Friday, 10 August 2018

Lm Vĩnh Sang DCCT : "GIA TÀI CỦA MẸ MỘT NƯỚC VIỆT BUỒN"

Tôi đang chia sẻ và hiệp thông lời cầu nguyện với một gia đình lâm cơn quẫn bách, họ chìm đắm trong tang tóc thê lương, người em rể út vừa chết vì ung thư, khi chuẩn bị lễ an táng thì người anh cả cũng vội vã qua đời do suy thận, an táng người anh cả xong thì cô em gái bên vợ đã đi vào hôn mê trong cơn đau đớn vì ung thư, người em thứ bảy trong gia đình cũng không khá hơn đang quằn quại trên giường bệnh vì… ung thư ! Cả đại gia đình vương một màu chết chóc.

Tháng 8 năm 2017, người ta thông tin về một chuyện động trời, nhập lậu thuốc chữa ung thư giả:

Tháng tư năm 2018, người ta lại bắt gặp thông tin về việc bào chế thuóc chữa ung thư từ than cây tre, thuốc được phép lưu hành và còn được tôn vinh:


Tháng 8 năm 2018, thông tin về một loạt các thuốc nhập về hoặc bào chế có chứa các hoạt chất gây ung thư xuất xứ từ Trung Quốc. Thu hồi 57 loại thuốc chứa hoạt chất gây ung thư:

Có chuyện gì trong việc quản trị sưc khỏe của đất nước chúng ta vậy?
Hôm qua trên đường đi công việc, một bạn sinh sống ở Đăklăk nói với tôi: “Cha về chỗ chúng con ở để chứng kiến người ta dùng thuốc ‘bảo vệ thực vật’ vô tội vạ!” Tôi đã có kinh nghiệm khi đến Đà Lạt, ngỡ tưởng được hưởng bầu không khi trong lành mát mẻ cao nguyên, không ngờ dày đặc mùi thuốc trừ sâu cay cả mắt. Trong một lần đi giảng dạy vùng Cam Ranh tôi đã phải khổ sở vì mũi liên tục bị dị ứng do vùng trồng xoài phun thuốc kích thích và bảo vệ trái.

Thực phẩm các loại đầy hóa chất, các nhà máy nhiệt điện cũ rích, các ống khói công nghiệp nhả khói đen mù trời, … đó là nguyên nhân gây ra ung thư. Hai quả thận giữ vai trò lọc chất độc cho cơ thể, chất độc nhiều quá, thận suy là điều chắc chắn. Nếu thực phẩm và không khí chưa đủ để gây ung thư thì đã có thuốc chữa bệnh chứa các hoạt chất gây ung thư, khi bị ung thư thì lại có thuốc giả chữa ung thư nhập về và thuốc chữa ung thư bào chế từ than tre! 

Chuyện gì vậy ? Chuyện gì đang xảy ra trên đất nước tôi vậy ? Những chuyện động trời như thế xảy ra liên tiếp, giáng xuống dân tộc tôi những đòn chí tử, chỉ có người dân, nhất là dân nghèo chết, không ai nhận trách nhiệm cả, không một đơn vị nào nhận trách nhiệm cả, người chết vẫn cứ chết, người mất tiền vô lý vẫn cứ mất, kẻ thu tiền hưởng lợi vẫn cứ hưởng. Mộ nhiều quá thì đã có lò hóa thân, diện tích dành cho người chết từ vài mét vuông nay chỉ còn vài tấc vuông trong nhà Hài Cốt! Người dân căng mình ra để tồn tại, kẻ có quyền hành nhởn nhơ trong nhung lụa sa hoa.

Từ một đất nước trải dài bên bờ Thái Bình Dương trù phú, vị trí địa lý thuận lợi giao thông quốc tế là niềm mơ ước của bao dân tộc, gia tài của mẹ để lại một dải non sông gấm vóc, rừng vàng biển bạc, nay ta xếp hàng đứng sau những quốc gia yếu kém nhất bên bờ biển Đông, nơi nhiều thế hệ thanh niên quốc tế mơ ước đến học tập hoặc làm việc, nay trở thành nơi từ đó nhiều thanh niên ra đi để tìm một nơi sống khác hầu có công ăn việc làm. Gia tài của mẹ đã bị phá tan hoang, gia tài của mẹ chỉ còn là một nước Việt buồn.

Người Kitô hữu băn khoăn với câu hỏi mình phải làm gì? Giáo Hội có ý kiến và có dạy chúng ta điều gì qua hiện trạng xã hội như vậy không? Thua có, DOCAT đã nói ở số 23: “Học Thuyết Xã Hội có hai mục đích:

1. Nêu những đòi hỏi về hành vi xã hội đúng đắn như xuất hiện trong Phúc Âm.
2. Nhân danh công lý, lên án những hành động và những thể chế xã hội, kinh tế hay chính trị đi ngược lại với sứ điệp Phúc Âm.

Đức Tin Kitô giáo có một quan điểm rõ rệt về phẩm giá con người, và từ quan điểm này, Đức Tin Kitô giáo rút ra một số nguyên tắc, chuẩn mực, và nhận định về giá trị, mà có thể mang đến một trật tự xã hội tự do và công bằng. Dù các nguyên tắc của Học Thuyết Xã Hội có rõ ràng đến thế nào đi nữa, các nguyên tắc ấy vẫn cần phải được vận dụng thường xuyên vào các vấn đề xã hội hiện thời. Khi áp dụng Học Thuyết Xã Hội, Giáo Hội trở thành trạng sư của tất cả những ai, vì các nguyên nhân rất khác nhau, không thể lên tiếng và thường họ là những người bị ảnh hưởng nhất do những hành động và cơ chế bất công.”

Chẳng lẽ chúng ta cứ im lặng rồi trao lại cho thế hệ con cháu một gia tài rách nát như vầy sao?
Lm. VĨNH SANG, DCCT, 7.8.2018
Tựa đề lấy từ một bài hát của Trịnh Công Sơn

Thursday, 9 August 2018

Giám mục John Shelby Spong: (Bài 5) Đầm mình trong vũng tội - Chương 2 Kinh thánh yêu cầu gom gộp nhiều sự kiện (tiếp theo)


Chương 2
Kinh thánh yêu cầu
gom gộp nhiều sự kiện
(Bài 5)

Hồi đó, thời tổ-tiên/ông bà mình còn sống, có nhiều năm tháng ngày giờ được gỡ bỏ khỏi niên-lịch thường dùng; và khi ấy, lại đã thấy xuất hiện một ngôn-sứ mang tên là Giôna.

Ngôn-sứ Giôna luôn đoan quyết một chuyện, đó là: tình thương của Chúa rất có giới hạn. Sở dĩ ông nói thế, là vì ông dựa vào tình yêu của chính mình, nên mới giả-định rằng: Chúa ghét bỏ và giáng hạ hết mọi người. Bởi thế nên chính ông, tức: Giôna, cũng chối bỏ và hạ giáng khá nhiều người mà ông ghét ghen, kình địch. Vì thành-kiến cứng ngắc, ông Giôna đã định-vị cuộc sống chỉ dành riêng cho người Do-thái-giáo công-minh/chính trực, thôi.

Một hôm, Chúa tỏ bày với ông Giôna bằng những lời thân-thương thường vẫn nhủ:

            “Hỡi Giôna,
Ta muốn ngươi
ra đi đến với dân Ninivê
để rao giảng.”

Bỗng thấy hồn vía thoát lên mây do ý-tưởng này, ông Giôna bèn thưa cùng Chúa những điều mà chính ông cũng chẳng tin tưởng, nhưng vẫn nói:

“Lạy Giavê Thiên-Chúa,
Ngài có đùa với con không đấy? Ngài thừa biết, Ninivê là chốn thành-đô của người Assyri, tức đất miền đầy tại-họa của thế-giới chứ? Ngài dư biết mọi chuyện, nhưng sao Ngài lại cứ muốn bầy tôi rao giảng cho đám dân Ninivê đến độ như thế?        

Nghe Giôna đáp, Chúa không sờn lòng, vì lý-luận và lời từ chối của ông thật hời hợt. Ngài cất tiếng đánh bạt mọi thành-kiến nằm sẵn trong đầu ông. Bằng tính kiên-trì rất thánh, Chúa lập lại đòi hỏi khá cứng-cỏi khiến ông có chạy đằng trời cũng không thoát khỏi những điều Ngài truyền dạy. Lệnh truyền xuất tự Đấng có thẩm-quyền, luôn nhấn mạnh rằng: ông phải thực-thi mệnh-lệnh, dù không thích. Và sự thể còn tồi tệ hơn, khi ông nghĩ mình không nên làm thế; bởi lẽ, ông cứ chống đối các lệnh truyền gửi đến với ông.

Bởi thế nên, ông Giôna bèn ứng-xử theo cách cổ-điển, mà người ngày nay gọi là “câu giờ” hệt như dân con bất tài, thụ-động vẫn làm thế đối với đấng bậc nắm quyền-hành. Ông nói “Vâng”, nhưng lại hàm-ngụ một quyết-định tiêu-cực, cứ để đó rồi không làm gì cả. Ông giả dạng hài-lòng trong chốc-lát với hy-vọng là: Chúa sẽ quên lãng cái thói dại-dột của ông, rồi Ngài lại cũng quay sang chuyện khác như vẫn xảy ra ở vài nơi, vào thời trước ở thế-giới bên kia.

Để chứng-tỏ thiện-chí, ông Giôna quay về để chuẩn-bị lên đường. Ông gói ghém đồ-đạc thật cẩn thận, rồi đi thẳng xuống cảng, dự tính lên thuyền thoát khỏi tình huống “chẳng đặng đừng” khi ấy, tức: thay vì quay về Ninivê tuân-hành lệnh-truyền của Đức Chúa, ông lại hướng ngược lên vùng Tarshish xa tít mù. Ông nghĩ đây là lỗi lầm khả dĩ còn châm chước được, giả như Chúa biết mưu-đồ của ông ngấm ngầm ở bên dưới. Ông Giôna tới trạm kiểm soát rồi lẳng lặng bước vào phòng chờ, mở bao bị lấy áo quần đơn sơ/gọn lỏn ra mặc rồi xoa lên đầu chút kem dám nắng. Xong xuôi đâu đấy, ông bèn ngả người lên ghế bố, khoác cặp kính mát lên mặt rồi đọc vội vài giòng ghi trên báo lá cải giống hệt tờ Times ngày hôm nay. Ông giả dạng thường dân du lịch đây đó cũng khá đạt. Khi thuyền lướt sóng hướng về miền Địa Trung Hải, ông Giôna thở phào nhẹ nhõm. Ông vừa thoát nạn không còn vướng bận với khỏi lệnh truyền của Đức-Chúa; và như thế, có nghĩa: ông đã giữ an-toàn mớ thành-kiến khó phai. Hơn nữa, ông lại đã cứu được Chúa khỏi bị vướng-mắc lỗi lầm nghiêm-trọng khá đáng tiếc. Mọi sự diễn tiến tốt đẹp ngay từ đầu.

Nhưng sau đó, bỗng có làn mây đen kịt xuất-hiện trên bầu trời tăm tối bao trùm nóc thuyền như cố ý đưa thuyền ông đến những nơi ông chưa hề biết tới dù ông có thành-thạo cách mấy cũng không thoát được cảnh-tượng xô đổ, đương xảy đến. Từ đám mây đen bao phủ bầu trời, nay thấy xuất-hiện nhiều tia chớp loé sáng, rồi đến tiếng sấm nổ bùng và cơn mưa như trút đã đổ tràn những nước lên con thuyền mỏng manh của ông, trong nháy mắt.

Vị thuyền-trưởng vốn là người kính sợ Chúa, chợt thấy hiện-tượng thất-thường này, bèn nhận ra rằng: chắc có điều gì không ổn xảy đến, ông ta bèn lớn tiếng kêu: “Chắc hẳn Thiên-Chúa vừa trút cơn giận nảy lửa của Ngài lên đầu ai đó đang hiện diện trên thuyền này”. Nhất quyết tìm cho ra ai là thủ-phạm, thuyền trưởng nhà ta bèn sử-dụng thủ-thuật mình từng kinh-nghiệm, ông lấy ra một số cọng rơm khô xếp thành hàng dọc quanh mạn thuyền, cuối cùng cũng kịp thấy nhiều cọng rơm đen rớt trên đầu ông Giôna.

Thuyền-trưởng bèn lên tiếng hỏi:

-Này Giôna, có phải anh vừa làm điều gì phạm tệ đến nỗi Chúa trừng-phạt ta thế này không?                    
-Chẳng giấu gì ngài, Đức Chúa có gọi và sai tôi ra đi rao giảng cho người dân thành Ninivê, nhưng tôi không nghĩ là Chúa có ý làm thế. Cuối cùng thì, người Ninivê dân ngoại, khó lòng được Chúa đoái thương hầu thụ-hưởng chút lộc thánh từ Ngài.”

Vị thuyền trưởng, xem ra cũng hài lòng với lời kể lể của Giôna, coi đó như một giải-thích thỏa-đáng, khá mãn nguyện. Thành thử, thành-kiến là động-thái rất có lý đối với những người chuyên mang nặng chuyện tương tự. Bởi thế nên, thuyền-trưởng nhà ta bèn quyết-định lướt vượt trên bão tiến về phía trước mà đi. Tuy nhiên, ngay lúc đó đã có tia chớp sáng loáng cộng thêm vào là tiếng sấm dữ dội như thể trời đất đang đón chào quyết-định sáng suốt của ông Giôna.

Thoạt có đợt sóng vỗ mạnh lên mạn thuyền, khiến chiếc ghế ông Giôna đang ngồi đã trôi về cuối mạn thuyền khiến ông phải nắm vội thành tay vịn cho khỏi trôi chìm vào giòng nước. Rồi sau đó, ông bèn xét lại quyết-định hơi vội của mình.

Thuyền trưởng bèn nói với ông Giôna:

-Suy nghĩ lại đi, này hỡi anh Giôna. Nếu có phải hy-sinh điều gì để thi-hành lệnh ngay tức khắc, thì tôi chọn ông trước đấy.

Nói xong, thuyền trưởng tìm chọn ba thủy thủ thật khỏe mạnh mỗi người nắm bắt tay/chân ông Giôna đồng thời đếm “một, hai, ba” ném ông lên mạn thuyền ở trên cao.       

Cũng may, Đức Chúa đã chuẩn-bị trước cho trường-hợp này, nên Ngài đã gửi đến một chú cá lớn tướng bơi song song mạn thuyền, chờ đến lúc thuyền ra giữa giòng sẽ hất ngược ông Giôna lên cao đồng thời ngay lúc đó chú cá nọ bèn mở miệng cho thật lớn hứng chịu toàn thân ông Giôna rơi tọt vào bụng cá, mà cả người ông đều không dính một nước nào hết. Ông Giôna lại rơi vào khoảng không-gian khó nhận ra là thứ gì, rồi ông thấy mình nằm yên vị trên mảnh đất mới tuy hơi nhỏ thuộc biển Địa Trung Hải.

Ông Giôna lại có khả năng thích-nghi với hoàn-cảnh mới. Ông bắt đầu tạo cảnh sống cho dễ chịu. Ông treo màn cửa lên cho mát mắt rồi sắp xếp mọi sự cho ổn-định và thấy rằng đây là đoạn đường mới, trong cuộc sống của chính ông. Ba ngày đêm trong bụng cá lớn mãi đến khi chú cá không còn sức chịu đựng ông được nữa, bất chợt nó bèn ợ một tiếng thật to rồi phun toàn thân thể ông ra khỏi miệng.

Ra khỏi miệng cá, ông Giôna lại đã rơi xuống giải cát lạ, thật êm ắng. Kịp lúc giòng nước mặn cùng các tơ nhện trôi tuột khỏi lỗ tai lúng búng của mình, ông Giôna bèn xem xét tình-huống vừa xảy đến nghe như có giọng nói quen thuộc hò hét từ đâu đó, cứ bảo rằng:

“Này hỡi Giôna,
ngươi muốn đi rao giảng theo kiểu nào
cho dân thành Ninivê đây?”

Thấy mình không thể làm gì khác, ông bèn thưa:

“Thưa Ngài,
công-nhận là Ngài đã thắng.
Tôi sẽ tuân-lệnh Ngài
mà ra đi.”

Cuối cùng, ông Giôna không làm sao tranh-luận nổi với Đức Chúa. Tuy nhiên, thành-kiến nói ở đây không nhanh chóng rời bỏ ông hoặc dễ cạn kiệt. Lúc đầu, ông chỉ có ý điều-khiển nhân-vật có quyền sinh quyền sát để xem sao; nhưng thấy mình hoàn-toàn thất-bại. Bởi lẽ, Đức Chúa không suy-xuyển hoặc nao-núng chút nào hết. Tiếp theo đó, ông lại tìm cách chống-trả theo lối quen thuộc hầu đối đầu với thứ quyền-bính khó lòng mà thuyết-phục bằng cách thưa cùng Ngài, rằng:

“Vâng thưa Chúa,
tôi sẽ làm những gì Ngài dạy. Nhưng, tôi sẽ làm theo kiểu riêng mình. Tôi sẽ tuân-thủ từng nét chữ nơi mệnh-lệnh của Ngài, chứ không theo tinh-thần lệnh. Ngài truyền cho tôi đi rao giảng cho người dân thành Ninivê, nhưng Ngài lại không cho tôi biết làm cách nào để rao giảng hoặc đến nơi nào ở Ninivê để giảng rao. Thế nên, tôi sẽ thực-hiện việc rao giảng ấy hoặc đến nơi được chỉ-định ở Ninivê để rao giảng và sẽ làm như thế trên từng lối đi cũng như ngay sau các con đường ở phố chợ. Và tôi cũng sẽ chỉ ầm ừ, ứ hự đôi ba tiếng giữa hai hàm răng thôi. Một mặt, tôi nguyện nghe theo lời Ngài chỉ dạy; còn mặt kia, tôi lại sẽ hoàn thành mục-tiêu theo ý riêng tôi.”

Cứ thế, ông Giôna lên đường đạt từng lối đi và ngay sau các con lộ tẻ, rồi tìm cách gây tai tiếng bằng động-tác ú ớ qua hơi thở, thôi. Khi ấy, Đức Chúa bèn phán dạy:

Hãy hối cải!
Hãy ra tay tạ lỗi
và canh cải mà quay về với Chúa’.

Ông Giôna hy-vọng là: không ai nghe được tiếng Chúa. Và từ đó, chắc chắn không một ai buồn trả lời tiếng/giọng của Ngài. Nhưng rõ ràng, ông không thể tin được, là: người dân thành Ninivê đều nghe được tiếng/giọng và trả lời Ngài. Hàng ngàn người cứ thế tháo chạy khỏi nhà và ra đường xé áo, đấm ngực khẩn nài Chúa thứ tha tội lỗi và cầu khấn Ngài dủ lòng xót thương. Cả thành được cứu vớt.

Ông Giôna khi ấy đã trở-thành nhà giảng-thuyết lẫy lừng nhất mọi thời. Tuy nhiên, ông lại cũng tỏ ra bực bõ, rồi nói:

            “Lạy Đức Chúa,
Tôi cũng biết là sự việc này rồi cũng xảy đến thôi.
Nhưng, nay Ngài phải thứ tha đám dân khốn khổ này
Ngài vốn xót thương mọi loài,
Thì cũng đừng ra tay hủy hoại đám dân đen nay biết lỗi
Để rồi cứu vớt họ.
Sao Ngài lại làm thế, lạy Đức Chúa?
Làm sao tình thương xót của Ngài không dừng lại ở lằn ranh
giữa tình thương yêu và lòng thương xót hết mọi người?                                      
Sao Ngài lại không ghét bỏ mọi con người như tôi từng làm thế?
Đám dân đen này nào đáng để Ngài xót thương đâu, chứ.”

Lòng đầy giận dữ, ông Giôna dậm chân rới khỏi chốn thị-thành xuống đồi đi về hướng khác, trong lúc đám dân đen vừa hồi hướng trở thành người Ninivê mới mẻ dơ tay cao nguyện cầu chúc tụng bằng câu hát: “Ôi huệ-lộc nhiệm mầu đáng kính”  và lời kinh cứ thế vang vọng mãi tận quê miền hẻo lánh. Cuối cùng, vốn dĩ quá chán ngán với tình-huống bất-ưng, ông Giôna rơi vào giấc ngủ triền miên với mộng mị.

Ông cứ trằn trọc quay qua quay lại mãi đến lúc mặt trời hừng sáng. Tỉnh dậy, ông mới biết là Đức Chúa vừa biến mất cách lạ lùng. Tuy nhiên, suốt đêm, Đức Chúa đã cho cây lớn mọc lên trên sườn đồi. Thoạt khi nắng hè nóng bỏng đổ xuống lên toàn thân, ông Giôna bèn tìm nơi có bóng rợp dưới lùm cây xanh mát kịp đến lúc làn gió sa mạc bắt đầu thổi, ông Giôna thấy mình được che chở phía sau lưng thân cây to lớn. Xem chừng ông cũng phải chịu đựng cuộc sống và khí thế của chính mình.

Màn đêm xuống, ông Giôna ngủ vùi dưới mấy cành cây lớn tướng như được cây to che chở. Tuy nhiên, đêm ấy Đức Chúa mới cho côn trùng đục khoét cây to xuyên suốt thân/cành trụi hết lá cho tới lúc cây to bị mục nát, chết khô, thành cát bụi. Khi Giôna tỉnh giấc nồng, ông đã thấy cây to quí kia nay chết mục, ông khóc sướt mướt mãi không dứt. Nước mắt ông lắng đọng niềm cay đắng đến sầu buồn. Cuối cùng thì, vào cuối hôm sau, Đức Chúa phá vỡ bầu im lặng và nói:

“Này hỡi Giôna,
Phải chăng điều lạ khi ngươi than khóc
và tiếc nuối loài cây cối
cả đến loài cây vô cảm là thế
bởi chúng là loài sớm mọc tối tàn ư?
Ngươi còn chịu được cơn đau nhói của loài cây vô giác
huống hồ lòng dạ vô cảm đối với 120 ngàn dân
đang sống trong thì-thành Ninivê kia
đến độ chẳng nhắc nhở gì đàn bò của họ nữa.”

Nói đến đó, sách Giôna đã đóng lại, đi vào đoạn kết thật khó biết.  
                     


                                                                                             (còn tiếp)

Gm John Shelby Spong biên-soạn
Mai Tá lược dịch.