Wednesday, 26 April 2017

Lm Edward Schillebeeckx: Thần-học-gia toại-nguyện, người đó chính là tôi (Bài 1) Dẫn Nhập






Sống Lương-thiện với Thế-giới: Thần-học tiên-phong
theo Edward Schillebecckx



ROSINO GIBELLINI

Theo triết-gia Martin Heidegger, thì: mỗi học-giả vĩ-đại luôn mang trong người một nguồn tư-tưởng nào đó khả dĩ giúp mình bày-tỏ đặc-trưng đa dạng, của mọi việc. Giả như điều này đúng, hẳn ta cũng có thể bảo: nguồn tư-tưởng giúp ta nghiên-cứu các suy-tư thần-học của tác-giả Edward Schillebeeckx là nền thần-học tiên-phong, tức: mối tương-quan giữa kinh-nghiệm của tín-hữu Đạo Chúa với kinh-nghiệm chung của con người.

Là thần-học-gia người Bỉ nói tiếng Flamand, lúc đầu Schillebeeckx dạy thần-học tại Đại-học Louvain, nước Bỉ. Sau đó, từ năm 1958 trở về sau, ông tiếp-tục hướng-dẫn môn học này tại Đại-học Công-giáo Nijmegen, Hoà Lan. Schillebeeckx bắt đầu trở-thành nhà tư-tưởng trổi-bật trong toàn giáo-hội và là thần-học-gia chuyên-môn vào nửa đầu thập-niên 1960s, đúng vào lúc Công Đồng Vatican 2 vừa khởi-phát. Ông mang tư-cách của một thành-viên năng-động chuyên cố-vấn cho Giám-mục-đoàn Hoà-Lan, vào dạo đó.

Ở Công Đồng Vatican 2 dạo ấy có cao-trào mang tên rất nổi là: “Giáo-hội và Thế-giới” được diễn-bày tại một số buổi họp của Công đồng. Và, các bài viết của nhà thần-học người miền Bắc nói ở đây, rất đúng-thực như từ một nhà chú-giải và diễn-dịch quốc-tế. Tập tài-liệu này, nằm trong bộ sách ở Hoà-Lan có đầu-đề là “Các ấn-tượng thần-học” gồm 5 bộ, được viết từ năm 1964 đến 1972 như Thư-tịch ở cuối sách, có ghi rõ.

Bộ sách này, gồm các bài luận-văn trong đó tác-giả Schillebeeckx bàn về các cuộc tranh-luận ở Công-đồng cũng như các đề-tài tranh-cãi quốc-tế về thần-học nữa.

Ta có thể tách-bạch công-trình của Edward Schillebeeckx (1914-2009) ra làm hai thời-kỳ rõ rệt. Thời-kỳ thứ nhất, gồm giai-đoạn khởi-đầu có các sinh-hoạt khoa-bảng khởi từ sau Thế Chiến Thứ Hai, tức năm 1946. Và thời-gian trải dài sau Công Đông Vatican 2, từ các năm 1966-1967, gồm các giai-đoạn suy-tư mở rộng học thuyết Tôma cộng với các bài nghiên-cứu/học-hỏi vào thời này có công-trình do ông thực-hiện về Thần-học Bí-tích, trình-bày theo kiểu tái cấu-trúc nền thần-học nói chung như cuốn The Sacramental Economy of Salvation (tức: Tương-tác Bí tích Cứu-độ). Sách này, ông viết vào năm 1952, nhưng cho đến nay vẫn chưa có ai dịch ra tiếng Anh hết.

Thời gian về sau, ông lại viết theo hệ-thống như ta thấy rõ ở cuốn “Christ the Sacrament” (1958). Vào thời này, các bài viết của ông đều mang tính sử-học, cốt tái-tạo lịch-sử học-thuyết trước khi khai triển thành hệ-thống. Đây là phương-pháp mà Edward Schillebeeckx có được từ trường/lớp ở Le SaulchoirSorbonne –tại đó vị Cựu Giám đốc trường Saulchoir là linh mục Marie-Dominique Chenu, Op cũng có những buổi dạy đặc-biệt như ông.

Phương-án mà tác-giả Schillebeeckx đưa ra, có đặc-trưng tương-tự một chủ-thuyết ngộ-đạo, dẻo-dai, bền-bỉ mà ông học được từ Louvain theo trường-phái De Pette, là bậc thày trình-giảng chủ-thuyết Tôma kết-hợp với hiện-tượng-luận.

Thời kỳ thứ hai, kể từ những tháng ngày sau Công Đồng Vatican 2, ông diễn-đạt các ý-nghĩa vốn có từ trước trong các bài dạy ở Mỹ vào năm 1967 có đề-tài như: “God, The Future of Man (tạm dịch là: Thiên-Chúa, Tương-Lai của Con Người), qua đó ta nhận được sự ‘thay đổi thấy rõ’, gọi theo ngôn-từ của thần-học-gia miền Bắc Mỹ là Robert Schreiter, một học-trò của Schillebeeckx trước đây tại trường Nijmegen, cũng là chuyên-gia theo trường-phái Schillebeeckx.

Từ đó, đã có bước nhảy vọt khiến thần-học-gia dòng Đaminh này từ bỏ học-thuyết Tôma kinh-điển, dù các bậc thày khác ở Louvain vẫn còn diễn-giải hệt như ông. Tại đây, ông trình-bày khuôn-khổ một ý-niệm về công-trình do ông thực-hiện vào các năm trước, cốt đề-cập đến môn chú-giải mới có khunh-hướng đi vào đối-thoại trực-tiếp với nhân-sĩ nam/nữ thời cận-đại và thế-giới hiện-thời nhiều kinh-nghiệm hơn.

Thời-kỳ thứ hai, là giai-đoạn độc-đáo rất sáng-tạo, thần-học-gia trường-phái Nijmegen đã nắm chắc là công việc chú-giải này rất cần-thiết, nên đã đưa vào hệ-thống thần-học Công-giáo, cho thêm phần đa dạng. Ông lại cũng áp-dụng nền thần-học này một cách triệt-để, tức: đặt trọng-tâm vào các buổi hội-thảo thần-học, như môn Kitô-học chẳng hạn.

Thuyết chú-giải thần-học nói chung, đã dấy lên một vấn-đề diễn-giải theo cách dễ hiểu hơn gồm các văn-bản mặc-khải như thông-điệp hiện có hoặc thể-thức niềm tin có liên-quan đến các kinh-nghiệm của con người. Vấn-đề này, mở đường đưa ta đi vào với thần-học Thệ-phản gồm phần diễn-nghĩa của Schleiermacher và ngành chú-giải hiện-sinh của thế-kỷ trong đó tác-giả Fuchs cũng như Ebeling đã xuất-hiện vào thập-niên 1940s và 1950s.

Mục-đích, được tác-giả Schillebeeckx nhắm đến là cho các luận-văn chú-giải của ông, vốn thu-thập từ tập thứ 5 của cuốn “Theological Soundings” (tức Ấn-tượng Thần-học) có tiêu-đề như: “Hiểu rõ Niềm tin” xuất-bản vào năm 1972. Mục-tiêu công-tác ông thực-hiện gồm cả phần dẫn-nhập góp phần làm cho khoa chú-giải thần-học Công-giáo ngày càng sức-tích hơn.

Thần-học Công-giáo sau Công đồng Vatican 2, khởi từ sự chạm mặt nền văn-hoá ngoại-vi, đã bắt đầu chú ý đến sự thể bảo rằng: có hai loại suy-tư thần-học: một, là mặc-khải và truyền-thống trong Đạo. Còn phần kia, gồm kinh-nghiệm của con người. Công-trình chú-giải ở đây, cốt hoàn-thành tương-quan kiên-định giữa hai nguồn-mạch, tức: hai phần chính của niềm tin Đạo Chúa cộng với kinh-nghiệm của con người. Thế nhưng, niềm tin tự bản-chất vốn đã gắn liền vào mặc-khải, là nguồn-mạch đầu của thần-học, lại có cấu-trúc xuất tự các nghiệm-sinh của con người.

Nói khác đi, niềm tin là kinh-nghiệm, tức sinh-hoạt về các trải-nghiệm hoặc các kinh-nghiệm từng trải ở Đạo Chúa cộng với kinh-nghiệm của con người, nơi đời thường. Nói cách khác, tức bảo rằng: kinh-nghiệm từng-trải về chính con người và về thế-giới mà người Đạo Chúa có được qua tư-cách con người, là như thế. Ở thời đầu, không có đạo-lý. Thay vào đó, ta có thể nói: “Tôi khởi đầu sống cuộc đời con người qua kinh-nghiệm lịch-sử vốn di-chuyển ngang qua kinh-nghiệm sống của tôi”.

Thật ra, ngay giai-đoạn đầu sách Tân-Ước, ta thấy có sự giáp mặt giữa Đức Giêsu và đồ đệ Ngài, là người trong cuộc từng đụng chạm một cách bất-an và trổi-bật, vẫn mang trong người kinh-nghiệm từng trải về ơn cứu-rỗi mà lâu nay ta ghi-nhận và diễn-giải, để rồi đặt bút viết lên sử/sách. Chú-giải đây, gồm các yếu-tố mang tính giải-thích và diễn-nghĩa, tức: bao gồm những cảm-nhận hàm-ngụ công-tác dẫn-giải và chú-thích, cũng rất nhiều.

Cuối cùng thì, Tân-Ước là văn bản trải-nghiệm việc ghi-chú công cuộc cứu-rỗi, tức: các kinh-nghiệm ta từng có làm thành thông-điệp; và thông-điệp này, được truyền-tải đến mọi người nhờ việc tạo nên các kinh-nghiệm sống coi như nguồn-cội của nó và từ đó kích-hoạt các trải-nghiệm như kết-quả của sự việc mình từng trải có thông-điệp chủ-động.

Ngay từ đầu, mặc-khải thiêng-liêng/thần-thánh không là đạo-lý; mà chỉ là sáng-kiến có tự-do của Thiên-Chúa, Đấng kết-hiệp chính mình Ngài vào sự việc Ngài tự bộc lộ chính Ngài bằng việc định-hình công-cuộc cứu-rỗi có giải-thích và ấn-định. Tuy nhiên, đạo-lý đây không là yếu-tố nguyên-thuỷ, mà là kinh-nghiệm sống của nhiều người. Đạo-lý, như công cuộc tái định-vị lãnh-vực suy-tư, cốt đào sâu nội-dung trải-nghiệm có từ đầu rồi chuyển-dịch và kích-hoạt. Kinh-nghiệm cứu rỗi diễn-tiến như thế.

Thành thử, kinh-nghiệm đây có chỗ đứng trong truyền-thống sống-động bằng việc tạo thành trải-nghiệm vào phút cuối. Xem như thế, ta có câu truyện về người nhà Đạo vẫn cứ tiếp-tục có kinh-nghiệm sống-động, rất từng trải.

Nay, do bởi đây là câu truyện được liên-tục kể về kinh-nghiệm của người đi Đạo, tức thông-điệp lâu nay được chuyển-tải để người thời nay hiểu được. Nói cách khác, việc này không chỉ khiến ta buộc phải chấp-nhận nó trên căn-bản cơ-chế quyền-bính vốn dĩ trung-gian để chuyển-tải.

Ở đời thường, kinh-nghiệm đạo-lý không là kinh-nghiệm cao cả hoặc trải-nghiệm chung chung/phổ cập, nhưng nó mang hình-thái “kinh-nghiệm về các trải-nghiệm”. Thành thử, nó buộc phải có chỗ đứng trong bối-cảnh trải-nghiệm của con người ở đời thường, nên nó bị buộc phải thuyết phục các trải-nghiệm tư riêng của mỗi người và mọi người.

Thông-điệp truyền-thống phải được trình-bày theo “giáo-lý nghiệm-sinh”, như một diễn-dịch khả-thi về các trải-nghiệm của con người, như “dự-án nghiên-cứu” vốn  điều-nghiên ý-nghĩa của bản-thể “người”. Nó buộc con người phải có khả-năng trải-nghiệm như một “đáp trả giải-thoát” cho vấn-đề sống còn nào đó đặt ra cho con người, nói chung.

Thần-học được kêu mời mở rộng cửa để ta hiệp-thông trao đổi về nội-dung truyền-thống của niềm tin với kinh-nghiệm của con người, trong tư-thế tương-quan liên-kết giữa hai nguồn-mạch: một, là truyền-thống Kinh Sách (nguồn mạch tiên-khởi) và thế-giới đương-đại của ta vốn có kinh-nghiệm và niềm tin (tức nguồn-mạch thứ hai).

Schillebeeckx đã nắm bắt công-trình này trong một dự án rộng lớn gọi là “Christological Project” (tức: “Dự-án Kitô-học) dầy ba tập: “Đức Giêsu” (1974), là tập sách phân-tách các kinh-nghiệm căn-bản ở cuốn Nhất Lãm ta đang sử-dụng; “Đức Kitô” (1977), chuyên phân-tách kinh-nghiệm căn-bản của Kitô-hữu ở các sách Tân-Ước khác ta nghiên-cứu, đặc biệt là các bài viết của ông Phaolô và ông Gioan và phần tổng-hợp cuối cùng gồm nhiều đề-án định-vị nhiều yếu-tố có cấu-trúc hẳn-hòive62 truyền-thống Giáo-hội khi bàn về Kitô-học và kinh-nghiệm của con người ở đời người; và cuốn “Church” (1089) vốn chứng-tỏ làm sao mà trọng-tâm thông-điệp của Đức Kitô, ơn cứu-rỗi nơi Đức Giêsu đến từ Thiên-Chúa, lại có thể được trải-nghiệm một cách mới mẻ trong lịch-sử loài người.

Cả ba tập sách do thần-học-gia xuất tự Ninjmegen lại có thể trình-bày công-tác sáng-tạo ngành Kitô-học theo cách rộng-rãi nhất và nhiều sang-kiến nhất của thế-kỷ được. Phương-pháp-học thấy ở đây thật sự mới mẻ: Schillebeeckx lại không theo sự hướng-dẫn của giòng chảy đầy truyền-thống của Giáo-hội giống như ở các luận-thuyết Kitô-học thông-thường, nhưng chấp-nhận mọi thách-thức tiêu-cực rất nền-tảng, vốn sử-dụng phương-pháp phê-bình lịch-sử theo cung-cách triệt-để.

Tác-giả đây, nhằm thích-nghi phương-án đầy sử-tính không nhân-nhượng, nhưng đằng sau nghiên-cứu mang tính-cách sử-học của ông là nhằm mục-đích tái-tạo thời khởi-nguyên của những xưng-thú về Kitô-học của Giáo-hội và từ đó cho thấy là điều ấy cũng xứng-hợp với những người đồng thời của ta ở chốn thị-thành ngoài đời. Phương-pháp này hàm ngụ tinh hợp-pháp và không dẫn đưa đến sự việc triệt-để-hoá bản-chất của môn Kitô-học. Cuộc bàn-thảo tiếp theo sau  -cũng trên lãnh-vực công-khai—lại chỉ liên-quan đến một vài đặc-trưng của phương-pháp này trong đó ông thực-thi những gì được gọi là “trải-nghiệm thực-thụ ở môn Kitô-học”.                    

Schillebeeckx không chấp-nhận là việc thế-tục-hoá lại có thể làm mất đi hiệu-lực của các thảo-luận về thần-học, trong đó việc tự hiểu rằng nam-nhân lẫn nữ-giới vẫn mở rộng với bí-nhiệm, như ta có thể chứng-thực từ sự tin-tưởng có nền-tảng, từ quyết tâm liên-hệ với người khác và từ nỗi lo-ngại phải làm điều tốt lành và chiến-đấu chống ác-thần/sự dữ.

Đúng ra, việc thế-tục-hoá tái định-vị các suy-luận về thần-học và công-tác chú-giải là cốt để giúp định-hình tình-huống khả dĩ cho phép dân thường ở đời hiểu rõ chính việc siêu-thăng và tự mở ra về bí-nhiệm của cuộc sống và thực-tại vốn dĩ được mặc-khải một cách dứt-khoát, rất rạch ròi về ảnh-hình của Đức Kitô.

Các khẵng-định niềm tin và nhận-định thần-học không thể được suy-diễn từ kinh-nghiệm nhưng phải trợ-lực cho kinh-nghiệm hoặc phải ở trong vị-thế nào đó khả dĩ làm sáng-tỏ kinh-nghiệm, giúp cho kinh-nghiệm của các nam-nhân cũng như nữ-giới ở ngoài đời. Nếu, không, chúng sẽ không được bảo-vệ và việc chuyển-tải sẽ bị tha-hoá đến gãy đổ.
Muốn làm được việc này, thần-học phải liên-tục tương-quan với niềm tin vốn đáp-ứng được các vấn-đề của con người. 

  

Monday, 24 April 2017

Lm Vĩnh Sang DCCT : "BỎ TÔI ĐỨNG BÊN ĐỜI KIA"



"BỎ TÔI ĐỨNG BÊN ĐỜI KIA"
( Đêm thấy ta là thác đổ – Trịnh Công Sơn )
Tôi thường phải dọn phòng như dọn cuộc đời mình chuẩn bị cho ngày ra đi, dọn nhiều thứ và sống đi sống lại cái cảm giác tần ngần đem chia những cái mình đang có cho người khác. Thú thật đôi khi rất khó, cần phải có một quyết định dứt khoát, có cái thoát lần này nhưng sẽ không thoát được lần sau.
Dù vậy vẫn có một cái luôn luôn thoát, đó là cái cặp da bố tôi mua cho tôi ngày tôi bước qua ngưỡng cửa Trung học, bước vào lớp Đệ Thất, một cái bước trong những cái bước ghi dấu ấn cuộc đời. Vậy là thoát được cái quần short đeo dây, từ nay được mặc quần dài xanh, áo trắng, có phù hiệu gắn trên ngực, được đạp xe đến trường thênh thang nắng sáng và gió chiều, không còn phải đứng chờ bố đến đón sau giờ tan học. Khi ấy tôi thành “người lớn”. Cái cảm giác thành người lớn một lần nữa trở lại của quãng đời học sinh, đó là ngày tựu trường của những học sinh bước qua kỳ thi Tú Tài phần I, những anh những chị vào lớp Đệ Nhất xem ra lớn hẳn so với các bạn năm lớp Đệ Nhị. Cái cảm giác người lớn được tôn tạo bởi được đi giầy đen, giã từ đôi sandale cũ kỹ.
Cái cặp da theo tôi suốt đời học trò, sau này theo model mới, vài cuốn sách kẹp vào bình xăng phía trước xe Suzuki, tôi cất và dùng cặp để chứa các chứng chỉ, các sổ điểm hàng năm, các bảng danh dự hàng tháng và hàng năm, các giấy nhãn của các phần thưởng cuối năm, chứng chỉ theo học các khóa chuyên môn của trường Đại Học Ohio, Hoa Kỳ, và cả hai chứng chỉ Tú Tài của mình. Ngày 30.4.1975 tôi ở Vũng Tàu theo chân chú tôi tìm đường thoát đi, nhưng không hiểu sao tôi tiễn chú xuống tàu ở Bến Đá rồi quay lên bờ trở về. Ở Sàigòn bố mẹ tôi tưởng tôi đã đi thoát nên gởi người thân mang toàn bộ hồ sơ trong cái cặp sang Mỹ cho tôi, nhiều năm sau từ Mỹ nó trở lại với tôi, quy cố hương và theo nhau cho đến bây giờ.
Hơn 50 năm, cái vật dụng tầm thường vẫn tồn tại với tôi, chắc nó vẫn còn đi với tôi mang theo những tự hào và những kỷ niệm thời đi học. Ngày Chúa gọi, chắc chắn tôi phải để nó lại, rồi nó ra sao tôi sẽ chẳng biết nữa. “Cái gì mình mua sắm, nay nó không còn thuộc về mình” ( lời trên một mộ bia của ai đó ).
Qua hình ảnh cái cặp, chúng ta nói về sự bền vững, nói về nghĩa thủy chung khá dễ dàng. Không chỉ cái cặp, từ cái xe đạp, cái máy khâu hiệu Brother, hiệu Singer… cho đến con người, cái gì cũng lâu dài và bền vững. Phần đông nhân viên làm việc cho các hãng tư nhân, các "hiệu buôn" ( theo cách gọi trước 75 ), ở bên nhau suốt đời mà không hề nhảy việc, không vội bỏ đi khi có cơ hội. Những người thợ hồ, thợ mộc, yêu nghề, cả đời sống nghề, cha truyền con nối, họ mân mê cái bay, cái bàn chà, cái thước như báu vật đời họ. Khi tuyển thợ vào công trình, người cai thầu chỉ cần nhìn cái bay, ngắm cái độ sắc, độ vẹt của lưỡi bay biết ngay tay nghề cao thấp. Người họa viên kiến trúc giữ gìn cây Tê, cái Ke, chau chuốt cái bút chì với các thông số về độ mềm của chì một cách cẩn trọng, họ đặt giấy vẽ vào bàn vẽ trân trọng như bắt đầu một nghi thức tế lễ thần thiêng.
Những hình ảnh thủy chung bay nhanh thậm chí mất dạng trong cuộc sống hôm nay. Có một kiểu sống mà Đức Thánh Cha Phanxicô không ngừng kêu lên trong các buổi nói chuyện của ngài, trong các văn kiện của Hội Thánh, ngài gọi thảm họa đó là một thứ “văn hóa loại trừ”. Mọi thứ nhanh chóng trở thành rác thải, kể cả con người.
“… Sao có thể khi một người vô gia cư chết vì không được che chở thì không được kể là một tin tức, trong khi thị trường chứng khoán mất hai điểm thì lại là tin tức ? Đây là một trường hợp loại trừ…
… Thái độ loại trừ làm thay đổi ý nghĩa của tư cách là thành phần của xã hội chúng ta đang sống; những người bị loại trừ không còn là phần phụ thuộc hay bên lề, hay bị tước quyền trong xã hội – họ thậm chí không còn là thành phần của xã hội nữa ! Những người bị loại trừ không phải là những người “bị bóc lột” mà là những người bị gạt ra ngoài, những đồ thừa”. ( Tông Huấn Niềm Vui Tin Mừng số 53 ).
“... nền văn hoá loại bỏ đang ảnh hưởng đến người bị loại trừ khi nó nhanh chóng giảm thiểu mọi thứ thành rác rưởi…” ( Thông Điệp Laudato Si, số 22 ).
“ …một thứ “văn hóa tạm bợ”. Tôi nghĩ đến, chẳng hạn, lối sống tốc độ, trong đó người ta thay đổi từ quan hệ tình cảm này sang quan hệ tình cảm khác. Người ta tưởng rằng tình yêu, cũng giống như các mạng xã hội, có thể kết nối hay ngưng kết nối tùy theo sở thích của người tiêu dùng và cũng có thể nhanh chóng “bị chặn”…
… Người ta chuyển đổi cách sống các quan hệ tình cảm giữa con người thành thái độ sống như khi ứng xử với các đồ vật và môi trường, đó là xem mọi sự đều có thể vứt bỏ, mỗi người dùng xong rồi bỏ, mua và hủy, khai thác và vắt kiệt. Rồi thì chia tay ! …” ( Tông Huấn Niềm Vui của Tình Yêu, số 39 ).
Đó là thảm cảnh ngày hôm nay của chúng ta. Ở môi trường Tôn Giáo cũng có phần chịu ảnh hưởng của lối ứng xử như vậy. Nhiều vị khi lãnh trách nhiệm đã nhẫn tâm thay đổi những công trình của người đi trước một cách vô tội vạ, hoang phí và đua đòi, bất chấp giá trị lịch sử, văn hóa và tình cảm của người đi trước lẫn cộng đoàn. Họ chỉ nhắm khẳng định mình bằng cách xóa bỏ người trước. Thái độ này không những không giúp cho lời giảng dạy về thủy chung và vĩnh hằng được rõ nét, mà còn làm cho thực tại này bị méo mó bởi lối sống theo “văn hóa loại trừ”.
Ngôi Hai Thiên Chúa làm người và trung thành với sứ vụ cho đến chết, cái chết và sự phục sinh của Người bày tỏ quyền năng Thương Xót vô cùng tận của Thiên Chúa. Thách đố của chúng ta là chọn lựa hôm nay của chúng ta theo hướng nào ? Để cuốn theo “Văn hóa loại trừ” hay thủy chung với Đấng Thủy Chung ?
Lm. Vĩnh Sang, DCCT, 20.4.2017

Thursday, 20 April 2017

Lm Brendan McConvery CSsR: Linh ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp: xuất phát từ Crete?





Linh ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp có lẽ đã được vẽ trên đảo Crete vào cuối thế kỷ 15. Crete là một trường phái phát triển rực rỡ và bức linh ảnh của chúng ta là một minh chứng cho điều đó.

http://chuacuuthe.com/media/uploads/2017/04/Our-Lady-of-Perpetual-Help-576x768.jpg
Tương truyền, linh ảnh Đức Mẹ hằng Cứu Giúp một thương gia người Ý đánh cắp từ một nhà thờ trên đảo Crete và mang đến Rôma. Sau nhiều nỗ lực che giấu, bức linh ảnh đã được trao lại cho nhà thờ Thánh Matthêu, ở chỗ bây giờ là đường Via Merulana. Đây cũng là nơi là trưng bày bức linh ảnh cho các tín hữu tôn kính. Mặc dù không thể xác định rõ ràng mọi chi tiết liên quan đến nguồn gốc của bức linh ảnh, có thể nói xuất xứ từ Crete là một thông tin xác thực.

Linh ảnh được sáng tạo tại Crete
Từ năm 1212 đến năm 1669, Crete nằm dưới sự cai trị của Venice – một nước cộng hòa thương mại thịnh vượng. Dân chúng nơi đây theo nghi điển Byzantine hoặc theo Giáo hội Chính thống, trong khi Venice là một quốc gia theo Công giáo Latinh. Hòn đảo này phát triển thịnh vượng dưới sự cai trị của người Venice. Giống như những nơi khác ở nước Ý thời trung cổ, các nghệ sĩ ở Venice nhận được sự bảo trợ của chính quyền. Nhờ đó, các phong cách vẽ tranh của Tây phương và Đông phương đã phát triển rực rỡ ở đây. Thời đó đó, phong cách vẽ tranh Tây phương luôn mang tính tự nhiên và giàu tính tưởng tượng, còn phong cách Đông phương thì theo những nguyên tắc truyền thống cố định cả về các phần tử trong linh ảnh cũng như cách trình bày và màu sắc của các phần tử đó.

Khi thành phố Constantinople, thủ đô của Đế quốc phương Đông, rơi vào tay người Thổ vào năm 1453, nhiều họa sĩ vẽ linh ảnh trong đế chế đã đến tìm sự bảo trợ ở đảo Crete. Điều này mang lại sự phục hưng cho đời sống nghệ thuật của hòn đảo. Một trong những nghệ sĩ nổi tiếng nhất ở Crete là Doménikos Theotokópoulos, sau này đã chuyển đến Tây Ban Nha và trở nên nổi tiếng với biệt danh “El Greco” cùng phong cách độc đáo của mình – một phong cách hầu như lấy cảm hứng từ cách vẽ linh ảnh truyền thống.
Linh ảnh Crete được đặc trưng bởi những đường nét chính xác của các nhân vật cũng như việc tạo hình một cách kĩ lưỡng với việc sử dụng những gam màu sáng nhỏ nổi bật ở vùng má. Trang phục được trình bày hầu như dựa theo khoa hình học, với những gam màu mạnh. Những đặc điểm đó có thể thấy rõ trong bức linh ảnh Mẹ Hằng Cứu Giúp.

Trinh nữ chịu Khổ nạn
Trong truyền thống Byzantine, có năm thể loại linh ảnh chính về Mẹ Thiên Chúa. Thể loại đầu tiên và phổ biến nhất là thể loại “Đức Mẹ là Đấng chỉ đường” (tiếng Hy lạp là “Hodigitria”), trong đó Đức Maria bồng Hài Nhi và hướng về Người, như hướng dẫn người xem đến với Thiên Chúa và ơn cứu độ. Thể loại thứ hai là “Đức Mẹ Khoan dung Thương xót” (“Eleusa”), nhấn mạnh đến tình yêu của người mẹ dành cho Hài Nhi, giữ Hài Nhi gần gò má trong khi Hài Nhi quàng cánh tay quanh cổ mẹ mình. Ở thế loại thứ ba, “Đức Mẹ Vô cùng Nhân Lành” (Panakranta), người mẹ ngồi trên ngai nữ hoàng với Hài Nhi trên đùi minh. Thể loại thứ tư là “Đức Mẹ là Dấu chỉ Cứu độ” (Panagia), trong đó Đức Maria được miêu tả với hai tay giơ lên trong lời cầu nguyện, với Hài Nhi được bao bọc trong một vòng tròn – có ý chỉ cung lòng của Đức Maria. Cuối cùng, thể loại “Đấng Chuyển câu” (Agiosortissa) là loại duy nhất không trình bày Đức Maria với Hài Nhi: hai tay Mẹ giơ lên cầu khẩn.
born-in-crete

Bức ảnh “Mẹ Thiên Chúa chịu Khổ nạn” tại đảo Síp với niên đại 1192
Theo thời gian, các thể loại linh ảnh mới xuất hiện, thường dựa theo năm kiểu cổ điển nói trên. Linh ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp của chúng ta thuộc về một loại thường được gọi là “Mẹ Thiên Chúachịu Khổ nạn” (Arakiotissa). Trong đó, người mẹ giữ chặt hài nhi trong tay, giống như trong thể loại “Đức Mẹ là Đấng chỉ đường” và “Đức Mẹ Khoan dung Thương xót”. Tuy nhiên, điều khác biệt nhất là sự hiện diện của hai thiên thần, Gabriel và Micael, ở phía trên, mang dụng cụ của cuộc khổ nạn, với hai bàn tay được che phủ. Thời đó, khi người hầu mang vật gì đến cho hoàng đế, họ che tay mình để bày tỏ sự tôn trọng. Thường thường, ta thấy một chiếc dép tuột khỏi chân hài nhi. Đây là một chi tiết giản dị nhưng giúp gợi đến sự mong manh của hài nhi cũng như một biểu tượng gặp thấy trong Thánh Kinh khi một vị hoàng để từ bỏ quyền lực của mình (xem Đnl 25, 9 và Rut 4, 7-8).

Dấu tích cổ nhất của thể loại “Mẹ Thiên Chúachịu Khổ nạn” có lẽ là một bức tranh trên tường tại một nhà thờ ở đảo Síp có niên đại từ năm 1192. Trong bức linh ảnh đó, Đức Maria được trình bày toàn thân, ôm người con chân trần với hai thiên thần được ghi lại đầy đủ thân hình ở mỗi bên. Điều này cho thấy đây là một thể loại linh ảnh được phổ biến trong các nhà thờ Chính thống giáo vùng Địa Trung hải. Việc bức linh ảnh này được vẽ trên chất liệu gỗ, dễ dàng cho việc vận chuyển và trưng bày tại tự gia, càng chứng minh rằng đây là một thể loại xuất hiện nhiều tại khu vực này thời bấy giờ.

Cuộc Khổ nạn Trọn đời
Ẩn sau sự đơn giản của bức linh ảnh “Mẹ Thiên Chúa chịu Khổ nạn” là một kho tàng thần học Thánh Kinh phong phú. Bản văn làm cơ sở cho việc trình bày linh ảnh này là bản văn nói về chức vụ tư tế của Chúa Kitô trong thư gửi tín hữu Hipri. Tác giả lá thư nói rằng “khi vào trần gian, Đức Kitô nói : Chúa đã không ưa hy lễ và hiến tế, nhưng đã tạo cho con một thân thể. Chúa cũng chẳng thích lễ toàn thiêu và lễ xá tội. Bấy giờ con mới thưa : Lạy Thiên Chúa, này con đây, con đến để thực thi ý Ngài” (Hr 10:5-7). Nói cách khác, ngay từ đầu, con tim của Chúa Giêsu đã hướng về cái chết của Người như một hành động vâng lời và tuân phục ý muốn của Chúa Cha.

Phụng vụ lễ Dâng Chúa Giêsu trong Đền thờ cũng nhấn mạnh đến việc trẻ Giêsu được cha mẹ dâng hiến cho Thiên Chúa trong những tuần đầu đời. Một tác giả thánh thi và là nhà giảng thuyết theo truyền thống Byzantine, khi giảng về lễ này, đã tưởng tượng ra một cuộc trò chuyện giữa Đức Maria và con trai của Người. “Một ngày nào đó, Bà sẽ thấy đứa trẻ mà Bà đang bồng ẵm bị đinh nhọn xuyên thủng đôi bàn tay vì tình yêu Người dành cho đồng loại của Bà. Bà sẽ thấy người mà Bà coi là sự sống của mình bị treo lên thập giá và Bà sẽ khóc lóc thảm thiết trước cái chết của Người”.

Brendan McConvery CSsR