa trên việc Chúa Kitô đã sai họ. Đến thời người ta đặt liên lạc giữa thời Hội thánh và sinh thời của Chúa, thì dung mạo 12 nổi bật vì họ là dây nối giữa hai thời : tiếng Apostolos đã được dành riêng cho họ, đến đỗi Công vụ không muốn dùng tiếng đó cho Phaolô.