Friday, 10 May 2019

Lm Giuse Mai Văn Thịnh DCCT: MẸ LÀ NGUỒN SUỐI TÌNH YÊU



Chúa nhật thứ tư trong mùa Phục sinh hay được gọi là Chúa nhật Chúa Chiên Lành. Đây là một hình ảnh vô cùng độc đáo mà Hội Thánh dùng để mời gọi con cái mình nhận ra lòng yêu thương, sự bao bọc và bảo vệ của Thiên Chúa như người mục tử nhân hậu sẵn sàng làm mọi sự, ngay cả hy sinh mạng sống, để bảo vệ đoàn chiên. Cũng trong ngày hôm nay, Hội Thánh cổ võ và cầu nguyện cho ơn gọi; đặc biệt trong ngày của các người mẹ năm nay, chúng ta cùng san sẻ cho nhau vài nét suy tư về phẩm chất vô cùng cao quí mà tất cả các ơn gọi cần có, đó là bản năng hay lòng của mẹ.

Trước tiên, chúng ta hãy coi lại cách nhìn và sự hiểu biết của chúng ta về vai trò của người mục tử. Chúng ta thường hay gọi Đức Giáo Hoàng, các Đức Giám Mục, và đôi khi các Linh Mục là các nhà mục tử. Đây là kiểu nói quá hạn hẹp vì cho rằng chỉ có các Đấng bản quyền mới có trách nhiệm chăn dắt con chiên, bổn đạo. 

Ngày xưa, người ta nói rằng việc mở mang Nước Chúa được thực hiện bởi hàng Giáo Phẩm. Công đồng Vatican II đã giúp cho chúng ta có được cái nhìn đúng đắn hơn. Trách nhiệm đó được trao ban cho tất cả mọi tín hữu, ai ai cũng có bổn phận loan báo Tin mừng cho người khác. 

Chính vì thế, danh từ ‘mục tử’ được dùng để nói đến trách nhiệm của chúng ta là những kẻ được đặt để chăm sóc, quan tâm và nhất là để trao ban tình yêu cho người khác tùy theo ơn gọi mà Chúa đã mời. Thật ra, chính Chúa Giêsu mới là Đấng chăn chiên nhân hậu, còn chúng ta tuy được ban tặng cho danh hiệu đó; nhưng chúng ta vẫn là người thừa hành tác vụ từ Chúa. Căn bản, mỗi người chúng ta luôn là những con chiên trong ràn chiên của Chúa.

Hình ảnh ‘người chăn chiên’ đã được các ngôn sứ của thời cựu ước dùng để ám chỉ đến các vị lãnh đạo của dân Do Thái. Ngôn sứ Ezekiel xuất hiện trong thời dân bị lưu đầy bên Babylon. Trong bối cảnh lịch sử như thế, khi mà dân Do thái đã mất tất cả: văn hóa, quê hương, đền thờ,... thì ngôn sứ đã khơi lên niềm hy vọng cho dân bằng cách trình bầy Thiên Chúa là Người chăn chiên tốt lành, là Mục tử nhân hậu, là Đấng dẫn đường để dẫn dắt đoàn chiên, tìm chỗ cho chiên ăn, dẫn lại về ràn các con chiên lạc đường và cứu chiên thoát khỏi các cạm bẫy, các hiểm nguy của các thợ săn và thú dữ. (Ed 34: 11 – 16)

Trong thời Chúa Giêsu, mỗi ràn chiên khoảng chừng vài ngàn con; vì thế nhiệm vụ của người chăn chiên thì vô cùng vất vả. Vào mùa nắng, ông phải dẫn chiên đi đến những đồng cỏ tốt; và khi mùa đông đến ông phải tìm chỗ cho chiên trú ẩn; ông còn phải học để săn sóc cho các con chiên bị thương tích. Vì chức năng của công việc, nên người chăn chiên thường có nhiều đụng chạm với chủ của các đồng cỏ; và đôi khi còn bị lên án như là kẻ trộm hoa mầu của họ. 

Thực tế, người chăn chiên thường được mướn để làm việc này; chiên không thuộc về tài sản của họ. Tuy vậy, cũng còn một số rất ít người vừa là chủ vừa là người chăn chiên. Hơn nữa, vì nhiệm vụ nên người chăn chiên thường không thể tham dự các nghi lễ theo luật của người Do thái. Họ thường bị liệt vào ‘hạng công dân thứ hai’ của Do thái giáo. Giống như các nhân viên thu thuế, những ai làm nghề chăn chiên thường không được làm nhân chứng của tòa án và cũng chẳng được trao một nhiệm vụ công quyền nào.

Dựa vào những suy tư của dân Do thái, hoàn cảnh thực tế của nghề chăn chiên và nhất là các kinh nghiệm về sự sống mà Chúa Giêsu đã trao ban cho các tín hữu thời giáo hội sơ khai, tác giả của Tin mừng thứ tư đã trình bầy Chúa Giêsu không chỉ là người chăn chiên; nhưng là Đấng chăn chiên tốt lành, đã hy sinh mạng sống để đem tất cả con chiên, dù lạc ràn hay không, về lại ràn và ban cho chúng sự sống đời đời và không một ai có quyền tước mất sự sống này được. Và ai ở trong ràn chiên của Ngài thì không bao giờ bị diệt vong. (Kinh nghiệm về vị mục tử nhân hậu hiến mạng sống vì đoàn chiên hoàn toàn mới mẻ và vượt xa kinh nghiệm mà ngôn sứ Ezekiel đã loan báo). 

Qua ý nghĩa của bài Tin mừng về người chăn chiên tốt lành mà Phụng vụ dùng vào các Chúa Nhật thứ tư trong Mùa Phục Sinh, và cũng là ngày mà chúng ta cầu nguyện cho ơn gọi. Và theo tôi, một trong những ơn gọi cao quí nhất đó là ơn gọi làm mẹ. Mẹ ở đây không phải là nhiệm vụ dành riêng cho các phụ nữ mà thôi. Nhưng trong vai trò lãnh đạo, hình ảnh của Đấng Chăn Chiên được thể hiện qua cách cư xử của các bà mẹ. Vì thế tinh thần, phẩm chất và bản năng của người mẹ cần thiết vô cùng cho những ai được gọi trong vai trò lãnh đạo để phục vụ. 

Giờ đây chúng ta dành vài phút chia sẻ vài cảm nghĩ, đôi dòng suy tư về ơn gọi của những người mẹ Việt Nam cũng như tất cả các bà mẹ trên toàn thế giới.

Người ta thường nói mẹ là hình ảnh của tình yêu. Nhưng theo thiển ý của tôi thì mẹ chính là tình yêu, là sức sống, là hạnh phúc và là nơi nương tựa của đoàn con. Mẹ đã không vì mẹ mà sống, nhưng cuộc sống của các ngài là vì chồng và cho con cái. Chúng ta ít nghe thấy mẹ nói về những ngày nghỉ, trái lại mẹ thường dùng những ngày đó như là các cơ hội để phục vụ chồng và tụ họp con cái quây quần bên bàn cơm do mẹ dọn sẵn. Mẹ tần tảo trong công việc. Mẹ hy sinh và chấp nhận mọi khó khăn để bầy tỏ tình yêu của mẹ. 

Tình yêu của mẹ như dòng suối chảy một chiều: cho đi mà không đòi lấy lại. Chúng ta thường được nghe rằng: “nước mắt chảy xuôi ...” Thật vậy, cho dù con cái đã khôn lớn, cho dù vì vô tình hay cố ý mà một số người con đã không cư xử tốt với mẹ, thì mẹ vẫn yêu thương các con; vì đó là lẽ sống của mẹ.

Như người chăn chiên tốt, biết từng sở thích, từng nhu cầu của mỗi con chiên; thì mẹ của chúng ta cũng lần mò từng bước để học và biết từng sở thích, từng nhu cầu của mỗi người con. Trên tiến trình này, mẹ nhận biết rằng mỗi người con của mẹ đều là quà tặng thật cá biệt mà Thiên Chúa đã ban cho mẹ, đó chính là những khu vườn mà Thiên Chúa muốn mẹ gieo trồng, chăm bón và thu hoạch một hạt giống quí giá nhất mà mẹ đã lãnh nhận: Tình yêu và sự sống.

Khi nói mẹ là sự sống thì tôi nhớ lại đoản truyện ngắn vô cùng thương tâm mà tôi đã đọc được trong nguyệt san ‘Reader’s digest’. Đó là một sự kiện có thật đã xẩy ra tại Việt Nam vào đầu thập niên 1970. Trong cuộc di tản dân chúng khỏi vùng hỏa tuyến tại miền Trung, phái đoàn y tế Hoa kỳ đã chứng kiến cảnh một cháu bé khoảng chừng 9 tháng đang cố gắng nuốt những giọt sữa hòa chung với dòng máu trên thân xác tuy đã chết nhưng vẫn còn hơi ấm của mẹ em. 

Và mới đây, vào năm 1995, sau vụ động đất tại Thành Phố Kô-bê, bên Nhật, người ta đào bới và khám phá dưới đống gạch vụn của một tòa nhà đã đổ nát là hai mẹ con. Người mẹ, tuy còn sống nhưng đã bất tỉnh; còn đứa cháu gái đang cố gắng ngậm chặt ngón tay của người mẹ và cố hút nguồn sống bằng máu phát xuất từ thân thể của mẹ cháu. 

Sau khi phục hồi sức khỏe cho hai mẹ con. Người ta nghe bà mẹ kể lại rằng. Tuy bị chôn vùi ở dưới đống gạch đổ nát của tòa cao ốc. Nhưng hai mẹ con chúng tôi quả thật đã gặp vận may. Có một cái đà thay vì đổ suống đập vào chúng tôi thì lại bị ngăn lại bởi bức tường vụn và trở thành vật chắn giúp hai mẹ con chúng tôi không bị đè chết. Sau đó, đứa con vài tháng tuổi của chị đói quá khóc thét lên. Bà mẹ không biết phải làm gì! Dòng sữa thì khô quặn vì đã mất mấy ngày họ đâu có gì để ăn và để uống. Bà mẹ mò mẫm trong bóng tối và tay bà đã chạm vào một vật sắc và nhọn. Với bản năng yêu thương của một người mẹ, bà không kịp suy nghĩ, lập tức dùng ngay vật nhọn đó cắt vào ngón tay của mình và đặt vào miệng cháu. Cứ thế mỗi lần con của bà khóc thét lên là một vết cắt của yêu thương được xuất phát từ thân thể của bà. Cứ thế cho đến khi bà ngất đi vì bât tỉnh và không hề biết những chuyện xẩy ra sau này.

Người ta hỏi bà là khi cắt da thịt mình để lấy máu thay sữa cho con, bà không sợ chết sao? Bà trả lời rằng với bản năng của người mẹ, tôi không có thời gian để suy nghĩ. Sự sống còn của con tôi là tất cả những gì mà tôi có thể làm được; cho dù giờ này biết làm thế rồi chết, tôi vẫn làm.

Và để minh họa cho nhiệm vụ của người chăn chiên qua hình ảnh của người mẹ, xin mời anh chị em cùng theo dõi câu chuyện sau đây:  

Người ta nói rằng: Nếu Chúa Kitô còn sống bằng xương bằng thịt ở trên đời ngày hôm nay, chúng ta tự hỏi không biết Chúa còn dùng hình ảnh con chiên và người mục tử không? Có lẽ Chúa sẽ dùng hình ảnh ‘mẹ và con’ hơn. 

Thật êm đềm và đầm ấm khi chúng ta được chứng kiến cảnh hai mẹ con sánh bước bên nhau, tay trong tay. Rồi thì em bé chợt buông tay mẹ ra và bị bỏ rơi đằng sau, đang chăm chú nhìn vào gian hang đồ chơi, nhìn cái nầy sang cái khác mãi mà không biết chán. Người mẹ dừng lại và chờ đợi. Mẹ ra hiệu cho con chạy tới trước. Em bé chạy tới và hai mẹ con lại sánh bước bên nhau nhưng chẳng bao lâu, em bé lại buông tay ra và lần nầy chạy tuôn về phía trước. Mẹ gọi em hãy đợi, coi chừng nguy hiểm. Đến ngã tư đường, đèn xanh đèn đỏ, xe cộ chạy qua chạy lại. Em bé nghe tiếng mẹ gọi, đứng dừng lại đợi. Mẹ nắm tay em, ngó trước ngó sau rồi băng qua đường an toàn và tiếp tục cuộc hành trình. Chẳng bao lâu em bé trở nên mệt nhọc, rã rời và gục xuống. Người mẹ đỡ và bế con trong tay trên đoạn đường còn lại để đi về nhà. 

Đó đúng là một sự mô tả đầy thi vị cuộc hành trình của Kitô hữu. Giống như một người mẹ âu yếm con, Chúa Giêsu - người Mục Tử Nhân Lành và Từ Bi- luôn để mắt đến chúng ta. Ngài luôn ở bên cạnh chúng ta. Ngài không bao giờ rời mắt khỏi chúng ta. Niềm tin thâm sâu của chúng ta là, nhờ vào sự hiện diện âu yếm của Ngài, chúng ta sẽ bình an đạt tới đích trong sự bao bọc của Thiên Chúa.

Như vậy, bản năng và ơn gọi mà Thiên Chúa đã mời mẹ chúng ta lãnh nhận thật cao quí. Vì thế, để hoàn thành sứ mạng này, mẹ chúng ta có một cuộc sống tuy giản dị và âm thầm nhưng lại vô cùng kiên trung. Mẹ đặt trọn niềm tin và sự cậy trông nơi Đấng đã mời gọi mẹ. Mẹ đáp nhận bằng cả con tim yêu thương của mẹ để làm chứng cho tình yêu của Thiên Chúa. Mẹ thật đáng tôn vinh như những vị anh hùng vô danh mà chúng ta thường tưởng nhớ, hoặc như những vị thánh âm thầm mà không cần tuyên phong. Cuộc sống của các Ngài như những lời mời gọi, như những động lực giúp chúng ta tiếp tục sứ mạng làm chứng nhân tình yêu của Thiên Chúa.

Vậy, giờ đây chúng ta hãy cùng nhau tạ ơn Thiên Chúa đã ban cho chúng ta một người mẹ, đã ban cho nhân loại ‘ơn gọi làm mẹ’. Ước gì những ai được mời gọi thừa kế quyền lãnh đạo của Chúa Giê-su, hãy có con tim của người mẹ, luôn yêu thương và sống trọn vẹn cho những ai mà Chúa ban cho họ chăm sóc. 

Lm Giuse Mai Văn Thịnh, DCCT
12/5/2019

Wednesday, 1 May 2019

Lm Giuse Mai Văn Thịnh, CSsR :HÃY CHĂN DẮT VÀ YÊU THƯƠNG NHAU




Hôm nay, trong bài Tin Mừng, Thánh Gioan đã tường thuật cuộc hiện ra lần thứ ba của Chúa, sau khi đã sống lại từ cõi chết, cho các môn đệ. Tuần trước, chúng ta đã được nghe Thánh sử ghi lại 2 lần hiện ra, lần thứ nhất không có TôMa, lần thứ hai có mặt Tôma. Nếu không tính việc hiện ra cho cá nhân bà Maria Mácđala, thì đúng thật đây là lần thứ ba Chúa hiện ra với các môn đệ. 

Với lối tính này, chúng ta đoán được chủ ý của Thánh sử là muốn trình bầy những lần hiện ra cho cộng đoàn hơn là cho từng cá nhân. Cho dù Tô-Ma và Ma-ri-a Mác-đa-la đã nói và tuyên xưng rằng Thầy mình đã sống lại; nhưng dù sao chăng nữa thì các lời tuyên xưng của họ vẫn mang tính cá nhân. Các lời tuyên tín của cộng đoàn bao giờ cũng có giá trị hơn. Niềm tin vào Chúa Phục Sinh không dựa vào các lời tuyên tín của từng cá nhân; đây là quà tặng của Chúa Cha và đó cũng là niềm tin chung của cộng đoàn dân Chúa, Hội Thánh của Người.

Sau khi Đức Giêsu bị giết! Thế giới mà các môn đệ mong chờ để được chia chác chỗ đứng đã bị sụp đổ. Cho dù các ông đã hai lần được nhìn thấy Chúa, nhưng tiến trình đổi mới để thay đổi nhất là niềm vui và ơn bình an của Chúa Phục sinh không có hiệu quả ngay tức khắc; nó không được xẩy ra một sớm một chiều. Các ông vẫn còn buồn chán và với tâm trạng thất vọng, các ông trở về nghề chài lưới tại Biển Hồ Tibêria, nơi mà các ông đã làm trước khi đi theo Chúa. Có bẩy môn đệ có mặt trong lần hiện ra này, đó là “ông Simôn Phê-rô, ông Tô-ma gọi là Điđymô, ông Nathanaen người Cana miền Galilê, các người con ông Dêbêđê và hai môn đệ khác nữa, tất cả đang ở với nhau.”

Giống như mọi lần, hôm nay Phêrô mau mắn lên tiếng đề xuất “tôi đi đánh cá đây.” Phêrô chỉ nói lên ý định của mình, không có ý truyền lịnh hay yêu cầu điều gì nơi các bạn đồng nghiệp. Như một vị lãnh đạo tài giỏi và nhiệt thành, ông chỉ gợi ý mời gọi việc cộng tác của các bạn và tự nguyện đi bước trước. Ông tôn trọng ý kiến hay việc đóng góp của các bạn. Các bạn của ông thấy được trách nhiệm và tinh thần cùng chia sẻ nên đã đồng thanh xin đi cùng. Tinh thần hiệp nhất trong công tác chung đã được nói đến, nhưng kết quả của việc ra khơi trong đêm hôm ấy vẫn không bắt được con cá nào hết! Có lẽ, chúng ta cũng đoán được lý do tại sao. Câu trả lời sẽ tìm thấy trong phần kế tiếp của trình thuật. Theo kinh nghiệm của những ngư phủ, cá thuờng đi ăn vào ban đêm; thế mà các môn đệ đã vất vả cả đêm mà vẫn không luới đuợc con cá nào cả!

Khi màn đêm đã trôi qua để nhường chỗ cho bình minh xuất hiện thì các môn đệ đã mệt nhoài nên các ông chuẩn bị đi về. Ngay thời điểm ‘khi trời đã sáng’, Chúa Kitô không chỉ hiện đến mà Người đang đứng trên bãi biển mà các môn đệ không nhận ra Người. Điều này có nghĩa là Người hiện diện và đang đứng ở đó, lúc ánh sáng của thái dương bắt đầu xuất hiện. Người không biến mất rồi hiện ra, Người đang đứng ở đó; nhưng các môn đệ và chúng ta (vẫn đang ở trong đêm tối) không nhận ra Người.

Cho dù các môn đệ không nhận ra Người, nhưng các ông vẫn vâng lời mà làm theo điều Người dậy bảo mà thả luới ở bên phải mạn thuyền và kết quả là các ông thu đuợc một mẻ cá lớn mà nhiều người gọi là mẻ luới kỳ diệu bao gồm 153 con thuộc đủ mọi loại cá khác nhau. Trước kết quả này, người môn đệ được Chúa yêu, có thể là nhân vật đại diện cho tất cả mỗi người chúng ta, bởi vì ai trong chúng ta lại không được Chúa yêu sao. Ông môn đệ được Chúa yêu nhận ra Chúa và lên tiếng cho Phêrô biết là “Chúa đó”. Còn phản ứng của Phêrô lại khác, vẫn bộc trực, thẳng thắn và mau mắn. Vừa nghe bạn mình nói “Chúa đó” là ông lập tức nhẩy ngay xuống biển bơi vào bờ đến với Chúa. Lời nói và hành động của người được Chúa thương yêu và Phê-rô đã để lại cho chúng ta bài học vô cùng cao quí là sự nhận biết Chúa của chúng ta không dừng lại ở mặt cảm xúc; nhưng cần đuợc thể hiện bằng hành động mà tiếp cận với Chúa.

Chúa Giê-su mời các ông cùng ăn sáng đã được dọn sẵn cho các ông. Thầy trò cùng ăn với nhau. Một bữa ăn sáng đơn sơ, thanh đạm nhưng đầy tình thân. Lương thực của buối sáng hôm đó chỉ vỏn vẹn có mấy con cá và vài khúc bánh thế mà đã để lại trong tâm tư của họ một điều thật kỳ diệu đến nỗi không một ai trong nhóm họ dám hỏi về thân thế của Người, vì tất cả đều biết Người chính là Đức Chúa của họ, là chính Đức Giê-su, bằng xuơng bằng thịt mà các ông đã theo Người trên con đường sứ vụ. Người không phải là bóng ma, mà là Đấng đã chỗi dậy từ cõi chết.

Việc ra khơi của các môn đệ hôm nay nhắc cho chúng ta nhớ lại điều mà Đức Giêsu đã tuyên bố khi kêu gọi các ông trở thành môn đệ của Người, đó là  “hãy theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá.” (Mác-cô 1,17) 

Dù trong hành trình thi hành sứ vụ, Đức Giêsu đã gọi, chọn và huấn luyện các ông từ những người đánh cá chuyên nghiệp trở thành những kẻ lưới người; nhưng hiệu quả của việc tuyển chọn và huấn luyện chỉ có hữu hiệu sau khi Đức Giêsu sống lại. Chúa Kitô Phục Sinh, trao ban Thần Khí, năng quyền và sức mạnh để các ông ra khơi chài luới người về với gia đình Hội Thánh. 


Như vậy, kết quả việc lưới cá hôm nay cho chúng ta hiểu rằng cho dù con người có nhiệt tình và hăng say đến đâu trong công việc truyền giáo mà thiếu yêú tố căn bản và quan trọng nhất, đó là sự hiện diện của Chúa, thì dù chúng ta có đạt thành quả, nhưng đó chỉ là thành quả dựa vào sức mình; đến khi gặp phong ba bão táp, những gì chúng ta xây dựng có thể sẽ bị sụp đổ tan tành. Việc làm như thế có thể được ví như người xây nhà trên cát vậy. Việc đầu tiên trước khi ra khơi để rao giảng là nhận ra sư hiện diện của Chúa Phục Sinh, Đấng cùng đi với mình rồi sau đó mới thả lưới.

Sau khi dùng bữa sáng xong. Chúa Giêsu biết rằng đã đến lúc Người cần ủy thác cho một môn đệ trong nhóm đứng ra đảm nhận vai trò lãnh đạo, thừa hành trách vụ của người Mục Tử nhân lành mà Chúa Cha đã ủy thác. Người đã hy sinh mạng sống mình để yêu thương và bảo vệ đoàn chiên mà Chúa Cha đã ủy thác cho Người thế nào thì giờ đây người kế thừa trách vụ này cũng phải có tấm lòng hy sinh và yêu thương đoàn chiên như thế. Nên trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu đã ba lần hỏi Phêrô “Anh có yêu mến Thầy không?” Và Phêrô đã ba lần đáp trả “Thầy biết con yêu mến Thầy.”

Cho dù trước đây, trong hành trình Thương Khó của Đức Giê-su, Phê-rô đã ba lần chối là ông không hề biết Chúa. Nhưng hôm nay, với năng lực và ân huệ của Chúa Phục Sinh, Phê-rô nhớ lại việc Thầy làm và Lời Thầy dậy trong bữa tiệc ly: “Anh em gọi Thầy là "Thầy", là "Chúa", điều đó phải lắm, vì quả thật, Thầy là Thầy, là Chúa. Vậy, nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau. Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em. Thật, Thầy bảo thật anh em: tôi tớ không lớn hơn chủ nhà, kẻ được sai đi không lớn hơn người sai đi. Anh em đã biết những điều đó, nếu anh em thực hành, thì thật phúc cho anh em!”

Đây chính là khuôn vàng thước ngọc để lượng định và đánh giá vị trí và ơn gọi của người lãnh đạo. Người lãnh đạo không dựa vào khả năng hay sự khôn ngoan của bản thân; nhưng hoàn tòan được phát xuất từ sự đáp trả về câu hỏi “anh hay chị, ông hay bà có yêu mến Chúa không?” Yêu mến thì ra khơi múc nước mà rửa chân cho nhau. Làm to là như thế, là quì xuống mà phục vụ theo gương của Thầy, Đấng yêu thương mình và ngược lại mình cũng hết lòng yêu thương Chúa và tha nhân nữa.

Như vậy, sau khi cùng nhau suy niệm bài Tin Mừng về việc Chúa đến với các môn đệ hôm nay, chúng ta cùng nhớ lại rằng giống như các môn đệ, chúng ta đã nhiều lần để cho đêm tối lấn át nên đã không nhận ra sự hiện diện của Chúa Phục sinh, Đấng đang đứng chờ đợi ta trên con đường mà chúng ta đang đi. Người hiện diện trong những lúc chúng ta gặp khó khăn. Người có mặt khi chúng ta vui cũng như lúc buồn phiền. Người hiện diện khi chúng ta cô đơn và bí lối. Người ở đó và chuẩn bị bữa cơm tình thương rồi mời chúng ta cùng ăn với Người. Người biết rõ các nỗi yếu đuối, các cơn hoạn nạn, những lần chúng ta ngã gục, những giây phút chán nản, khiến chúng ta thất vọng… 

Tóm lại, trong mọi khoảnh khắc của cuộc đời Người vẫn có mặt. Người đứng đó chờ đợi lời đáp trả của chúng ta trước câu hỏi “anh chị em có yêu mến Chúa không?” Người hiện diện và biết chúng ta yêu mến Chúa nên Người đã cho phép chúng ta thừa hành nhiệm vụ của Người trong vai trò của người mục tử nhân lành, sẵn sàng hy sinh mạng sống vì yêu.

Vì thế, dựa vào hoàn cảnh cá biệt của từng cá nhân, Chúa đã bộc lộ tình thương và sự chăn dắt của Người dành cho chúng ta. Giờ đây, theo gương Người, chúng ta cũng được mời gọi ra đi, đến với anh chị em trong hoàn cảnh của họ mà thể hiện tình yêu thương và sự chăm nom của chúng ta dành cho họ; nhất là những người nghèo đói yếu đuối, đau khổ, lạc lối hoặc đang gặp rắc rối.

Hãy chăm sóc nhau như Chúa đã từng chăm sóc cho chúng ta. 

Amen! Alleluia.
Lm Giuse Mai Văn Thịnh, CSsR
___________________________________________________

Tuesday, 30 April 2019

Lm Giuse Mai Văn Thịnh, CSsR : BÌNH AN: ÂN PHÚC CỦA CHÚA PHỤC SINH

BÌNH AN: ÂN PHÚC CỦA CHÚA PHỤC SINH
___________________________________________________
Lm Giuse Mai Văn Thịnh, CSsR

Vào chiều ngày Chúa Nhật, 21 tháng 4 năm 2019 vừa qua. Chúng tôi tụ họp chung quanh bàn tiệc Thánh để mừng Lễ Chúa Phục Sinh. Sứ điệp mà chúng tôi cảm nhận là nguồn hy vọng của Chúa Phục Sinh, Đấng đem lại bình an cho thế giới. Trong niềm hy vọng, chúng ta tin rằng thế giới sẽ đổi mới, cộng đoàn giáo xứ, gia đình và người người sẽ đổi mới. Hy vọng là thế đấy, ngóng chờ trong hy vọng. Tuy nhiên, trên thực tế, bộ mặt của thế gian này không như mình mong muốn. Tội ác vẫn tiếp tục xẩy ra. Con người vẫn sống trong lo sợ. Không biết chỗ nào mới là chốn an toàn đây! 

Trên đường về nhà, tôi nghe được bản tin nóng, giật gân nói về một vụ ôm bom tự sát tại Sri Lanka. Hành động có tổ chức và phối hợp chặt chẽ này đã giết chết hàng trăm tín hữu trong các nhà thờ Công Giáo và những người khác trong các khách sạn gần đó. Các nhà thờ bị tấn công là nhà thờ thánh Sebastian ở Negombo, đền thánh Antôn tại Colombo và nhà thờ Zion ở thành phố phía đông Batticaloa. Tội ác kinh tởm này nhắm vào các nơi thờ phượng và giết hại những thường dân vô tội trong khi họ đang hân hoan mừng lễ Phục sinh.  Cho đến nay con số người thương vong đã vuợt quá 310 người. Còn bao nhiêu người đang điều trị tại các bịnh viện. 

Sự kiện này làm tôi nhớ lại vụ bắn súng tại hai ngôi đền của người Hồi Giáo, ở Thành Phố Christ Church, bên New Zealand. Hành động tàn ác này đã cuớp đi sinh mạng của 50 người. 

Hiện tình thế giới là thế. Những vụ thảm sát và giết hại những người tin vào Đức Kitô vẫn còn xẩy ra. Ngay từ đầu, Hội Thánh đã bị bách hại. 

Trong niềm hiệp thông, chúng ta cầu nguyện cho các nạn nhân. Trong tình liên đới chúng ta san sẻ nỗi đau buồn với gia đình họ. Và chúng ta xác tín rằng những hành vi tàn ác này sẽ không thể dập tắt ánh sáng và niềm hy vọng của chúng ta vào Chúa Phục Sinh, Đấng đã khải hoàn và chiến thắng quyền lực của sự dữ cũng như mọi hình thức tội ác của nó. Tuy nhiên, chúng ta không thể chối bỏ tâm trạng lo sợ trước quyền lực của sự dữ vẫn đang hoành hành và xem ra thống trị tại một vài nơi trên thế giới. Nỗi lo sợ này khiến chúng ta nhớ lại tâm tình và sự sợ hãi của các môn đệ của Đức Giê-su sau ngày Người tử nạn. 

Phản ứng của nhóm môn đệ thật bình thường. Đứng trước các diễn tiến và các biến cố mà các ông đã chứng kiến hay được nghe về Thầy mình trong mấy ngày qua khiến các ông sợ hãi. Thầy mình với quyền năng cả thể như thế mà còn bị giết, phương chi là chúng mình, thân cô thế cô và không nơi nương tựa.

Chúng ta hiểu được nỗi lo sợ của các ông. Ông nào cũng có hoài bão và tham vọng riêng. Chúng ta không thể đặt kỳ vọng quá cao nơi họ để rồi mất đi niềm cảm thông về cách cư xử mang thật tính người của họ. Họ không thể vì theo Chúa mà mất đi bản tính riêng. Họ đến với Chúa bằng con người thật và những gì thuộc về họ. 

Thế giới mà họ ước mong được chia phần đã sụp đổ và còn chống lại các môn đệ nữa. Cho nên, họ sợ người Do Thái, và có thể họ còn sợ Chúa sẽ khiển trách họ về cách cư xử như nộp Người và trối Chúa của một số người trong nhóm họ nữa. 

Anh chị em thân mến,
Tuy nhiên có một chi tiết mà Thánh sử ghi lại hai lần ở đây khiến cho chúng ta cần quan tâm, đó là tính cộng đoàn của các môn đệ. Tuy các ông đã thất vọng về các biến cố mà các ông đã chứng kiến trong mấy ngày qua. Thầy mình đã chết thật. Nhưng không vì thế mà các ông bị tan tác. Các môn đệ tụ họp lại với nhau trong một căn phòng mà nhiều người đã giải thích là các ông họp nhau để cầu nguyện. Và, điều này thật cần thiết cho các môn đệ trong giai đoạn mất mát lớn lao này. 

Khi Thầy mình còn sống các ông đã để cho tham vọng, cái tôi và sự yêú hèn trong thân phận làm người ảnh hưởng trên lối hành xử của các ông. Đằng sau tất cả các tham vọng, hoài bão và ước mơ của các môn đệ là một con người yếu đuối, nghèo nàn và bất an. Nhưng trong giây phút này, khi mọi sự không còn; các ông không còn biết bám vào đâu, chỉ biết liên kết trong thinh lặng và nhất là trong suy tư. Chính các điều này đã giúp các môn đệ trở về chính mình mà nhận ra các nỗi yêú đuối của bản thân mà hỗ trợ và củng cố cho nhau. 

Trong bối cảnh như thế, chắc hẳn các môn đệ đã căng thẳng khi nhận ra sự xuất hiện của Thầy mình, Đấng đang hiện diện trước mặt họ. Họ có đủ mọi lý do để mong nhận được sự khiển trách của Thầy, xem họ như là những kẻ ngỗ ngược và bất trung; thậm chí họ có thể bị đuổi ra khỏi nhóm. 

Thế mà, chúng ta nghe được Chúa nói gì với họ đây? Người nói: “Bình an cho anh em! “ Nói xong, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn. Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa. Người lại nói với các ông: "Bình an cho anh em! Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em." Nói xong, Người thổi hơi vào các ông và bảo: "Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ."

Lời Chúa vừa phán và hành động Người vừa làm có nghĩa gì?
Hình như, Người muốn nói rằng Thầy rất hiểu và thông cảm cho lối suy nghĩ của các con. Anh em đã ân hận về cách cư xử của anh em đối với Thầy hay sao? Thầy biết, anh em đã trải qua một giai đoạn đầy bi thương. Thầy biết rằng giữa anh em và trong lòng anh em có những vết thương cần được chữa lành. 

Người ta tưởng là đã giết được Thầy. Anh em không thấy sao, đây là lỗ đinh đóng vào tay Thầy; đây là vết giáo người ta đâm. Tất cả đau thương này bao gồm cả sự chết tủi nhục mà anh em đã chứng kiến đều là Thánh Ý của Cha. Thầy vui lòng đón nhận. Đó là con đường mà Chúa Cha dọn sẵn cho Thầy. Vì thế, anh em đừng buồn nữa, hãy vui với Thầy vì Thầy đã hoàn tất sứ mạng mà Cha trao phó. Thầy vui cho nên anh cũng vui với Thầy, vì Thầy đi về cùng Cha, và giờ đây Thầy trở lại để cùng sống với anh em. Không khí trong phòng giờ này tràn ngập niềm vui bởi vì các môn đệ đã nhận ra đích thực là Thầy.  

Tuy nhiên, Thầy còn biết rằng anh em chưa thể đón nhận nên tự trách mình đã không chia sẻ Thánh Giá với Thầy.  Đừng để những ý tưởng đó dầy vò và làm cho anh em bị đau khổ và sống trong lo sợ nữa. Sai lầm là bản tính của con người, tuy nhiên sự tha thứ lại thuộc về Thiên Chúa và Chúa Giêsu Phục sinh sẵn sàng trao ban quyền năng tha thứ cho các môn đệ. Sự tha thứ mà các ông vừa được trao ban là động lực giúp các ông đối xử với nhau một cách khoan dung và thông cảm cho nhau hơn. Cách sống khoan dung sẽ giúp cho họ bỏ đi ước muốn tranh dành địa vị, quyền lực và thống trị. Lòng khoan dung và thông cảm giúp họ dễ dàng đến với nhau hơn, dễ dàng chấp nhận các điểm yếu của nhau và giúp nhau thăng hoa cái tốt, những điều thiện hảo của nhau. Tất cả là ân phúc của Chúa Phục Sinh.
  
Chúng ta còn nhiều việc phải làm. Và để thể hiện ý định đó, Chúa Giêsu đã thổi hơi, nghĩa là thổi thêm sinh khí, ban thêm năng lực và sức sống mới cho các môn đệ, các điều này không ban cho họ để hưởng thụ, mà trao ban để thi hành sứ mạng. Sứ mạng tha cho nhau phải được thể hiện bởi quyền năng của Đấng Phục Sinh. Và chỉ có Thần Khí của Chúa Phục Sinh mới làm cho các môn đệ thi hành và hoàn tất sứ mạng cao cả này. 

Thưa anh chị em,
Trong lần hiện ra thứ nhất này chúng ta không hiểu tại sao Tô-ma lại vắng mặt? Các môn đệ khác đã kể lại cho ông biết về việc này: “Chúng tôi đã được thấy Chúa”, nhưng họ đã không làm chứng về điều họ tuyên xưng cho nên làm sao Tôma có thể tin vào lời loan báo của các bạn mình được. Họ vẫn đóng kín vì sợ hãi. Cho dù Thần khí và năng quyền đã đuợc trao ban, nhưng các bạn của Tô-ma đã không để cho sức mạnh của Thần Khí tác động, họ vẫn chưa ra khỏi vùng an toàn, vẫn dựa vào các cánh cửa đã đuợc đóng kín để bảo vệ, chưa sẵn sàng ra đi rồi vịn cớ là không biết đi đâu! Lời loan báo của họ không đi đôi với việc làm như thế thì làm sao có thể truyền lửa cho Tô-ma đuợc. 

Còn Tôma, ông muốn niềm tin của ông phải dựa trên trải nghiệm của cá nhân; ông muốn giác quan (xúc giác) của ông có thể chạm vào các thương tích trên thân thể của Chúa, nên đáp rằng: “Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin.” Tôma muốn có một trải nghiệm riêng. Nhờ Tôma, chúng ta thấy tình thương của Chúa cao cả dường nào. Như Tôma, chúng ta đưa ra các điều kiện, vòi vĩnh để được thấy Chúa mà tin vào Chúa. Chúa bao dung nên sẵn sàng chấp nhận để trao ban cho chúng ta một kinh nghiệm. Người muốn tỏ mình theo cách thế riêng cho từng người để một cách riêng biệt, chúng ta nhận biết Người.

Tám ngày sau, Chúa lại hiện ra với các ông, lần này có mặt Tô-ma. Trước tiên, Người cũng ban bình an cho các môn đệ rồi quay sang Tôa và nói: “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin.” Tôma đã đáp trả bằng một niềm xác tín rằng Người là Chúa và là Thiên Chúa của ông. Sau đó qua Tô-ma, Chúa đã trao ban cho chúng ta thêm mối phúc nữa là “Phúc thay những người không thấy mà tin.”

Niềm tin vào Đức Ki-tô Phục Sinh không phải là việc dễ làm, đôi khi tiến trình dẫn chúng ta đến niềm tin này kéo dài trong suốt đời mình. Chúng ta cần được Chúa Phục Sinh củng cố và thúc đẩy luôn để chúng ta tin và tin một cách vững chắc hơn vào sự hiện diện của Người trong mọi ngày của cuộc sống.

Tin vào Chúa Phục Sinh, Đấng đang đồng hành và hiện diện với chúng ta là hiệu quả của ơn bình an. Nói khác đi, đây chính là ơn đầu mùa mà Chúa Phục Sinh ban cho các môn đệ. Người không chỉ ban một lần, nhưng trong bài Tin Mừng hôm nay, Người đã lập lại đến ba lần ‘Bình an cho anh em.' 

Đó chính là ân huệ đầu mùa của Chúa Phục Sinh dành cho các môn đệ. Không ai hiểu trò bằng thầy. Đức Giêsu thấu hiểu lòng trí hoang mang và các nỗi sợ hãi của các môn đệ, cùng nhau co rúm và trốn trên lầu vì sợ người Do Thái. Vì thế họ cần được bình an để thoát khỏi nỗi âu lo này. Hơn nữa, tâm hồn và lòng trí của các môn đệ cũng cần được thanh thản, bình an, ổn định để nhận ra người đang hiện diện với các ông là Chúa Giê-su, người thầy yêu dấu của họ. Trong lúc lĩnh nhận ơn bình an này các môn đệ cũng hiểu rằng họ cũng được mời gọi trao ban cho người khác điều mà họ vừa lĩnh nhận, nghĩa là trở thành sứ giả bình an cho nhân loại. 

Cầu chúc anh chị em chúng mình là sứ giả bình an của Chúa Phục Sinh, vì chính Người là nền tảng và cùng đích làm cho chúng ta được an bình rồi ra đi để chu toàn sứ mạng làm hòa với Thiên Chúa và với nhau. 

Bình an là sứ mạng mà Đức Ki-tô Phục Sinh đã đem đến, chúng ta hãy ra đi mà trao cho nhau ân phúc tuyệt vời này. 

Bình an của Chúa Phục Sinh ở cùng anh chị em.
Lm Giuse Mai Văn Thịnh, CSsR