Wednesday, 5 September 2012

THẦY LÀ ĐẤNG KITÔ Bài Tin Mừng hôm nay ( Mc 8, 27 – 35 ) gồm ba phần: ( a ) lời tuyên xưng của ông Phêrô: cc. 27 – 30; ( b ) số phận Con Người: cc. 31 – 33; ( c ) điều kiện để đi theo Đức Giêsu: cc. 34 – 35. Trong bài suy niệm này, chúng ta sẽ chỉ đọc hai phần đầu. “Đức Giêsu và các môn đệ của Người đi tới các làng xã vùng Xêdarê Philípphê. Dọc đường, Người hỏi các môn đệ: "Người ta nói Thầy là ai ?" Các ông đáp: "Họ bảo Thầy là ông Gioan Tẩy Giả, có kẻ thì bảo là ông Êlia, kẻ khác lại cho là một ngôn sứ nào đó" ( cc. 27 – 28 ). Trước đây, tại 6, 14 – 15, khi nói về ông Hêrôđê và Đức Giêsu, tác giả Mc đã từng nêu ra những ý kiến của dân chúng về bản thân Đức Giêsu: “Vua Hêrôđê nghe biết về Đức Giêsu, vì Người đã nổi danh. Có kẻ nói: "Đó là ông Gioan Tẩy Giả từ cõi chết trỗi dậy, nên mới có quyền năng làm phép lạ." Kẻ khác nói: "Đó là ông Êlia." Kẻ khác nữa lại nói: "Đó là một ngôn sứ như một trong các ngôn sứ”. Theo tường thuật của các môn đệ, ý kiến của dân chúng về Đức Giêsu trong bài Tin Mừng hôm nay không khác, nếu không nói là khá trùng khớp, với những ý kiến đã được nói với Hêrôđê trước đây. Điều này cho thấy đã không hề có sự tiến triển gì trong nhận thức của dân chúng, cho dù Đức Giêsu đã giảng dạy nhiều và đã thực hiện thêm nhiều dấu lạ. Dân chúng vẫn chưa nhận ra Đức Giêsu chính là Đấng Mêsia/Kitô. Dân chúng vẫn chỉ nhận thấy nơi con người, sứ điệp và hành động của Đức Giêsu một hình ảnh ngôn sứ mà thôi. Trong hình ảnh Gioan, dù sao, vẫn có một yếu tố tích cực so với trước kia, vì người ta đã không nối kết vào đây chi tiết “từ cõi chết trỗi dậy” như trong 6, 14 để giải thích về quyền năng làm phép lạ của Đức Giêsu. Việc đồng hóa Đức Giêsu với ông Êlia tiền giả định một cách hiểu, theo đó, Đức Giêsu đang thực hiện việc chuẩn bị cho sự xuất hiện Đấng Mêsia đang được mong đợi. Ý kiến này không thay đổi gì so với ở Mc 6, 15. Trong 6, 15 có ý kiến cho rằng Đức Giêsu là “một ngôn sứ như một trong các ngôn sứ”, tức là một mắt xích trong chuỗi dài các ngôn sứ. Bây giờ, tại 8, 28, Đức Giêsu được coi là một ngôn sứ nào đó và được đặt song song với ông Gioan đã chết và với ông Êlia đã được cất lên Trời. Điều này cho thấy người ta hiểu Đức Giêsu là một Ngôn Sứ quá khứ đã sống lại. Như vậy, trong cái nhìn của dân chúng, Đức Giêsu là một Ngôn Sứ, tức là một vị được Thiên Chúa sai đến, một nhân vật đặc biệt, nhưng vẫn là một con người của quá khứ. Cùng lắm thì Người cũng chỉ có thể là một nhà cải cách các thiết chế đương thời, chứ chưa phải là Đấng Mêsia được mong chờ. Nói cách chung, dân chúng chưa nhận thấy sự mới mẻ trong sứ điệp và hoạt động của Đức Giêsu. Thật ra, Người không phải là một nhà cải cách, mà là Đấng đưa người ta đến thực tại hoàn toàn khác với những lý tưởng Do Thái và hoàn toàn khác với mọi cách suy tưởng của nhân loại. Người Do Thái sẽ chẳng thể tìm thấy nơi sứ điệp của Đức Giêsu bất cứ sự ủng hộ nào cho quan điểm đề cao Do Thái của họ. Sở dĩ dân chúng chưa nhận ra tư cách Mêsia đặc biệt của Đức Giêsu, là vì vẫn còn đó trong tâm trí họ một chướng ngại vật rất lớn. Đó là lý tưởng Do Thái, chờ đợi một vị Mêsia hiển thắng, phô trương, vinh quang, đầy sức mạnh, thi hành bạo lực nhằm đem lại chiến thắng cho dân tộc Do Thái và đè bẹp các dân tộc kẻ thù của Do Thái... Dân chúng vẫn mong chờ một vị vua trần thế hùng mạnh và vẫn chỉ mong được ở lại trong khung cảnh văn hóa Do Thái của họ. Đức Giêsu đã không hề đáp ứng những khát vọng và lý tưởng đó của dân chúng. Nhưng dù sao, vẫn cần ghi nhận một sự khác biệt rất quan trọng trong ý kiến của dân chúng về Đức Giêsu, so với ý kiến của các kinh sư và của lập trường chính thức của Do Thái Giáo về Người. Trong cái nhìn của những người lãnh đạo Do Thái đương thời, Đức Giêsu là một kẻ thù của Thiên Chúa, một khí cụ của Bêeldêbul ( Mc 3, 23 ). Trái lại, dân chúng coi Đức Giêsu là một ngôn sứ, một vị do Thiên Chúa sai đến. Xem ra càng bị kềm tỏa bởi học thuyết chính thống của Do Thái giáo đương thời, người ta càng khó nhận biết căn tính đích thật của Đức Giêsu. “Người lại hỏi các môn đệ: "Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai ?" ( c. 29a ). Đức Giêu tách các môn đệ khỏi đám đông dân chúng. Người hỏi về lập trường và nhận thức của chính bản thân các ông, khác biệt với đám đông dân chúng. Bởi vì các ông đã tin vào Người, đã đi với Người, đã gắn bó với Người và với sứ điệp Tin Mừng của Người. Người chờ đợi nơi các ông một câu trả lời khác và đúng hơn, so với các ý kiến của đám đông dân chúng. Các ông phải nhận thức khác với tất cả những người bên ngoài nhóm đồ đệ. Các ông phải nhận biết về Người một cách sâu xa và thực chất hơn đám đông ngoài kia. Và nhận thức này, thật ra, phải là kết quả tiệm tiến của cả một quá trình dài sống với Người. Cần nhớ rằng khi cất lời kêu gọi các ông theo Người ( x. 1, 16 – 20; 2, 13 – 14 ), Đức Giêsu đã không hề đưa ra bất cứ danh xưng hay tước hiệu gì để tự giới thiệu về mình, một chỉ bảo các ông: “Các anh hãy theo tôi !” “Ông Phêrô trả lời: "Thầy là Đấng Kitô" ( c. 29b ). Ông Phêrô đại diện cho tất cả anh em mà trả lời. Ông nói lên cái ý tưởng của cả nhóm về sứ mạng Đức Giêsu đang thực hiện, như các ông đang được chứng kiến và trải nghiệm. Để hiểu quan niệm của ông Phêrô được chuyển tải trong câu trả lời này, chúng ta cần phải chú ý cách viết của tác giả Máccô. Đây là lần thứ hai xuất hiện tước hiệu “Kitô” trong Tin Mừng theo Thánh Máccô. Lần thứ nhất là trong Mc 1, 1: “Khởi đầu Tin Mừng Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa”. Có hai sự khác biệt giữa câu trả lời của ông Phêrô trong 8, 29b và ý tưởng của tác giả Mc được trình bày trong 1, 1: ( a ) Phêrô không nói “Con Thiên Chúa” như ở 1, 1; ( b ) Phêrô sử dụng mạo từ trước hạn từ “Kitô”, còn ở 1, 1 thì không. Trong Tin Mừng theo Thánh Máccô, tác giả có hai cách dùng khác nhau hạn từ “Kitô”. Ở Mc 1, 1 ( tiêu đề của sách Tin Mừng ) và Mc 9, 41 ( Đức Giêsu nói về chính bản thân Người ), tác giả không đặt mạo từ trước hạn từ “Kitô”. Ở Mc 8, 29 ( lời tuyên xưng của ông Phêrô mà chúng ta đang phân tích ); Mc 12, 35 và 13, 21 ( Đức Giêsu nói về Đấng Kitô theo quan điểm truyền thống ); Mc 14, 61 ( thầy thượng tế hỏi Đức Giêsu ); Mc 15, 32 ( các kinh sư cười nhạo Đức Giêsu đang bị đóng đinh ), tác giả sử dụng mạo từ trước hạn từ “Kitô”. Như thế, khi được sử dụng với mạo từ, tước hiệu “Kitô” trong Máccô quy chiếu về quan niệm truyền thống Do Thái mà Đức Giêsu từ khước hoặc không hoàn toàn đồng ý. Khi đặt mạo từ trước tước hiệu “Kitô” trong câu trả lời của ông Phêrô trong bài Tin Mừng hôm nay, có lẽ tác giả Mc ngầm cho thấy: thực ra, ông Phêrô và các môn đệ khác, vào lúc này, vẫn chưa hiểu đúng về căn tính Đức Giêsu. Về căn bản, lời tuyên xưng của ông Phêrô đã là một bước tiến lớn so với quan điểm của dân chúng được các môn đệ tường thuật lại. Tuy nhiên, đây vẫn chưa phải là một lời tuyên xưng thích hợp và đúng đắn, vì vẫn chưa thoát khỏi lý tưởng Do Thái giáo chính thống đương thời, tức là vẫn còn bao hàm trong đó niềm hy vọng Đức Giêsu sẽ làm vua Israel, chiến thắng dân ngoại và tái lập vinh quang cho quốc gia Do Thái. Vì thế, vừa khi nghe lời tuyên xưng của ông Phêrô thay mặt cho cả nhóm anh em, “Đức Giêsu liền cấm ngặt các ông không được nói với ai về Người” ( c. 30 ). Người chưa chấp nhận lời tuyên xưng của ông Phêrô, đơn giản là vì nó chưa chính xác. Người “cấm ngặt” ( epitimaô ) các ông nói về Người. Động từ “epitimaô” này, một khi được tác giả Mc đặt trên miệng Đức Giêsu, thì luôn ở trong sự quy chiếu về thế lực xấu: Mc 1, 25; 3, 12; 4, 39. Khi sử dụng động từ này ở đây, có lẽ tác giả Máccô muốn cho thấy rằng câu trả lời của ông Phêrô, vì vẫn nằm trong phạm vi lý tưởng Do Thái, nên vẫn thuộc về tinh thần thế gian, đối nghịch với Thần Khí của Thiên Chúa. Tình cảnh, như vậy, cũng gần giống ở Mc 1, 24 và 3, 11 – 12. Trong cả ba trường hợp, sau một lời tuyên xưng về Đức Giêsu ( 1, 24: “Đấng Thánh của Thiên Chúa”; 3, 11: “Con Thiên Chúa”; 8, 29: “Đấng Kitô” ) là một lệnh truyền của chính Đức Giêsu, cấm ngặt việc nói về Người; và tác giả sử dụng động từ epitimaô ở cả ba trường hợp ( 1, 25; 3, 12; 8, 30 ). Tất nhiên là cũng có sự khác biệt: trong hai trường hợp đầu, lời tuyên xưng xảy đến ngược với ý muốn của Đức Giêsu, còn trong trường hợp câu trả lời của ông Phêrô, lời tuyên xưng được nói ra theo đề nghị của chính bản thân Người. Dù sao, Đức Giêsu vẫn phải cấm ngặt các môn đệ phổ biến quan niệm chưa chính xác của họ về Người. Việc cần thiết lúc này là các ông phải có một quan niệm đúng về Đấng Kitô. “Rồi Người bắt đầu dạy cho các ông biết Con Người phải chịu đau khổ nhiều, bị các kỳ mục, thượng tế cùng kinh sư loại bỏ, bị giết chết và sau ba ngày, sống lại” ( c. 31 ). Đức Giêsu bắt đầu điều chỉnh những yếu tố không đúng đắn trong quan niệm của các môn đệ về Đấng Kitô mà ông Phêrô vừa thưa với Người nhân danh tất cả nhóm. Người đặt ra trước mắt các ông không phải là một hình ảnh Đấng Mêsia vinh quang và hiển thắng như lý tưởng Do Thái Giáo vẫn kỳ vọng. Thay vào đó là mộ số phận đau khổ cùng tận trước khi được tôn vinh trong sự sống lại. Số phận này hoàn toàn đối nghịch với những gì ông Phêrô hiểu khi tuyên xưng Đức Giêsu là Đấng Kitô. Nội dung lời giảng dạy của Đức Giêsu về số phận của Con Người, gồm hai phần: “phải chịu đau khổ nhiều” và “sống lại sau ba ngày”. Phần thứ nhất được xác định rõ hơn với hai yếu tố: bị loại trừ và bị giết chết. Con người và hoạt động của Đức Giêsu sẽ bị thẩm quyền chính thức và tối cao của Do Thái loại trừ và tiêu diệt. Sự loại trừ và tiêu diệt đó sẽ mang tính cách chính thức và công cộng. Nhưng Người sẽ sống lại sau ba ngày. “Ba ngày” trước hết không phải là một dữ kiện thời gian chính xác, mà có một ý nghĩa thần học. Dữ kiện này một đàng ám chỉ Xh 19, 11.16 ( nói về cuộc thần hiện của Đức Chúa trên núi Sinai ), đàng khác, ám chỉ Hs 6, 2 ( loan báo hành động chung cục của Thiên Chúa ). Hơn nữa, trong văn hóa Do Thái, người ta cho rằng cái chết chỉ thực sự đóng ấn chiến thắng của mình sau ba ngày. “Sống lại sau ba ngày”, như thế, có nghĩa là sự sống đã chưa hề bị khuất phục bởi cái chết, trái lại, đã chiến thắng cái chết. “Người nói rõ điều đó, không úp mở” ( c. 32a ). Thực tế, Đức Giêsu đã bắt đầu cuộc hành trình lên Giêrusalem, và ở đó, các biến cố mang tính quyết định nói trên sẽ xảy ra. Người phải nói rõ cho các môn đệ về tính chất nghiệm trọng của tình cảnh để họ hiểu Người đang đưa những kẻ theo Người đi đâu. Người phải cho họ thấy rõ ràng sự từ khước và tiêu diệt Người sẽ đến từ thẩm quyền tối cao và chính thức của Do Thái giáo, tức là những lý tưởng Do Thái chính thức đương thời và những lý tưởng Tin Mừng của Đức Giêsu đối nghịch nhau gay gắt tận căn. Và đây chính là thời điẻm quyết định. Nếu các môn đệ tiếp tục đi theo Đức Giêsu, họ phải chấp nhận đi vào cuộc đối đầu không khoan nhượng đó, phải từ khước hoàn toàn những lý tưởng trần tục và đắc thắng của Do Thái giáo đương thời, và phải sẵn sàng tham dự vào số phận của Đức Giêsu. “Ông Phêrô liền kéo riêng Người ra và bắt đầu trách Người” ( c. 32b ). Ông Phêrô, như chúng ta đã nói trên kia, vẫn mang nơi mình lý tưởng Do Thái, ngay cả khi tuyên xưng Đức Giêsu là Đấng Kitô. Ông tách Người riêng ra khỏi nhóm với ý định gây ảnh hưởng trên Người và làm cho Người thay đổi lập trường. Ông đã không hiểu đúng ý nghĩa cái chết mà Đức Giêsu sắp trải qua, vì ông chỉ thấy đó là một thất bại: của Đức Giêsu và của chính lý tưởng Mêsia mà ông đang ôm ấp trong lòng. Vấn đề không chỉ là sự hiểu sai của ông Phêrô. Ta có thể thấy: ông Phêrô hành xử với Đức Giêsu như thể một người bề trên hành xử đối với kẻ bề dưới của mình. Hơn nữa, ông “trách” Người. Động từ “trách” này rất đáng chú ý: dịch sát là “cấm ngặt” ( epitimaô ), cũng một động từ tương tự như khi Đức Giêsu cấm ngặt các môn đệ ở c. 30. Trên kia, chúng ta đã nói đến sắc thái nghĩa đặc biệt của động từ epitimaô trong Tin Mừng theo Thánh Máccô. Khi làm hành động “epitimaô” này đối với Đức Giêsu, ông Phêrô đang hiểu rằng một khi chấp nhận số phận bi đát như được nói ở c. 31, là Đức Giêsu đang ở vào vị trí đối nghịch với Thiên Chúa và chương trình của Người. Ông cho rằng chính ông, chứ không phải Đức Giêsu, mới biết đâu là chương trình của Thiên Chúa. Không chấp nhận ý định của ông Phêrô tách riêng Người ra, Đức Giêsu hướng về nhóm các môn đệ. Vậy “khi Đức Giêsu quay lại, nhìn thấy các môn đệ, Người trách ông Phêrô: "Satan ! lui lại đàng sau Thầy ! Vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người" ( c. 33 ). Một lần nữa, xuất hiện động từ “epitimaô” ( trách/cấm ngặt/ngăn cản ). Sắc thái nghĩa tiêu cực của động từ này càng được tô đậm khi Đức Giêsu gọi ông Phêrô là Satan. Ngược với những gì ông Phêrô đang nghĩ, chính khi từ chối số phận bị loại trừ của Con Người mà đi theo những lý tưởng Do Thái chính thức đương thời, ông Phêrô đang hành động theo tư trưởng của loài người và của Satan, chứ không phải là của Thiên Chúa. Chúng ta không biết phản ứng của ông Phêrô và các môn đệ khác trước phản ứng mạnh mẽ và quyết liệt này của Đức Giêsu. Các ông nhận ra sai lầm trầm trọng của mình ? Các ông hối hận ? Hay các ông vẫn tiếp tục ương ngạnh trong lập trường sai lạc ? Tác giả Máccô không nói gì tường minh về những điều đó. Gợi ý suy niệm 1. Sở dĩ dân chúng chưa nhận ra tư cách Mêsia đặc biệt của Đức Giêsu, là vì vẫn còn đó trong tâm trí họ một chướng ngại vật rất lớn. Đó là lý tưởng về một vị Mêsia hiển thắng, phô trương, vinh quang, đầy sức mạnh, thi hành bạo lực nhằm đem lại chiến thắng cho họ và đè bẹp các dân tộc kẻ thù... Đó có thể cũng là chuyện của chính chúng ta hôm nay. 2. Ông Phêrô tuyên xưng Đức Giêsu là Đấng Kitô, nhưng lại hiểu sai nội dung của tước hiệu Kitô. Chúng ta cũng có thể giống ông: hiểu sai những công thức tuyên xưng Đức Tin. Tuyên xưng ngoài miệng một công thức thôi, chưa đủ. Cần phải hiểu đúng và sống hết mình cho Lòng Tin mà mình tuyên xưng. Lm. Giuse NGUYỄN THỂ HIỆN, DCCT

Tuesday, 4 September 2012

Lm Nguyễn Thể Hiện CSsR: ĐIỀU GÌ LÀM CHO NGƯỜI TA RA Ô UẾ ?



Khi ấy, “có những người Pharisêu và một số kinh sư tụ họp quanh Đức Giêsu. Họ là những người từ Giêrusalem đến. Họ thấy vài môn đệ của Người dùng bữa mà tay còn ô uế, nghĩa là chưa rửa” ( cc. 1-2 ).
Đối với những người Pharisêu và các kinh sư, có những con người và những sự vật mà việc tiếp xúc với họ sẽ làm cho người Hipri ra nhơ uế. Người ngoại và những thứ thuộc về họ hoặc họ đã đụng vào, bị coi là một nguồn nhơ uế, tức là việc tiếp xúc với người ngoại hoặc với các sự vật đó bị coi là sẽ làm cho người Hípri ra nhơ uế. Nhưng hơn nữa, ngay cả những người Hípri không tuân giữ Luật một cách nghiêm chỉnh cũng bị coi là “nhơ uế”, như thể họ không thuộc về Dân Thánh Israel, và như vậy họ chẳng khác gì dân ngoại. Tiếp xúc với những người ấy là liều lĩnh đi vào phạm vi của những điều nhơ uế và liều lĩnh để cho mình có thể bị loại khỏi dân của Giao Ước Thánh. Vì thế, “dùng bữa mà tay ô uế, nghĩa là chưa rửa” thì cũng có nghĩa là không bận tâm đến mối nguy hiểm đó trước khi thực hiện một hành vi thánh ( vì bữa ăn được bắt đầu bằng một lời chúc tụng nên được các kinh sư coi là một điều thuộc phạm vi thánh ). Việc rửa tay theo nghi lễ ( chứ không phải vấn đề vệ sinh ) là một điều buộc để người ta có thể chắc chắn mình không ở trong trạng thái ô uế, nhưng là đang thanh sạch trong Dân đã được thánh hiến.
 Như thế, với việc không cử hành nghi thức rửa tay trước khi dùng bữa, một vài môn đệ Đức Giêsu đang hành xử như thể họ chẳng coi việc tiếp xúc với những người Hípri không giữ Luật là việc có thể làm cho họ ra nhơ uế. Họ cho thấy sự phân biệt của các kinh sư và người Pharisêu về các loại người trong nội bộ Dân Thánh tùy theo việc người ta giữ Luật hay không, là một sự phân biệt không đúng đắn, không đáng tôn trọng. Và điều này khiến cho các kinh sư và người Pharisêu lo lắng.
Để giải thích rõ hơn lập trường của các kinh sư và người Pharisêu, tác giả Máccô ghi thêm: “Thật vậy, người Pharisêu cũng như mọi người Do Thái đều nắm giữ truyền thống của tiền nhân: họ không ăn gì, khi chưa rửa tay cẩn thận; thức gì mua ngoài chợ về, cũng phải rảy nước đã rồi mới ăn; họ còn giữ nhiều tập tục khác nữa như rửa chén bát, bình lọ và các đồ đồng” ( cc. 3-4 ). Sau khi rửa tay, họ còn phải thanh tẩy cả những thức mua ngoài chợ về, vì những thức ấy đã có thể bị chạm vào những người hoặc vật không thanh sạch.
Cuối cùng, thậm chí ngay cả những thứ dụng cụ trong nhà bếp như chén bát, bình lọ và các thứ nồi niêu bằng đồng, vốn chẳng bị những người khác chạm vào, họ cũng phải thực hiện nghi thức rửa. Chi tiết này cho thấy sự sợ hãi, sự bối rối và sự vụn vặt đến cực độ của họ trong việc tuân giữ những quy định của tiền nhân. Nói chung, họ cẩn thận áp dụng các biện pháp phòng ngừa trong tất cả những thứ liên quan đến việc ăn uống, vì trong việc ăn uống, thế giới bên ngoài được đưa vào bên trong con người, mà đối với họ, thế giới ấy là xấu xa. Truyền thống không cho phép họ tự do trong liên hệ với thế giới.
Chính trong khung cảnh tư tưởng và thực hành như thế, các kinh sư và người Pharisêu phản ứng trước sự kiện một số môn đệ Đức Giêsu không thực hiện nghi thức rửa tay trước khi ăn. “Vậy, người Pharisêu và kinh sư hỏi Đức Giêsu: "Sao các môn đệ của ông không theo truyền thống của tiền nhân, cứ để tay ô uế mà dùng bữa ?" ( c. 5 ). Trong cái nhìn của họ, các môn đệ Đức Giêsu đã không kính trọng sự phân biệt giữa sự thánh thiêng và sự phàm tục, vốn là nền tảng của tôn giáo Do Thái. Các kinh sư và người Pharisêu chất vấn Đức Giêsu, vì họ cho rằng các môn đệ hành xử như thế là do lỗi của Đức Giêsu: Người đã chẳng dạy cho họ biết sự khác biệt đó, thậm chí đã chẳng dạy cho họ biết rằng sự gần gũi và sự thuộc về Thiên Chúa đòi hỏi những điều kiện đặc biệt, chứ không thể là chuyện xập xí xập ngầu thế nào cũng được.
Thật ra, khi “cứ để tay ô uế mà dùng bữa”, các môn đệ cho thấy họ không nghĩ rằng việc tiếp xúc với những con người hoặc sự vật của cuộc sống thường nhật lại là lý do của sự không thanh sạch. Như thế, họ không chấp nhận sự loại trừ về mặt tôn giáo trong nội bộ Israel, và không chấp nhận lập trường cho rằng để đến gần Thiên Chúa người ta cần phải thực hành cả một đống những quy định chi ly và mang tính phòng ngừa đến mức vụn vặt. Thái độ này khiến cho những người Phariêsu lo lắng và bực mình, vì họ luôn coi việc tuân giữ ( đến mức chi li ) Luật thành văn và truyền khẩu, là điều kiện cần thiết để người ta được thuộc về “dân thánh”.
Cách hành xử đó của các môn đệ, sâu xa ra, đã phản ánh một khía cạnh quan trọng trong sứ điệp mà Đức Giêsu đang công bố, ví dụ trong việc chữa lành người phong cùi ( 1, 40-45; x. bài suy niệm Tin Mừng Chúa Nhật VI Thường Niên, ngày 26/2/2012 ). Trong hành động chữa lành người phong cùi đó, Đức Giêsu đã khẳng định rằng ngay cả những người phong cùi ( vốn là điển hình của những người bị gạt ra bên lề Israel của Do Thái giáo ) cũng là đối tượng của tình yêu nhân lành của Thiên Chúa. Thiên Chúa đón nhận con người không phải vì anh ta thanh sạch.
Trái lại, bởi vì Thiên Chúa đón nhận anh ta cho nên anh ta mới được thanh sạch. Vì thế, chính lúc người phong hủi được trải nghiệm rằng Thiên Chúa chấp nhận anh như anh là, thì chứng phong hủi biến mất khỏi anh. Hóa ra, sự gạt bỏ người phong hủi ra bên lề cộng đồng là chuyện của các thiết chế tôn giáo và xã hội, chứ không phải là điều do Thiên Chúa muốn, nhưng lại bị gán cho Thiên Chúa ! Thiên Chúa không phải là Thiên Chúa của sự kỳ thị hay phân biệt thanh sạch – nhơ uế, một trong những sự phân biệt và kỳ thị đặc trưng của Do Thái giáo. Đức Giêsu phá bỏ quan niệm sai lạc đó và Thiên Chúa ( x. 1, 45-3, 7a ).
Một số môn đệ đã “thấm” lập trường đó của Đức Giêsu. Họ không coi việc tiếp xúc với đám dân “phàm phu tục tử” là điều có thể làm cho họ ra phàm tục, càng không thể làm cho họ ra ô uế. Và đó chính là bước đầu tiên buộc phải vượt qua trong hành trình yêu mến con người !
Khi dựng lên hàng đống những rào cản và sự phân biệt, các kinh sư và người Pharisêu đang hành xử theo hướng ngược lại với Tình Yêu nhân lành phổ quát của Thiên Chúa. Càng nhấn mạnh sự khác biệt của họ bằng các nghi thức tẩy rửa, họ càng xa cách Thiên Chúa ! “Đức Giêsu trả lời họ: "Ngôn sứ Isaia thật đã nói tiên tri rất đúng về các ông là những kẻ đạo đức giả, khi viết rằng: Dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta. Chúng có thờ phượng Ta thì cũng vô ích, vì giáo lý chúng giảng dạy chỉ là giới luật phàm nhân. Các ông gạt bỏ điều răn của Thiên Chúa, mà duy trì truyền thống của người phàm" ( cc. 6-8 ).
Trước hết, Đức Giêsu trích lời Ngôn Sứ Isaia để cho thấy tính chất giả hình trong phản ứng của các kinh sư và người Pharisêu. Họ luôn miệng nói về lòng trung thành đối với Thiên Chúa, nhưng tâm thế và cách hành xử của họ thì không như vậy. Họ coi thường những người không đi theo lời giải thích Luật do họ đưa ra; họ từ khước tiếp xúc với phần đông dân chúng và với những người ngoại. Với tâm thế và cách hành xử như thế, họ ở xa Thiên Chúa giàu lòng thương xót và họ đối nghịch với lệnh truyền yêu thương người thân cận như chính mình trong Lv 19, 18. Những thực hành tôn giáo của họ thành ra không giá trị, vì những điều họ đề nghị thực hành để tôn kính Thiên Chúa thì lại không phải là những điều Thiên Chúa muốn.
Sau khi trích dẫn lời Ngôn Sứ, Đức Giêsu đưa ra lời phê phán của chính bản thân Người, rằng họ đã gạt bỏ lệnh truyền của Thiên Chúa và thay vào đó là những truyền thống của người phàm.
Trước tiên, Đức Giêsu phế bỏ giá trị của cái mà họ gọi là truyền thống. Các kinh sư và người Pharisêu coi những truyền thống đó có thẩm quyền thần linh. Đức Giêsu chỉ coi chúng là chuyện của người phàm, tức là không có nguồn gốc và thẩm quyền thần linh. Thay vào chỗ “truyền thống của tiền nhân” vốn được coi là có giá trị ngang với Luật, Đức Giêsu xác định đó là “truyền thống phàm nhân”.
Đàng khác, khi coi những truyền thống của dân Israel là những truyền thống phàm nhân, Đức Giêsu đã gộp chung Israel vào với phần còn lại của cả và nhân loại. Thực hiện chi li những truyền thống tiền nhân, các kinh sư và người Pharisêu cố gắng tách mình khỏi phần còn lại của thế giới và ngay cả khỏi phần đông dân chúng Do Thái không tuân giữ Luật Lệ. Nhưng thật ra, họ cũng chỉ đang thực hiện những lề thói phàm nhân, chứ không phải lệnh truyền của Thiên Chúa.
Như vậy, Đức Giêsu đã bác bỏ tầm quan trọng của truyền thống và loại bỏ nền tảng thần học của cách hành xử của các kinh sư và người Pharisêu. Đây quả thực là một lời phê phán rất nặng nề.
Sau khi phê phán cách hành xử của họ, Đức Giêsu đưa ra nguyên tắc của chính Người, đối lập với đạo lý mà các kinh sư và người Pharisêu giảng dạy và thực hành. Tác giả Tin Mừng viết: “Sau đó, Đức Giêsu lại gọi đám đông tới mà bảo: "Xin mọi người nghe tôi nói đây, và hiểu cho rõ: Không có cái gì từ bên ngoài vào trong con người lại có thể làm cho con người ra ô uế được; nhưng chính cái từ con người xuất ra, là cái làm cho con người ra ô uế” ( cc. 14-15 ).
Các kinh sư và người Pharisêu chưa nói đến thức ăn không thanh sạch, mà chỉ mới nói đến cách ăn “nhơ uế” của các môn đệ. Đức Giêsu đi xa hơn. Người nói đến chính thức ăn, và như thế, sự phê phán không chỉ dừng lại ở các truyền thống truyền khẩu, mà lên đến chính bản văn Luật trong Cựu Ước.
Đức Giêsu bắt đầu từ chính sự đồng hóa của những người Pharisêu giữa cái phàm trần và cái nhơ uế. Người phủ nhận giá trị của nguyên tắc phân biệt thanh sạch – nhơ uế trong hệ thống tôn giáo của họ. Trong ngôn ngữ tôn giáo, cái “phàm tục” là cái ở bên ngoài phạm vi thần linh, hoặc cái ở xa Thiên Chúa, không được Thiên Chúa lưu tâm, nhưng được phó mặc cho sự tùy tiện hành xử của con người. Những người Pharisêu coi tất cả những thứ không thuộc Israel, và ngay cả những người Israel không giữ Luật, là những thứ thuộc về phạm trù cái phàm tục.
Đức Giêsu đưa ra một nguyên tắc mới khi khẳng định rằng điều làm cho người ta xa cách Thiên Chúa không phải là cái gì từ bên ngoài. Con người không hề bị đẩy xa khỏi cảnh vực của Thiên Chúa vì sự tiếp xúc với những thực tại bên ngoài mình. Thế giới bên ngoài không được hình dung như kẻ thù của con người, cũng chẳng phải là một mối nguy hiểm cho mối tương quan của con người với Thiên Chúa. Thế giới bên ngoài con người không phải là cái làm cho con người ra nhơ uế. Con người có thể cởi mở với thế giới mà không đánh mất tương quan thân nghĩa vơi Thiên Chúa. Con người chẳng cần phải sợ hãi khi tiếp xúc hay gần cận thế giới, như thể việc tiếp xúc hay gần cận đó làm cho họ không còn được Thiên Chúa yêu mến nữa.
Thật ra, như trên đã nói, điểm đáng nói là lời tuyên bố của Đức Giêsu “Không có cái gì từ bên ngoài vào trong con người lại có thể làm cho con người ra ô uế được” đã đi ngược với Luật thành văn, vì chính Torah đã nói đến những thứ “nhơ uế” làm cho người ta ra nhơ uế ( Lv 11 – 15; Đnl 14, 3tt ). Như thế, Đức Giêsu đã xóa bỏ nền tảng của những quy định về thanh sạch – nhơ uế trong Cựu Ước, và do đó, của tất cả những điểm quy chiếu cho các lệnh cấm về thức ăn làm nên nét đặc trưng khu biệt những người Hípri đối với dân ngoại.
Và, như ở cc. 21-23, những “cái từ bên trong con người xuất ra” được liệt kê là những lời nói và hành động xấu, thì ở đây cũng vậy, “cái từ bên ngoài vào trong con người” không chỉ là những thức ăn. Đúng là bản văn nói đến thức ăn, nhưng xa hơn nữa, còn có ý nói đến tất cả những sự tiếp xúc với thế giới bên ngoài con người, tức là cả những sự vật và những người khác nữa. Hiểu như thế, lời của Đức Giêsu phá bỏ mọi thứ điều cấm kỵ liên quan không chỉ đến thực phẩm mà cả con người nữa.
Điều đáng nói không phải là chuyện ăn uống hay tiếp xúc, mà là hình ảnh Thiên Chúa mà người ta tin khi chủ trương và thực hành những quy định và luật lệ. Thiên Chúa lưu tâm đến tất cả những gì Người đã làm ra, đặc biệt là loài người. Chương trình của Thiên Chúa là cứu độ và ban Sự Sống cho mọi người, bất kể những sự khác biệt về chủng tộc, văn hóa, tôn giáo... Thiên Chúa yêu tất cả mọi người, yêu thế giới con người và mọi thứ làm cho con người hướng đến sự phát triển hoàn hảo và viên mãn. Cách thực hành của các kinh sư và người Pharisêu đã làm méo mó hình ảnh đó của Thiên Chúa.
Tóm lại, bài Tin Mừng hôm nay nhấn mạnh với chúng ta hai điểm quan trọng:
- Trước hết, Đức Giêsu hủy bỏ nền tảng của sự kỳ thị tôn giáo của Israel ( cc. 1-8 ), bằng cách phủ nhận sự cần thiết của việc người ta phải tẩy rửa sau khi đã tiếp xúc với một đám đông dân chúng Do Thái ( vốn luôn bị coi là có nguy cơ gây nhơ uế ).
- Sau đó, Người cho thấy quả đúng là con người có thể xa cách Thiên Chúa và trở nên “ô uế”, nhưng cái làm cho nó ra như thế thì không phải là thức ăn hay bất cứ thứ gì đến từ bên ngoài nó, mà là chính cõi lòng của nó, chính cái tâm thế bên trong của nó, cái tâm thế sản sinh ra những suy nghĩ xấu, chọn lựa xấu, lời nói xấu và hành động xấu ( cc. 14-15. 21-23 ).
Lm. Giuse NGUYỄN THỂ HIỆN,
9. 2012