Tuesday, 22 October 2019

Lm Giuse Mai Văn Thịnh, DCCT : HÃY TẠ ƠN CHÚA VÌ CON LÀ KẺ CÓ TỘI.




Noi gương bà góa trong bài Tin Mừng tuần trước, chúng ta hãy cầu nguyện liên tục, không được ngừng. Tuần này, bài Tin Mừng mô tả việc hai người Pha-ri-sêu và thu thuế lên đền thờ cầu nguyện. Qua đó, Đức Giê-su không chỉ dậy bảo chúng ta có tinh thần khiêm tốn khi cầu nguyện, mà còn mời gọi chúng ta hãy xem xét lại thái độ và lối sống của mình trước mặt Chúa nữa.

Người Pharisêu được mô tả thật sống động. Ông đứng thẳng người bộc lộ dáng vẻ tự tin, thì thầm với Thiên Chúa. Chúng ta phải thú nhận rằng những việc ông làm, nào là không trộm cắp, không có hành vi bất chính, không ngoại tình, còn tuân thủ việc đóng thuế thập phân cho đền thờ nữa là những việc tốt và rất đáng khích lệ và ông ta đã hành động theo đúng luật Chúa. Ông ta làm được nhiều việc hơn chúng ta. Thật cảm phục cho các tín hữu dám công khai nói như người Pha-ri-sêu hôm nay.

Ông đã tạ ơn Chúa; nhưng cách ông tạ ơn dường như để khoe khoang chứ không để tỏ bầy cử chỉ tôn thờ Thiên Chúa của ông. Sau đó, đã sai ông lại tiếp tục sai khi vịn vào thành tích rồi hợm mình để chê bai người khác. Ông làm như đã trở thành con người hoàn hảo bởi các việc ông làm.

Chúng ta tưởng rằng chỉ mấy ông Pharisêu thời Đức Giêsu mới hành xử như thế. Thật ra trong mọi thời đại và dù bất kỳ sống trong môi trường nào thì lối sống như ộng Pha-ri-sêu vẫn còn hiện diện và được khuyến khích trong các cơ cấu, ngay cả các tổ chức công giáo. Họ là những người tự cho mình là đạo đức, dựa vào công nghiệp và những đóng góp rồi coi kẻ khác không ra gì.

Thật ra, ai trong chúng ta cũng đều biết rằng chúng ta có làm được các việc như thế cũng là hống ân của Chúa ban cho. Tất cả đều là hồng ân, là quà tặng của Chúa trao ban để chúng ta chia sẻ cho người khác. Đó là bổn phận, nếu không hành động thì chúng ta là người có lỗi, lấy gì mà vinh vang.
Nếu ai trong chúng ta có muốn so sánh thì hãy lấy tiêu chuẩn của Tin Mừng ra mà so sánh. Tất cả chúng ta, dù là ai hay dù đang nắm giữ tác vụ nào của Hội Thánh, tất cả đều là tội nhân, là những con người khuyết hẳn vinh quang và sự Thánh Thiện của Chúa nơi mình.

Vì thế, hãy học vẻ đẹp của người thu thuế. Ông biết các công việc của ông, như cộng tác với chính quyền, thu thuế và làm giàu trên xương máu của nhân dân khiến cho ông tuy giầu có nhưng lại bị dân chúng ghét bỏ. Ông nhận ra một sự thật là cho dù liêm khiết và thành thật đến đâu thì ông cũng là người có tội với dân tộc và với dân chúng. Chính vì thế, ông chẳng có gì để hãnh diện hay trình bầy thành tích trước mặt Chúa. Ông đứng tự đàng xa, không dám ngước mắt nhìn ai, nhìn vào cõi lòng, hẳn nhiên khi nhìn vào cõi lòng ông thấy sự uy nghiêm và thánh thiện của Chúa, nên ông đấm ngực mà thân thưa cùng Chúa rằng: “Lậy Thiên Chúa, xin thương xót, con là kẻ tội lỗi.”

Giống như anh con thứ trong dụ ngôn Tình Phụ Tử, người cha đã không cho phép anh kể hết các tội của mình, không cho phép anh đánh mất mối tương quan khi anh dự định nói rằng mình không xứng đáng là con của ông. Ông đã cắt đứt việc anh con thứ kể lể về tội của anh thế nào thì ở đây cũng thế. Chúng ta không thấy người thu thuế liệt kê các tội của anh. Với thái độ nhìn rõ sự thật và vị trí trong thân phận của một kẻ có tội, anh đã được Thiên Chúa thương và làm cho anh trở nên công chính. Nói khác đi, anh ra về và được khỏi tội.
Thưa anh chị em,
Nơi câu đầu của dụ ngôn, Thánh Luca đã nói mục đich của dụ ngôn này là bài học mà Đức Giêsu muốn trao ban cho một số người tự hào cho mình là công chính mà khinh chê kẻ khác. Chúng ta có nằm trong đối tượng mà Đức Giêsu dậy bảo hôm nay hay không?

Tôi thấy cách hành xử của hai người: Pharisêu và thu thuế, đều được tôi lập lại trong cuộc sống hằng ngày. Sống trong một môi trường coi trọng thành tích, chúng ta nói cho nhau nghe các thành tựu, liệt kê một mớ bảng tạ ơn hay trọng thưởng. Chúng ta muốn nói cho người khác biết là chúng ta đang làm rất tốt; rồi từ đó chúng ta cũng nghĩ rằng Chúa đang mong đợi các điều tương tự từ nơi chúng ta, Chúa sẽ có ấn tượng tốt qua các thành công của chúng ta. Bị ảnh hưởng bới các yếu tố đó nên ông Pha-ri-sêu của mọi thời đại đã làm giống như người Pha-ri-sêu trong bài Tin Mừng. Cho dù ông mở đầu bằng lời tạ ơn, nhưng tâm tình tạ ơn của ông đâu chẳng thấy mà chỉ thấy ông khoe thành tích, kể lể công nghiệp hàm ý rằng những gì mà ông đang thụ hưởng là một sự đáp trả mà Chúa phải ban qua các việc ông đã làm. Ông không còn nhận ra những gì mà ông có được là hồng ân từ Chúa thì làm sao ông có thể tạ ơn được.

Chúng ta không cần tạo một ấn tượng tốt nơi Thiên Chúa. Chúa biết rõ chúng ta là ai, và Người còn biết tận tường chúng ta muốn gì. Vì thế, việc nhận ra vị trí và thân phận của chính mình là điều tiên quyết mà chúng ta cần có khi đến với Ngài. Thiên Chúa làm gì còn chỗ đứng nơi những kẻ chỉ biết đến mình. Sự thật giúp chúng ta nhận ra rằng mình là người có tội và chính vì thế chúng ta cần Chúa.

Muốn được như thế, chúng ta cùng nghĩ rằng:
• Bản thân và tất cả những gì chúng ta có được đều thuộc về Thiên Chúa. Đừng nghĩ rằng mình xứng đáng và chiếm hữu nó; trái lại hãy xử dụng mà chia sẻ cho nhau. Như vậy, những gì mà chúng ta có thể làm được cũng là hồng ân của Chúa; chúng ta đâu còn có gì để báo cáo thành tích mà vinh vang.

• Tất cả mọi người, dù già hay trẻ, cao hay thấp, sang hay hèn, cao trọng hay thứ dân, đều được mời gọi để trở nên công chính và thánh thiện. Mức độ thánh thiện không tùy thuộc vào công trạng của con người nhưng tùy thuộc vào mối tương quan giữa Chúa và ta. Khởi điểm của việc thiết lập mối tương quan đó là nhận ra sự thật than phận tội lỗi của mình mà bám víu vào lòng Thương xót của Thiên Chúa. Không vịn vào công trạng mà là một tâm tình phó thác trọn vẹn vào Đấng luôn yêu thương mình.

• Sau cùng, giống như người thu thuế, chúng ta hãy can đảm chấp nhận thân phận tội lỗi của mình, đến với Chúa để xin được tha thứ và tin tưởng vào lòng thương xót của Thiên Chúa, Đấng luôn yêu thương và muốn cho mọi người được cứu thoát. Đó chính là khởi điểm của cuộc sống mới. Cuộc sống không bị mặc cảm tội lỗi dầy vò; nhưng qua đó mà chúng ta nhận ra Tình Yêu của Chúa cao cả dường bao. Vì Ngài là tình yêu, và Tình yêu chính là bản chất và sức sống của Thiên Chúa.


Lm Giuse Mai Văn Thịnh, DCCT
23/10/2019







Monday, 21 October 2019

Gm John Spong : (Bài 17) Chương 7: Chống báng chủ-nghĩa hiện-thực (tiếp theo)



Khi cuộc tranh-luận nổi đình đám trong Giáo-hội về chuyện thay đổi mẫu-mực giới-tính để rồi trở-thành cuộc cãi-tranh về cung-cách thực-hiện, khiến ta phải sử-dụng Kinh thánh mỗi khi định-vị giới-tính. Tôi có cảm-giác cũng khá lạ khi nghĩ đến cuộc sống của tôi lâu nay diễn-tiến là để chuẩn-bị cho giờ phút này, mà thôi.

Thật ra, Kinh-thánh không từ trời rơi xuống mang trong mình trọn vẹn giòng chảy đương-điệu. Điều này chừng như quá rõ ràng, vì người sử-dụng Kinh-thánh lâu nay thường vẫn hiểu như thế. Thành thử, bước đầu cần có để đả-thông chuyện này, là: ta nên khai-thác tầm-kích lịch-sử xảy ra ngay trước đó, tức: nhìn sự việc tiến-triển trước khi nó thành-tựu ở thánh kinh, rồi từ đó tách-bạch nó ra và khai-thác tài-liệu trải-dài mãi ở phía sau.

Truyền-thống dẫn vào sách Torah, là: 5 đầu sách của Kinh thánh Do-thái, trong đó cuốn số 4 là sử-liệu ghi chép đầy-đủ mọi dữ-kiện. Mỗi cuốn đây, đều mang tính ‘độc-nhất vô nhị’ diễn-bày giá-trị thời-gian và nơi chốn khi xảy ra sự việc, đồng thời nó cũng phản-ánh thực-tại xã-hội, chính-trị và kinh-tế từng tạo ra những thứ như thế.

Trích sách Torah mà không tinh-thông mọi khác-biệt ở văn-bản đầu đời, tức là: ta chỉ đoán chừng những câu thơ, giòng chữ viết tháp-nhập vào trong đó trước/sau niên-biểu 1800 theo cách khách-quan, đồng điệu. Giả như sự việc chỉ đơn-điệu có thế thôi, hẳn ta cũng hơi ngây thơ, sơ-xuất cả sự thật ẩn- tàng trong đó.

Truyền thống Do-thái-giáo đi vào Đạo-giáo qua sự việc Đức Giavê yêu cầu ông Abraham bỏ thành Ur, Canđê ra đi mà thành-lập dân-tộc cá-biệt do Chúa chọn. (Khởi nguyên 12). Abraham đây, là cá-thể mờ-nhạt từng sống trong giai-đoạn lịch-sử của đất nước trước hoặc sau thiên-niên-kỷ 1800 trước Công nguyên không cổ xưa cho lắm, nhưng tương-đối cũng mới mẻ và hiện-đại.

Truyện kể về niềm tin ở đây đã diễn lại hai sự-kiện đáng kể, khiến ta định-vị mọi sự việc. Trước nhất, câu truyện ở đây rất mới mẻ đề-cập sự việc ông Abraham xử-trí Isaác, tức: câu truyện kể về niềm tin chưa dứt-đoạn mãi đến năm 920 trước Công nguyên, mới thành-toàn. Thứ hai là, truyện kể đây chỉ mới xuất-hiện vào niên-biểu khoảng 900 năm sau khi dân-gian mọi người cứ cho rằng tổ-phụ Abraham của ta từng sống ở thời đó, cũng rất lâu. Điều này, có nghĩa: truyện kể về ông Abraham được chúng-dân truyền miệng cho nhau nghe theo cung-cách dân-gian thời tiền-sử, thôi                   

Cũng có thể, câu chuyện truyền-khẩu đây được thể-hiện quanh lán/trại có lửa cháy bừng bừng lan từ đời cha ông đến đời con cháu, dọc suốt chiều dài hơn 25 thế-hệ. Truyện đây, còn được vẽ voi thêm đậm màu cổ-tích được dân-gian lưu-trữ trong bộ nhớ suốt quãng đời bộc-bạch. Chính ngang qua lề lối truyền-khẩu này, mà dân-con mọi người lại hiểu mọi việc theo nghĩa đen, rất từng chữ.

Đậm-đà hơn cả, là: câu truyện có tích tưồng đầy kịch-tính như việc tổ-phụ Abraham quyết rat ay hy-sinh người con duy-nhất của mình là chàng trai trẻ Isaác để làm đẹp lòng Chúa. Hoặc, câu truyện ghen-tương giữa hai vị nữ-lưu là Sara và Haga, rồi đến mối tương-quan giữa Tổ-phụ Abraham và truyện ông Lot, cũng đều thế!

Điều thứ hai đáng ta quan-tâm hơn cả, là: năm tháng ngày giờ định-vị tích truyện Abraham coi như đã thực-sự xảy đến trong lịch-sử của Do-thái-giáo để rồi tác-giả định-vị niềm tin dân-gian qua tháng ngày kéo dài không hơn 4 ngàn năm văn-hóa, như mọi người vẫn hiểu.

Thoạt vào lúc dân-gian mọi người suy-định về thực-chất hành-tinh ta đang sống cũng kéo dài khoảng chừng 4 hoặc 5 tỷ năm, thôi. Và, hiện nay dân-gian mọi người vẫn minh-định sự sống con người xuất-hiện trên hành tinh nhỏ bé này có xảy ra cũng chừng một đến hai tỷ năm là cùng. Và, niềm tin con người bắt đầu từ 1800 năm trước Công nguyên, tức: cũng mới đây thôi.

Giả như chuyện niềm tin con người được hiểu theo nghĩa đen rất từng chữ, thêm một việc nữa là:  bỏ sang một bên ý-định và kế-hoạch đầy sai-quấy của Hóa Công, ắt hẳn dân-gian mọi người sẽ tự hỏi: sao Thiên Chúa là Đấng đầy lòng nhân-hậu như thế, lại đang tâm để cho con người ở mãi trong tình-trạng ngu-muội/tồi-tệ đến 99.9% trong tổng số thời-gian họ sống trên hành-tinh này?

Cũng thế, dân-gian mọi người vẫn tìm-tòi lời đáp-trả cho câu hỏi: sao Giavê Thiên Chúa, Đấng  thấu suốt mọi việc lại cứ để những “sai lầm tệ hại” xảy ra như thế? Và, Ngài lại cho phép tôn-giáo “ngoài Đạo Chúa” thời xưa cổ cứ triển-nở trên hành-tinh nhỏ này?

Trong khi các tôn-giáo cổ khác, như: Phật-giáo và Ấn-giáo gồm nhiều thành-viên hơn Đạo Chúa vẫn không ngừng phát-triển trên địa cầu bé nhỏ này đến độ có người còn tự hào cho rằng: Đạo của mình mới là “Chính-giáo” nắm trọn chân-lý rất đành rành. Thành thử, từ những suy-tư ban đầu ra như thế, nên quyền-uy sức mạnh của Đạo-giáo độc-quyền sản-sinh ra mọi thể-loại an-ninh/an-toàn mà Sách thánh vẫn cứ bảo: Đạo-giáo của ta đang lao vào chốn thâm sâu cùng cốc của biển/hồ, thôi.

Cả khi ta tập-trung các tài-liệu đầu đời thành văn-bản chính-thức đan-xen với Thánh Kinh, thì mọi hiểu biết này/khác cần xét lại cho kỹ lưỡng. Nguồn mạch chính-qui ban đầu tạo chất-liệu cho nền-tảng Kinh thánh khi xưa lại cho rằng: trình-thuật đầu đời xuất tự Giavê Đức Chúa, bởi mọi trình-thuật khi ấy đều qui về Chúa qua danh-thánh Đức Giavê. Và, các bản văn này còn được chế-biến/xuất xưởng tại vương-quốc ở miền Nam Giuđa. Hơn nữa, thủ-đô Giêrusalem của Giuđa là kinh-thành thánh-thiêng trong đó thể-chế hoàng-tộc Đavít đã chế-ngự mọi sự và mọi việc đều tùy thuộc vào đó.

Trình-thuật xuất tự Giavê Thiên-Chúa, được coi là sử-liệu của hoàng-tộc được viết ra là để phục-vụ quyền-uy sức mạnh truyền-thống theo cấp độ riêng biệt. Hệ-thống quyền-uy/sức mạnh đây, diễn-tả Thiên-Chúa là Đấng duy nhất mặc-khải mọi sự qua việc liên-hệ với các lãnh-tụ do Ngài chọn đã xức-dầu. Tổ phụ Môsê, một công-cụ chính-trị của Thiên-Chúa và ông Aarôn, người em của ông, được định-vị theo cách thánh-thiêng chuyên việc lãnh-đạo hàng tư-tế chốn cao sang.

Đại-diện cho Thiên-Chúa, các lãnh-đạo có trọng-trách làm trung-gian hoá-giải mọi yêu-cầu và lời mời từ Chúa gửi đến dân-con mọi người để họ gia-nhập vào giao-ước này, chứ riêng Giavê Thiên Chúa không truyền-đạt hoặc giao-dịch trực-tiếp với dân thường ở bên dưới. Giavê chỉ chuyện trò với chúng-dân qua tổ-phụ Môsê và ông Aaron thôi, để rồi chỉ riêng Môsê mới được phép trực-tiếp liên-hệ với Ngài, thôi.

Lãnh-đạo tư-tế trong lịch-sử Do-thái-giáo thời bấy giờ, là đấng bậc xuất tự lãnh-tụ chính-trị và các nhà lãnh-đạo chính-trị lại xuất thẳng tự Thiên Chúa, mà thôi. Giả như ông Aarôn khai-phá ra thế-đứng của chính mình nơi hàng tư-tế là nhận-vật thứ yếu, đúng vào thời-điểm chúng dân rủ nhau tôn-thờ bò vàng quỉ quái (Khời Nguyên 32) thì ông sẽ lại kiếm tìm các lãnh-đạo khác hầu lập mưu chống lại tổ-phụ Môsê ngay thôi (Dân số 12).

Các sử-gia dưới triều vua Đavít là những người viết ra trình-thuật Giavê, đã nắm chắc rằng: không có quyền-bính đối địch nào dám chống lại quyền-uy sức mạnh do Chúa tuyển vị lãnh-đạo chính-trị theo phương-cách ấy. Lập nhóm phản-chống nhà vua hoặc ai khác trong hoàng-tộc, tức là: mưu-toan chống Chúa rồi.

Quả thật, chúng dân ai muốn gia-nhập tương-quan giao-ước với Chúa, thì họ chỉ có thể làm được việc này bằng cách trở-thành thành-phần dân nước, qua đó Chúa thiết-lập khế-ước với các lãnh-đạo thống-lĩnh dân nước ấy. Muốn gần cận Thiên-Chúa để sẻ-san mặc-khải đích-thực của Ngài, việc này đòi dân-gian mọi người kết-hợp với hệ-cấp thánh-thiêng đã thiết-lập, từ đó Thiên Chúa mới kéo họ gần với dân con của Ngài.

Quan-điểm này, được sử-dụng suốt nhiều thế-kỷ, sau này lại củng-cố lập-trường của ông Phaolô chống-báng các nhóm phản-loạn (Rôma 13), nhằm hỗ-trợ cho thể-chế quân-chủ và dựng xây các giáo-hội khác theo hệ-cấp tương-tự như Công giáo, xét tổng thể. Theo hệ thần-học này, thì Thiên Chúa chuyện trò với dân-gian mọi người, Ngài chỉ làm thế ngang qua đấng bậc được tấn phong, cách riêng Đức Giáo Hoàng của Công giáo La Mã, thôi.

Phe nhóm phản-loạn, các đoàn cách-mạng hoặc phong-trào cải-tân này/khác đều đơn giản là việc làm sai quấy nếu Chúa định-vị với giới cầm quyền. Đó là quan-điểm của Giêrusalem như đã diễn-tả ở tài-liệu xuất-hiện trước khi có Thánh kinh. Trình-thuật của nhóm/đoàn theo phò Đức Giavê, còn gọi là Thi Sử của Do-thái-giáo, là khuynh-hướng đầu đời tạo chất-liệu cho các thời-kỳ trước Thánh kinh.

Trình-thuật thứ hai, lại đã đẩy lùi năm tháng ngày giờ ở Kinh thánh khi xưa với danh-xưng là Tài-liệu của nhóm Êlôhít, bởi nó qui về Chúa dưới tên gọi là Êlôhim. Thông thường, thì thời-điểm định-vị ở đây xuất-hiện quanh thập-kỷ 750 trước Công-nguyên vốn được tác-tạo như lịch-sử thánh của Israel ở vương-quốc nằm về phía Bắc quanh thủ-phủ Samaria.

Vương-quốc phía Bắc tách khỏi Giuđa khi dân-gian vùng này thành-công trong việc nổi lên chống-báng hoàng-gia Đavít vào những tháng ngày cuối thế kỷ thứ 10 trước Công nguyên. Giêrôbôam, tên tuổi chói-ngời của vị thủ-lãnh đám binh-bị lại đã yêu cầu vị vua trẻ Rêhôbôam là cháu nội của Đavit thành thân với Bátsêba là: hãy tra tay canh-cải đất nước (1Vua 12: 3-5). Chờ mãi đến khi biết được là cuộc cải-tân này không hề xảy đến, thì chính ông lại dẫn-dắt cuộc tổng nổi-loạn vốn kết-thúc bằng việc chia cắt vương-quốc này thành đất nước Israel ở phía Bắc và nước Giuđa ở mạn Nam.               

Giêrôbôam được tôn làm vua ở vương-quốc phía Bắc. Và, vào thời các vị khởi công xây dựng thủ-phủ Samaria, nơi này lại đã trở-thành thủ-phủ mới đối đầu với Giêrusalem (1Vua 16: 24).

Kế đến, vua Giêrôbôam được chúng-dân tạo thêm sức mạnh cho ông để thách-thức quyền-uy thế-lực được thẩm-quyền hoàng-gia tác tạo theo cách thánh-thiêng. Thế nên, ở mạn Bắc vương quốc này, hoàng-tộc cũng không được thiết-lập theo cách thánh thiêng; không một đền thờ nào được xây dựng cận kề khu cung-điện mà mọi người coi đó như biểu-trưng chứng tỏ sự hiện diện của Thiên-Chúa ở đó.

Bởi, chúng dân đã chọn lựa và tang-lực cho đức vua, nên ông đã trở-thành quốc-vương theo hiến-pháp, tức đấng bậc vừa lòng dân luôn có nguy-cơ bị lật đổ. Công tác của vua cha an-toàn ở mạn Bắc vương-quốc chẳng bao giờ mang tính cao cả và giòng dõi hoàng-tộc không mấy phát-triển cách an-toàn.

Giòng sử-liệu của vương quốc ở mạn Bắc đã trổi-bật từ kinh-nghiệm này; rồi từ đó mới đâm chồi triển-nở một số giá-trị mới về xã-hội và cũng thay đổi nhiều bản văn do các vị từng chủ-trương phục-tùng Đức Giavê kiến tạo mà thành. Dân con mọi người, nay nhớ lại các sự-kiện xảy ra trên núi Si-nai theo cách khác với những gì được dân-gian mọi người sống ở xứ miền Giuđa hồi-tưởng lại. Người chủ-trương tôn-sùng Đấng Êlôhim tin tưởng rằng Thiên-Chúa đã lập giao-ước với toàn-bộ đất nước chứ không chỉ với nhóm lãnh-đạo mà thôi.           

Khi ấy, dân con mọi người đã chọn ông Môsê và ông Aarôn làm đại diện cho họ trước mặt Thiên Chúa. Kể từ đó, các lãnh-tụ mới có được quyền-uy sức mạnh từ chúng dân, chứ không do Thiên Chúa phú ban. Còn, các đấng bậc được phú ban quyền-uy thế-lực lại cũng dễ dàng trở-thành những kẻ bị truất-phế mất đi mọi quyền-uy sức mạnh đã phú ban. Cuộc nổi-loạn chống lại các lãnh-tụ không được hiểu là hành-động chống lại Thiên Chúa. Truyền-thống Êlôhim không chỉ là nguồn mạch tạo tiến-trình dân-chủ vốn dĩ là quyền-uy/sức mạnh phú-ban cho người dân đi bầu nhưng còn là ý nghĩa của thuyết tập-đoàn Thệ-Phản.

Đây là khởi-đầu rất sớm của ngành “tư-tế với kẻ tin”, một truyền-thống vốn chối bỏ mọi quyết-định cũng như tuyên-bố chấp-nhận hệ-cấp bên trong Giáo-hội hoặc các thể-chế chính-trị qua việc vương quốc mạn Bắc vẫn coi tổ-phụ Giuse như tiên-tổ đầu đời của mình. Ông Giuse được tô-điểm chân-dung theo truyền-thống dân-gian như người con được mến chuộng, thế nên tổ-phụ Giacóp mới phú ban mọi quà tặng và quan-tâm đến cả lớp vỏ bọc đầy màu sắc. Thân-mẫu ông Giuse được mô-tả là người vợ hiền thương mến nhất của ông Giacóp.

Các tài-liệu của nhóm Êlôhim là trình-thuật chính-trị và xã-hội, mang chủ-đích tán-dương bậc tiên-tổ của những vị từng viết lên câu truyện kể và triển-khai ý-nghĩa lịch-sử khác-biệt; đôi lúc lại được coi là trường-thiên truyện thánh của chúng-dân thuộc vương-quốc ở mạn Bắc. Trình-thuật của nhóm Êlôhít lại được coi như một thứ thiên-hùng-ca của Do-thái-giáo, là như thế.

(tiếp theo)


Lm Kevin O’Shea, DCCT biên soạn
Mai Tá lược dịch