Friday, 10 May 2019

Lm Giuse Mai Văn Thịnh DCCT: MẸ LÀ NGUỒN SUỐI TÌNH YÊU



Chúa nhật thứ tư trong mùa Phục sinh hay được gọi là Chúa nhật Chúa Chiên Lành. Đây là một hình ảnh vô cùng độc đáo mà Hội Thánh dùng để mời gọi con cái mình nhận ra lòng yêu thương, sự bao bọc và bảo vệ của Thiên Chúa như người mục tử nhân hậu sẵn sàng làm mọi sự, ngay cả hy sinh mạng sống, để bảo vệ đoàn chiên. Cũng trong ngày hôm nay, Hội Thánh cổ võ và cầu nguyện cho ơn gọi; đặc biệt trong ngày của các người mẹ năm nay, chúng ta cùng san sẻ cho nhau vài nét suy tư về phẩm chất vô cùng cao quí mà tất cả các ơn gọi cần có, đó là bản năng hay lòng của mẹ.

Trước tiên, chúng ta hãy coi lại cách nhìn và sự hiểu biết của chúng ta về vai trò của người mục tử. Chúng ta thường hay gọi Đức Giáo Hoàng, các Đức Giám Mục, và đôi khi các Linh Mục là các nhà mục tử. Đây là kiểu nói quá hạn hẹp vì cho rằng chỉ có các Đấng bản quyền mới có trách nhiệm chăn dắt con chiên, bổn đạo. 

Ngày xưa, người ta nói rằng việc mở mang Nước Chúa được thực hiện bởi hàng Giáo Phẩm. Công đồng Vatican II đã giúp cho chúng ta có được cái nhìn đúng đắn hơn. Trách nhiệm đó được trao ban cho tất cả mọi tín hữu, ai ai cũng có bổn phận loan báo Tin mừng cho người khác. 

Chính vì thế, danh từ ‘mục tử’ được dùng để nói đến trách nhiệm của chúng ta là những kẻ được đặt để chăm sóc, quan tâm và nhất là để trao ban tình yêu cho người khác tùy theo ơn gọi mà Chúa đã mời. Thật ra, chính Chúa Giêsu mới là Đấng chăn chiên nhân hậu, còn chúng ta tuy được ban tặng cho danh hiệu đó; nhưng chúng ta vẫn là người thừa hành tác vụ từ Chúa. Căn bản, mỗi người chúng ta luôn là những con chiên trong ràn chiên của Chúa.

Hình ảnh ‘người chăn chiên’ đã được các ngôn sứ của thời cựu ước dùng để ám chỉ đến các vị lãnh đạo của dân Do Thái. Ngôn sứ Ezekiel xuất hiện trong thời dân bị lưu đầy bên Babylon. Trong bối cảnh lịch sử như thế, khi mà dân Do thái đã mất tất cả: văn hóa, quê hương, đền thờ,... thì ngôn sứ đã khơi lên niềm hy vọng cho dân bằng cách trình bầy Thiên Chúa là Người chăn chiên tốt lành, là Mục tử nhân hậu, là Đấng dẫn đường để dẫn dắt đoàn chiên, tìm chỗ cho chiên ăn, dẫn lại về ràn các con chiên lạc đường và cứu chiên thoát khỏi các cạm bẫy, các hiểm nguy của các thợ săn và thú dữ. (Ed 34: 11 – 16)

Trong thời Chúa Giêsu, mỗi ràn chiên khoảng chừng vài ngàn con; vì thế nhiệm vụ của người chăn chiên thì vô cùng vất vả. Vào mùa nắng, ông phải dẫn chiên đi đến những đồng cỏ tốt; và khi mùa đông đến ông phải tìm chỗ cho chiên trú ẩn; ông còn phải học để săn sóc cho các con chiên bị thương tích. Vì chức năng của công việc, nên người chăn chiên thường có nhiều đụng chạm với chủ của các đồng cỏ; và đôi khi còn bị lên án như là kẻ trộm hoa mầu của họ. 

Thực tế, người chăn chiên thường được mướn để làm việc này; chiên không thuộc về tài sản của họ. Tuy vậy, cũng còn một số rất ít người vừa là chủ vừa là người chăn chiên. Hơn nữa, vì nhiệm vụ nên người chăn chiên thường không thể tham dự các nghi lễ theo luật của người Do thái. Họ thường bị liệt vào ‘hạng công dân thứ hai’ của Do thái giáo. Giống như các nhân viên thu thuế, những ai làm nghề chăn chiên thường không được làm nhân chứng của tòa án và cũng chẳng được trao một nhiệm vụ công quyền nào.

Dựa vào những suy tư của dân Do thái, hoàn cảnh thực tế của nghề chăn chiên và nhất là các kinh nghiệm về sự sống mà Chúa Giêsu đã trao ban cho các tín hữu thời giáo hội sơ khai, tác giả của Tin mừng thứ tư đã trình bầy Chúa Giêsu không chỉ là người chăn chiên; nhưng là Đấng chăn chiên tốt lành, đã hy sinh mạng sống để đem tất cả con chiên, dù lạc ràn hay không, về lại ràn và ban cho chúng sự sống đời đời và không một ai có quyền tước mất sự sống này được. Và ai ở trong ràn chiên của Ngài thì không bao giờ bị diệt vong. (Kinh nghiệm về vị mục tử nhân hậu hiến mạng sống vì đoàn chiên hoàn toàn mới mẻ và vượt xa kinh nghiệm mà ngôn sứ Ezekiel đã loan báo). 

Qua ý nghĩa của bài Tin mừng về người chăn chiên tốt lành mà Phụng vụ dùng vào các Chúa Nhật thứ tư trong Mùa Phục Sinh, và cũng là ngày mà chúng ta cầu nguyện cho ơn gọi. Và theo tôi, một trong những ơn gọi cao quí nhất đó là ơn gọi làm mẹ. Mẹ ở đây không phải là nhiệm vụ dành riêng cho các phụ nữ mà thôi. Nhưng trong vai trò lãnh đạo, hình ảnh của Đấng Chăn Chiên được thể hiện qua cách cư xử của các bà mẹ. Vì thế tinh thần, phẩm chất và bản năng của người mẹ cần thiết vô cùng cho những ai được gọi trong vai trò lãnh đạo để phục vụ. 

Giờ đây chúng ta dành vài phút chia sẻ vài cảm nghĩ, đôi dòng suy tư về ơn gọi của những người mẹ Việt Nam cũng như tất cả các bà mẹ trên toàn thế giới.

Người ta thường nói mẹ là hình ảnh của tình yêu. Nhưng theo thiển ý của tôi thì mẹ chính là tình yêu, là sức sống, là hạnh phúc và là nơi nương tựa của đoàn con. Mẹ đã không vì mẹ mà sống, nhưng cuộc sống của các ngài là vì chồng và cho con cái. Chúng ta ít nghe thấy mẹ nói về những ngày nghỉ, trái lại mẹ thường dùng những ngày đó như là các cơ hội để phục vụ chồng và tụ họp con cái quây quần bên bàn cơm do mẹ dọn sẵn. Mẹ tần tảo trong công việc. Mẹ hy sinh và chấp nhận mọi khó khăn để bầy tỏ tình yêu của mẹ. 

Tình yêu của mẹ như dòng suối chảy một chiều: cho đi mà không đòi lấy lại. Chúng ta thường được nghe rằng: “nước mắt chảy xuôi ...” Thật vậy, cho dù con cái đã khôn lớn, cho dù vì vô tình hay cố ý mà một số người con đã không cư xử tốt với mẹ, thì mẹ vẫn yêu thương các con; vì đó là lẽ sống của mẹ.

Như người chăn chiên tốt, biết từng sở thích, từng nhu cầu của mỗi con chiên; thì mẹ của chúng ta cũng lần mò từng bước để học và biết từng sở thích, từng nhu cầu của mỗi người con. Trên tiến trình này, mẹ nhận biết rằng mỗi người con của mẹ đều là quà tặng thật cá biệt mà Thiên Chúa đã ban cho mẹ, đó chính là những khu vườn mà Thiên Chúa muốn mẹ gieo trồng, chăm bón và thu hoạch một hạt giống quí giá nhất mà mẹ đã lãnh nhận: Tình yêu và sự sống.

Khi nói mẹ là sự sống thì tôi nhớ lại đoản truyện ngắn vô cùng thương tâm mà tôi đã đọc được trong nguyệt san ‘Reader’s digest’. Đó là một sự kiện có thật đã xẩy ra tại Việt Nam vào đầu thập niên 1970. Trong cuộc di tản dân chúng khỏi vùng hỏa tuyến tại miền Trung, phái đoàn y tế Hoa kỳ đã chứng kiến cảnh một cháu bé khoảng chừng 9 tháng đang cố gắng nuốt những giọt sữa hòa chung với dòng máu trên thân xác tuy đã chết nhưng vẫn còn hơi ấm của mẹ em. 

Và mới đây, vào năm 1995, sau vụ động đất tại Thành Phố Kô-bê, bên Nhật, người ta đào bới và khám phá dưới đống gạch vụn của một tòa nhà đã đổ nát là hai mẹ con. Người mẹ, tuy còn sống nhưng đã bất tỉnh; còn đứa cháu gái đang cố gắng ngậm chặt ngón tay của người mẹ và cố hút nguồn sống bằng máu phát xuất từ thân thể của mẹ cháu. 

Sau khi phục hồi sức khỏe cho hai mẹ con. Người ta nghe bà mẹ kể lại rằng. Tuy bị chôn vùi ở dưới đống gạch đổ nát của tòa cao ốc. Nhưng hai mẹ con chúng tôi quả thật đã gặp vận may. Có một cái đà thay vì đổ suống đập vào chúng tôi thì lại bị ngăn lại bởi bức tường vụn và trở thành vật chắn giúp hai mẹ con chúng tôi không bị đè chết. Sau đó, đứa con vài tháng tuổi của chị đói quá khóc thét lên. Bà mẹ không biết phải làm gì! Dòng sữa thì khô quặn vì đã mất mấy ngày họ đâu có gì để ăn và để uống. Bà mẹ mò mẫm trong bóng tối và tay bà đã chạm vào một vật sắc và nhọn. Với bản năng yêu thương của một người mẹ, bà không kịp suy nghĩ, lập tức dùng ngay vật nhọn đó cắt vào ngón tay của mình và đặt vào miệng cháu. Cứ thế mỗi lần con của bà khóc thét lên là một vết cắt của yêu thương được xuất phát từ thân thể của bà. Cứ thế cho đến khi bà ngất đi vì bât tỉnh và không hề biết những chuyện xẩy ra sau này.

Người ta hỏi bà là khi cắt da thịt mình để lấy máu thay sữa cho con, bà không sợ chết sao? Bà trả lời rằng với bản năng của người mẹ, tôi không có thời gian để suy nghĩ. Sự sống còn của con tôi là tất cả những gì mà tôi có thể làm được; cho dù giờ này biết làm thế rồi chết, tôi vẫn làm.

Và để minh họa cho nhiệm vụ của người chăn chiên qua hình ảnh của người mẹ, xin mời anh chị em cùng theo dõi câu chuyện sau đây:  

Người ta nói rằng: Nếu Chúa Kitô còn sống bằng xương bằng thịt ở trên đời ngày hôm nay, chúng ta tự hỏi không biết Chúa còn dùng hình ảnh con chiên và người mục tử không? Có lẽ Chúa sẽ dùng hình ảnh ‘mẹ và con’ hơn. 

Thật êm đềm và đầm ấm khi chúng ta được chứng kiến cảnh hai mẹ con sánh bước bên nhau, tay trong tay. Rồi thì em bé chợt buông tay mẹ ra và bị bỏ rơi đằng sau, đang chăm chú nhìn vào gian hang đồ chơi, nhìn cái nầy sang cái khác mãi mà không biết chán. Người mẹ dừng lại và chờ đợi. Mẹ ra hiệu cho con chạy tới trước. Em bé chạy tới và hai mẹ con lại sánh bước bên nhau nhưng chẳng bao lâu, em bé lại buông tay ra và lần nầy chạy tuôn về phía trước. Mẹ gọi em hãy đợi, coi chừng nguy hiểm. Đến ngã tư đường, đèn xanh đèn đỏ, xe cộ chạy qua chạy lại. Em bé nghe tiếng mẹ gọi, đứng dừng lại đợi. Mẹ nắm tay em, ngó trước ngó sau rồi băng qua đường an toàn và tiếp tục cuộc hành trình. Chẳng bao lâu em bé trở nên mệt nhọc, rã rời và gục xuống. Người mẹ đỡ và bế con trong tay trên đoạn đường còn lại để đi về nhà. 

Đó đúng là một sự mô tả đầy thi vị cuộc hành trình của Kitô hữu. Giống như một người mẹ âu yếm con, Chúa Giêsu - người Mục Tử Nhân Lành và Từ Bi- luôn để mắt đến chúng ta. Ngài luôn ở bên cạnh chúng ta. Ngài không bao giờ rời mắt khỏi chúng ta. Niềm tin thâm sâu của chúng ta là, nhờ vào sự hiện diện âu yếm của Ngài, chúng ta sẽ bình an đạt tới đích trong sự bao bọc của Thiên Chúa.

Như vậy, bản năng và ơn gọi mà Thiên Chúa đã mời mẹ chúng ta lãnh nhận thật cao quí. Vì thế, để hoàn thành sứ mạng này, mẹ chúng ta có một cuộc sống tuy giản dị và âm thầm nhưng lại vô cùng kiên trung. Mẹ đặt trọn niềm tin và sự cậy trông nơi Đấng đã mời gọi mẹ. Mẹ đáp nhận bằng cả con tim yêu thương của mẹ để làm chứng cho tình yêu của Thiên Chúa. Mẹ thật đáng tôn vinh như những vị anh hùng vô danh mà chúng ta thường tưởng nhớ, hoặc như những vị thánh âm thầm mà không cần tuyên phong. Cuộc sống của các Ngài như những lời mời gọi, như những động lực giúp chúng ta tiếp tục sứ mạng làm chứng nhân tình yêu của Thiên Chúa.

Vậy, giờ đây chúng ta hãy cùng nhau tạ ơn Thiên Chúa đã ban cho chúng ta một người mẹ, đã ban cho nhân loại ‘ơn gọi làm mẹ’. Ước gì những ai được mời gọi thừa kế quyền lãnh đạo của Chúa Giê-su, hãy có con tim của người mẹ, luôn yêu thương và sống trọn vẹn cho những ai mà Chúa ban cho họ chăm sóc. 

Lm Giuse Mai Văn Thịnh, DCCT
12/5/2019

Wednesday, 1 May 2019

Lm Giuse Mai Văn Thịnh, CSsR :HÃY CHĂN DẮT VÀ YÊU THƯƠNG NHAU




Hôm nay, trong bài Tin Mừng, Thánh Gioan đã tường thuật cuộc hiện ra lần thứ ba của Chúa, sau khi đã sống lại từ cõi chết, cho các môn đệ. Tuần trước, chúng ta đã được nghe Thánh sử ghi lại 2 lần hiện ra, lần thứ nhất không có TôMa, lần thứ hai có mặt Tôma. Nếu không tính việc hiện ra cho cá nhân bà Maria Mácđala, thì đúng thật đây là lần thứ ba Chúa hiện ra với các môn đệ. 

Với lối tính này, chúng ta đoán được chủ ý của Thánh sử là muốn trình bầy những lần hiện ra cho cộng đoàn hơn là cho từng cá nhân. Cho dù Tô-Ma và Ma-ri-a Mác-đa-la đã nói và tuyên xưng rằng Thầy mình đã sống lại; nhưng dù sao chăng nữa thì các lời tuyên xưng của họ vẫn mang tính cá nhân. Các lời tuyên tín của cộng đoàn bao giờ cũng có giá trị hơn. Niềm tin vào Chúa Phục Sinh không dựa vào các lời tuyên tín của từng cá nhân; đây là quà tặng của Chúa Cha và đó cũng là niềm tin chung của cộng đoàn dân Chúa, Hội Thánh của Người.

Sau khi Đức Giêsu bị giết! Thế giới mà các môn đệ mong chờ để được chia chác chỗ đứng đã bị sụp đổ. Cho dù các ông đã hai lần được nhìn thấy Chúa, nhưng tiến trình đổi mới để thay đổi nhất là niềm vui và ơn bình an của Chúa Phục sinh không có hiệu quả ngay tức khắc; nó không được xẩy ra một sớm một chiều. Các ông vẫn còn buồn chán và với tâm trạng thất vọng, các ông trở về nghề chài lưới tại Biển Hồ Tibêria, nơi mà các ông đã làm trước khi đi theo Chúa. Có bẩy môn đệ có mặt trong lần hiện ra này, đó là “ông Simôn Phê-rô, ông Tô-ma gọi là Điđymô, ông Nathanaen người Cana miền Galilê, các người con ông Dêbêđê và hai môn đệ khác nữa, tất cả đang ở với nhau.”

Giống như mọi lần, hôm nay Phêrô mau mắn lên tiếng đề xuất “tôi đi đánh cá đây.” Phêrô chỉ nói lên ý định của mình, không có ý truyền lịnh hay yêu cầu điều gì nơi các bạn đồng nghiệp. Như một vị lãnh đạo tài giỏi và nhiệt thành, ông chỉ gợi ý mời gọi việc cộng tác của các bạn và tự nguyện đi bước trước. Ông tôn trọng ý kiến hay việc đóng góp của các bạn. Các bạn của ông thấy được trách nhiệm và tinh thần cùng chia sẻ nên đã đồng thanh xin đi cùng. Tinh thần hiệp nhất trong công tác chung đã được nói đến, nhưng kết quả của việc ra khơi trong đêm hôm ấy vẫn không bắt được con cá nào hết! Có lẽ, chúng ta cũng đoán được lý do tại sao. Câu trả lời sẽ tìm thấy trong phần kế tiếp của trình thuật. Theo kinh nghiệm của những ngư phủ, cá thuờng đi ăn vào ban đêm; thế mà các môn đệ đã vất vả cả đêm mà vẫn không luới đuợc con cá nào cả!

Khi màn đêm đã trôi qua để nhường chỗ cho bình minh xuất hiện thì các môn đệ đã mệt nhoài nên các ông chuẩn bị đi về. Ngay thời điểm ‘khi trời đã sáng’, Chúa Kitô không chỉ hiện đến mà Người đang đứng trên bãi biển mà các môn đệ không nhận ra Người. Điều này có nghĩa là Người hiện diện và đang đứng ở đó, lúc ánh sáng của thái dương bắt đầu xuất hiện. Người không biến mất rồi hiện ra, Người đang đứng ở đó; nhưng các môn đệ và chúng ta (vẫn đang ở trong đêm tối) không nhận ra Người.

Cho dù các môn đệ không nhận ra Người, nhưng các ông vẫn vâng lời mà làm theo điều Người dậy bảo mà thả luới ở bên phải mạn thuyền và kết quả là các ông thu đuợc một mẻ cá lớn mà nhiều người gọi là mẻ luới kỳ diệu bao gồm 153 con thuộc đủ mọi loại cá khác nhau. Trước kết quả này, người môn đệ được Chúa yêu, có thể là nhân vật đại diện cho tất cả mỗi người chúng ta, bởi vì ai trong chúng ta lại không được Chúa yêu sao. Ông môn đệ được Chúa yêu nhận ra Chúa và lên tiếng cho Phêrô biết là “Chúa đó”. Còn phản ứng của Phêrô lại khác, vẫn bộc trực, thẳng thắn và mau mắn. Vừa nghe bạn mình nói “Chúa đó” là ông lập tức nhẩy ngay xuống biển bơi vào bờ đến với Chúa. Lời nói và hành động của người được Chúa thương yêu và Phê-rô đã để lại cho chúng ta bài học vô cùng cao quí là sự nhận biết Chúa của chúng ta không dừng lại ở mặt cảm xúc; nhưng cần đuợc thể hiện bằng hành động mà tiếp cận với Chúa.

Chúa Giê-su mời các ông cùng ăn sáng đã được dọn sẵn cho các ông. Thầy trò cùng ăn với nhau. Một bữa ăn sáng đơn sơ, thanh đạm nhưng đầy tình thân. Lương thực của buối sáng hôm đó chỉ vỏn vẹn có mấy con cá và vài khúc bánh thế mà đã để lại trong tâm tư của họ một điều thật kỳ diệu đến nỗi không một ai trong nhóm họ dám hỏi về thân thế của Người, vì tất cả đều biết Người chính là Đức Chúa của họ, là chính Đức Giê-su, bằng xuơng bằng thịt mà các ông đã theo Người trên con đường sứ vụ. Người không phải là bóng ma, mà là Đấng đã chỗi dậy từ cõi chết.

Việc ra khơi của các môn đệ hôm nay nhắc cho chúng ta nhớ lại điều mà Đức Giêsu đã tuyên bố khi kêu gọi các ông trở thành môn đệ của Người, đó là  “hãy theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá.” (Mác-cô 1,17) 

Dù trong hành trình thi hành sứ vụ, Đức Giêsu đã gọi, chọn và huấn luyện các ông từ những người đánh cá chuyên nghiệp trở thành những kẻ lưới người; nhưng hiệu quả của việc tuyển chọn và huấn luyện chỉ có hữu hiệu sau khi Đức Giêsu sống lại. Chúa Kitô Phục Sinh, trao ban Thần Khí, năng quyền và sức mạnh để các ông ra khơi chài luới người về với gia đình Hội Thánh. 


Như vậy, kết quả việc lưới cá hôm nay cho chúng ta hiểu rằng cho dù con người có nhiệt tình và hăng say đến đâu trong công việc truyền giáo mà thiếu yêú tố căn bản và quan trọng nhất, đó là sự hiện diện của Chúa, thì dù chúng ta có đạt thành quả, nhưng đó chỉ là thành quả dựa vào sức mình; đến khi gặp phong ba bão táp, những gì chúng ta xây dựng có thể sẽ bị sụp đổ tan tành. Việc làm như thế có thể được ví như người xây nhà trên cát vậy. Việc đầu tiên trước khi ra khơi để rao giảng là nhận ra sư hiện diện của Chúa Phục Sinh, Đấng cùng đi với mình rồi sau đó mới thả lưới.

Sau khi dùng bữa sáng xong. Chúa Giêsu biết rằng đã đến lúc Người cần ủy thác cho một môn đệ trong nhóm đứng ra đảm nhận vai trò lãnh đạo, thừa hành trách vụ của người Mục Tử nhân lành mà Chúa Cha đã ủy thác. Người đã hy sinh mạng sống mình để yêu thương và bảo vệ đoàn chiên mà Chúa Cha đã ủy thác cho Người thế nào thì giờ đây người kế thừa trách vụ này cũng phải có tấm lòng hy sinh và yêu thương đoàn chiên như thế. Nên trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu đã ba lần hỏi Phêrô “Anh có yêu mến Thầy không?” Và Phêrô đã ba lần đáp trả “Thầy biết con yêu mến Thầy.”

Cho dù trước đây, trong hành trình Thương Khó của Đức Giê-su, Phê-rô đã ba lần chối là ông không hề biết Chúa. Nhưng hôm nay, với năng lực và ân huệ của Chúa Phục Sinh, Phê-rô nhớ lại việc Thầy làm và Lời Thầy dậy trong bữa tiệc ly: “Anh em gọi Thầy là "Thầy", là "Chúa", điều đó phải lắm, vì quả thật, Thầy là Thầy, là Chúa. Vậy, nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau. Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em. Thật, Thầy bảo thật anh em: tôi tớ không lớn hơn chủ nhà, kẻ được sai đi không lớn hơn người sai đi. Anh em đã biết những điều đó, nếu anh em thực hành, thì thật phúc cho anh em!”

Đây chính là khuôn vàng thước ngọc để lượng định và đánh giá vị trí và ơn gọi của người lãnh đạo. Người lãnh đạo không dựa vào khả năng hay sự khôn ngoan của bản thân; nhưng hoàn tòan được phát xuất từ sự đáp trả về câu hỏi “anh hay chị, ông hay bà có yêu mến Chúa không?” Yêu mến thì ra khơi múc nước mà rửa chân cho nhau. Làm to là như thế, là quì xuống mà phục vụ theo gương của Thầy, Đấng yêu thương mình và ngược lại mình cũng hết lòng yêu thương Chúa và tha nhân nữa.

Như vậy, sau khi cùng nhau suy niệm bài Tin Mừng về việc Chúa đến với các môn đệ hôm nay, chúng ta cùng nhớ lại rằng giống như các môn đệ, chúng ta đã nhiều lần để cho đêm tối lấn át nên đã không nhận ra sự hiện diện của Chúa Phục sinh, Đấng đang đứng chờ đợi ta trên con đường mà chúng ta đang đi. Người hiện diện trong những lúc chúng ta gặp khó khăn. Người có mặt khi chúng ta vui cũng như lúc buồn phiền. Người hiện diện khi chúng ta cô đơn và bí lối. Người ở đó và chuẩn bị bữa cơm tình thương rồi mời chúng ta cùng ăn với Người. Người biết rõ các nỗi yếu đuối, các cơn hoạn nạn, những lần chúng ta ngã gục, những giây phút chán nản, khiến chúng ta thất vọng… 

Tóm lại, trong mọi khoảnh khắc của cuộc đời Người vẫn có mặt. Người đứng đó chờ đợi lời đáp trả của chúng ta trước câu hỏi “anh chị em có yêu mến Chúa không?” Người hiện diện và biết chúng ta yêu mến Chúa nên Người đã cho phép chúng ta thừa hành nhiệm vụ của Người trong vai trò của người mục tử nhân lành, sẵn sàng hy sinh mạng sống vì yêu.

Vì thế, dựa vào hoàn cảnh cá biệt của từng cá nhân, Chúa đã bộc lộ tình thương và sự chăn dắt của Người dành cho chúng ta. Giờ đây, theo gương Người, chúng ta cũng được mời gọi ra đi, đến với anh chị em trong hoàn cảnh của họ mà thể hiện tình yêu thương và sự chăm nom của chúng ta dành cho họ; nhất là những người nghèo đói yếu đuối, đau khổ, lạc lối hoặc đang gặp rắc rối.

Hãy chăm sóc nhau như Chúa đã từng chăm sóc cho chúng ta. 

Amen! Alleluia.
Lm Giuse Mai Văn Thịnh, CSsR
___________________________________________________