Wednesday, 4 April 2012

Lm Nguyễn Thế Thuấn CSsR: Sách Thánh và Mặc Khải Cứu Rỗi: Cắt nghĩa về Phạm thượng




Phạm thượng: Tức là tiếm lấy cho mình điều thuộc riêng về Thiên Chúa. Mà tha tội là một điều như thế (Xh 34: 6t; Ys 43: 25: 44: 22)

Như thế Mc cho thấy sự xung đột  giữa Chúa Yêsu và Luật sĩ phát từ thái độ của Chúa Yêsu đối với người tội lỗi (hay bị coi như người tội lỗi). Tha tội là đặc quyền Thiên Chúa. Thế mà Chúa Yêsu trong sự giao tiếp với hạng tội lỗi (hay liệt hàng tội lỗi), lại xử thế như Ngài là chính Đấng tha thứ tội lỗi.

Câu 8-9: Tri thức lạ thường của Chúa Yêsu nói trắng ra sự phản kháng ngấm ngầm trong thái độ luật sĩ. Ngài làm điều đó bằng một lý luận phổ thông “huống chi” (lớn còn được huống chi là nhỏ): đi từ việc nhẹ/dễ để kết luận về việc nặng/khó hơn, hay ngược lại. Bởi đó mà hỏi “cái gì dễ hơn”:

-          Đối với người thường: tha tội dễ (hiệu quả sao, ai nào biết được), chứ chữa lành khó (thành công hay thất bại có ngay trước mặt).
-          Đối với Chúa Yêsu và Luật sĩ: tha tội là quyền năng Thiên Chúa, nếu thực sự xảy ra. Chứ phép lạ thì những người thánh trần gian có khi cũng làm. Nếu trong tình trạng hiện tại, tội và bệnh tật có liên quan với nhau, thì chữa lành sẽ thành dấu chỉ là tội cũng được tha nữa. (Nên để ý: Mt nói thẳng ra sự ngang trái của luật sĩ trong tư tưởng. Thay vì hiểu, thì họ kết án).

Câu 10: Vấn đề cần thiết phải bàn ở đây là ý nghĩa của tiếng “Con Người “ (dịch tiếng Hipri: Ben-Adam; tiếng Aram: bar-nâsa):

-Nghĩa thông thường: một người (vật có nhân tính).
-Nghĩa văn chương Khải huyền: Đn 7: 13t: một nhân vật bởi trời đi đến trước mặt Đấng hằng có để lĩnh lấy “quyền” trên hết các dân thiên hạ.
-Lời tiên tri này được sử dụng nhiều trong Tân Ước: Mt 26: 64tt; 24:30tt; 25: 31tt (như thẩm phán); 28: 18 (không dùng chính tên). Con Người ám chỉ đến tư cách “bởi trời” của nhân vật –một nhân vật điển hình, thu lại tất cả ý định của Thiên Chúa, thuộc một giới khác hẳn trần gian. Chúa Yêsu dùng tước đó bao giờ cũng có ý vang ra ý nghĩa việc Ngài đang làm hay sẽ làm, chứ không cố dạy Ngài có bản tính rhế nào (Thiên Chúa hay người ta). Ngài là con người: ấy chính là khi Ngài thực hiện dưới đất điều đã viết về Con Người trên trời. Những hoạt động dưới đất là mạc khải cái chân tướng tàng ẩn đang thi thố ra trên trời.

Quyền tha tội đó Ngài làm dưới đất: đối chọi với “trên trời”. Nguồn gốc ơn tha tội là nơi trời cao, nơi Thiên Chúa. Bây giờ Thiên Chúa quả quyết rằng: bởi Ngài có mặt (bởi vì Con Người đã đến trên trần gian), thì nguồn ơn tha tội đã được chuyển tự trời xuống đất: nguồn ơn tha tội đã được đặt nơi một người lịch sử.

Câu 12: Phép lạ đã xảy ra bằng một lời nói. Dân chúng ca tụng: một sự kinh ngạc! Nhưng sau sự bỡ ngỡ đó, Mc muốn đọc ra một lời xưng đức tin: Việc Chúa Yêsu làm đích thực là hành động cánh chung do tự Thiên Chúa.

Mt 9: 8: Thay vì kinh ngạc (tức là không hiểu được ý nghĩa của điều đã xảy ra) thì Mt nói: dân chúng kính sợ, kinh hãi và tôn vinh Thiên Chúa. Mt nhắm đến thái độ phải có trong Hội thánh hơn là ghi lại một chi tiết lịch sử: kinh hãi (như người ta phải có đứng trước việc hiển linh Thiên Chúa trong quyền phép Chúa Yêsu), và tôn vinh Thiên Chúa vì Người đã ban cho người đời một quyền lực như thế.  Quyền lực đó là quyền nói trong Mt 9: 6: quyền tha tội, đặc quyền của Thiên Chúa, Chúa Yêsu đã sử dụng quyền đó. Nhưng Mt lại nói ban cho “người đời” hay “người ta” 

-“Người đời” (số nhiều) kỳ thực đồng nhất với “một người”: Chúa Yêsu. Không nhấn đến tước hiệu Con Người, mà là đến sự kiện là một quyền riêng của Thiên Chúa nay một người là Chúa Yêsu đã được sử dụng.

Nhưng giải thích ổn thoả hơn cả: phải biết dụng ý của Mt, tức là Tin Mừng có mục đích giáo huấn cộng đoàn, nên chú trọng đến quyền Chúa Yêsu đã ban cho Hội thánh ngang qua các tông đồ. Theo nhỡn giới này, thì lời của dân chúng muốn nhắn thầm cộng đoàn tín hữu tạ ơn Thiên Chúa vì quyền ban cho Chúa Yêsu theo tư cách Con Người nay vẫn còn trong Hội thánh, nhờ những kẻ đã được Chúa Yêsu uỷ thác cho.
                                                                                                                                                (còn tiếp)

Lm Nguyễn Thế Thuấn CSsR
(trích tài liệu giảng huấn phổ biến nội bộ)

Monday, 2 April 2012

Lm Chân Tín CSsR: Về Biến Cố Lịch sử: “Chúa Giêsu Sống Lại”




VRNs (02.04.2012) – Tâm thư gửi giới trẻ của linh mục Têphanô Chân Tín, DCCT về biến cố lịch sử “Chúa Giêsu sống lại”.
Ngày 08.04.2012 tới đây, toàn thể người Kitô hữu Tin Lành, Chính Thống, Công Giáo mừng Chúa Giêsu sống lại. Đây là niềm tin vững vàng của người Kitô hữu. Đây là một biến cố lịch sử mà người Kitô hữu cần phải nắm vững để giúp bạn trẻ ngoài Kitô giáo chấp nhận biến cố khác thường này, nhờ đó họ cũng đạt đến niềm tin Kitô giáo.
Sự hiểu biết của ta về quá khứ các nước do bởi đâu? Bởi các sử gia để lại cho ta. Đâu là nguồn gốc sự hiểu biết của ta về những gì Chúa Giêsu đã làm? Cũng là những sử gia như Mátthêu, Máccô, Luca, Gioan, Phaolô, v.v… Sao ta tin những sử gia khác về lịch sử thế giới và Việt Nam mà ta lại không tin các sử gia của Chúa Giêsu?
Trí khôn của ta phải là một tòa án vô tư, cân nhắc kỹ càng và chính xác về những lời của các nhân chứng. Để đánh giá chính xác những thông tin, không chỉ xét những gì chứng nhân nói, mà còn xét tính cách và sự khả tín của họ. Sự khả tín của những sử gia về cuộc đời Chúa Giêsu rõ ràng lớn hơn sự khả tín của những sử gia khác. Các sử gia khác là ai? Nói chung, họ là những người được một vị vua chúa trả tiền để viết về họ và mục đích không phải để nói lên sự thật. Họ tìm cách để nịnh bợ vua chúa và dân tộc của họ hay là tầng lớp xã hội của họ. Trái lại, những sử gia viết về Chúa Giêsu có một tầm vóc hoàn toàn khác. Khi viết về Chúa Giêsu, họ liều mất tự do và sự sống. Mátthêu tử đạo tại Abissinia, Gioan bị tù tội thành người nô lệ ở đảo Patmos, Phaolô bị chặt đầu ở Rôma, Phêrô bị đóng đinh vào thập giá. Không một tòa án công minh nào mà loại trừ dễ dàng những chứng từ của những người sẵn sàng chấp nhận thiệt thòi như vậy. Họ là những người đồng thanh tuyên bố mình hoàn toàn xác tín sự thật về sự sống lại của Chúa Giêsu, vì họ đã thấy, đã nghe, đã rờ đến Chúa Giêsu sống lại.
Các sử gia về lịch sử đời nói đến những điều dễ hiểu và dễ tin. Họ nói đến chiến tranh, những cuộc lật đổ chế độ, những âm mưu chính trị, những cuộc thanh toán nhau, nói chung là những biến cố đang xảy ra trên thế giới hôm nay. Còn các sử gia về sách Tin Mừng của Chúa Giêsu kể lại những biến cố mà ta không có kinh nghiệm. Họ nói đến chẳng hạn biến cố Đức Maria sinh Chúa Giêsu mà vẫn đồng trinh, người phong cùi được lành nhờ Chúa Giêsu chỉ đụng đến họ, việc Chúa Giêsu đi trên mặt nước, việc Chúa cho năm ngàn người ăn no với vài chiếc bánh, việc Chúa cho người chết sống lại và cuối cùng là sự sống lại của chính Chúa Giêsu. Tất cả những sự việc ấy được gọi là phép lạ. Chúa Giêsu có một sức mạnh thiêng liêng mà không ai có được. Do đó, Ngài có thể làm phép lạ, Ngài có thể làm những việc lạ lùng mà người thường không làm được. Phủ nhận các phép lạ mà không suy xét kỹ lưỡng chứng từ của các Tông đồ, những người đáng tin cậy, là một điều không hiểu được.
Với sự sống lại của Chúa Giêsu ta mới hiểu một phép lạ khác là giáo hội của Chúa Giêsu. Chúa Giêsu không viết một cuốn sách nào trong khi Ngài sống giữa trần gian. Ngài chỉ chiêu mộ một số đồ đệ chả là gì đối với giáo hội Do Thái lớn mạnh. Những người Chúa chọn làm đồ đệ chỉ là những người quê mùa, dốt nát, chả có chút uy tín nào, những người đánh cá, những người thu thuế, để kết cục là một người đồ đệ phản bội, một người chối Chúa, số còn lại bỏ Ngài. Ngài chết trên thập tự giá, bị ruồng bỏ và bề ngoài như thất vọng, vì trên thập giá Ngài kêu lên: “Lạy Chúa, lạy Chúa, sao Chúa bỏ con?” Sau khi Ngài chết, họ chôn cất Ngài, một hòn đá lớn được đặt ở mộ của Ngài, mộ Ngài được niêm phong với những lính gác cẩn thận. Trong khi đó các đồ đệ của Ngài chạy trốn trong một phòng khóa cẩn thận để tránh cái chết giống như cái chết của Thầy mình. Cuộc đời Chúa Giêsu kết thúc như thế!
Nếu Chúa Giêsu không sống lại thì làm sao giải thích sự ra đời Giáo hội của Ngài?
Chỉ có một lời giải thích: Ngày thứ ba, Chúa Giêsu sống lại từ cõi chết và đã hiện ra với các đồ đệ trong nhiều hoàn cảnh khác nhau và xác nhận với họ là chính Ngài họ nhìn thấy. Họ tụ họp lại, Chúa Giêsu làm việc với họ, cho họ những chỉ thị và cho họ quyền làm phép lạ. Phêrô trước kia đã chối Chúa với lời thề, thì nay đứng giữa thành Jerusalem chứng minh một cách can đảm là ông đã thấy Chúa Giêsu sống lại. Các tông đồ khác cũng làm như vậy. Không sợ chết, các ông đi từ nước này đến nước khác rao giảng Chúa Giêsu sống lại. Thế là giáo hội của Chúa Giêsu được khai sinh, lớn lên và vẫn tiếp tục phát triển, mặc dầu các cuộc bách hại và sự bất xứng của đồ đệ Chúa.
Nếu bạn không sẵn sàng tin Chúa Giêsu sống lại từ cõi chết, bạn không thể không nhìn nhận hiệu quả kỳ diệu là chính Giáo hội Chúa Giêsu, một Giáo hội đã sống hai ngàn năm nay, có hàng tỉ người thuộc mọi thành phần, mọi quốc gia, mọi chủng tộc. Không có hiệu quả nào mà không có nguyên nhân!
Một lý do khác chứng minh Chúa Giêsu đã sống lại. Ta không thấy ở đâu nói đến những địch thù của Chúa Giêsu và của Giáo hội tiên khởi chối cãi mộ Chúa Giêsu trống rỗng sáng Phục Sinh. Rất tự nhiên là phải có một vụ điều tra để khám phá thân thể Chúa Giêsu đã bị đánh cắp. Sự phản ứng của các thầy tư tế Do Thái không chối cãi sự quả quyết ngôi mộ trống rỗng. Họ chỉ đút lót mấy người lính canh gác mộ Chúa là trong khi họ ngủ, các đồ đệ đến trộm xác Chúa. Nếu họ ngủ, làm sao họ biết có người trộm xác Chúa? Nếu các tư tế Do Thái tin các người lính canh, bảo là các đồ đệ trộm xác Chúa, sao họ không bắt các đồ đệ Chúa, đưa ra tòa, tra khảo và bỏ tù họ?
Một phong trào lớn mạnh phải có một điểm phát xuất mãnh liệt. Phong trào mãnh liệt kéo dài từ hai ngàn năm nay mà hậu quả chi phối cả thế giới. Một phong trào phát xuất từ lòng tin vào sự sống lại của Chúa Giêsu không thể là kết quả của một ảo giác, vì các đồ đệ của Chúa không có ảo giác. Một Tôma đòi xỏ ngón tay vào lỗ đinh nơi tay Chúa mới tin Chúa Giêsu sống lại. Một Mátthêu làm nghề thu thuế rất thực tế. Một Nathanael khó chấp nhận một người ở Nazaret có gì hay. Chỉ có một biến cố rất lớn như việc Chúa Giêsu sống lại mới có một sự thúc đẩy mạnh mẽ cho một phong trào lớn mạnh như thế. Và chúng ta đừng quên trong 30 năm sau biến cố này, phần đông các đồ đệ Chúa Giêsu đã phải bị xử tử và nhiều người trong họ bị lên án tử hình, chỉ vì họ quả quyết Chúa Giêsu đã sống lại từ cõi chết. Đó là những việc không thể là bịa đặt.
Trước mũi các tư tế Do Thái, các tông đồ của Chúa Giêsu bắt đầu rao giảng Chúa Giêsu sống lại ngay trong đền thờ người Do Thái ở Giêrusalem, đụng độ với giáo hội Do Thái vì họ tuyên bố Chúa Giêsu là Đấng Thiên sai mà sự sống lại đã chứng minh. Người có suy nghĩ tự hỏi có thể vận động một phong trào và chiêu mộ hàng ngàn người trong một ngày, nếu xác Chúa còn ở trong mồ? Phêrô đã giảng bài giảng đầu tiên cách ngôi mộ Chúa Giêsu mấy thước. Nếu những địch thù của Chúa Giêsu có khả năng chứng minh xác Chúa còn ở trong mồ, thì bài giảng của Phêrô sẽ là một thất bại và không thể thuyết phục hàng ngàn tín đồ Do Thái chịu phép rửa của đạo Chúa. Nhưng những thù địch của Chúa Giêsu bất lực: Chúa Giêsu không còn trong mồ! Tất cả những điều ấy được mọi người chấp nhận, nên các đồ đệ của Chúa bắt đầu giảng dạy, không phải trong một thành phố ở thôn quê, nhưng chính ở Giêrusalem, họ làm cho hàng ngàn người phấn khởi và điều đặc biệt là họ đương đầu với những địch thù bất lực và không có khả năng chối mồ Chúa không còn xác Chúa.
Chúng ta buộc phải tin những gì các tác giả 4 sách Tin Mừng đã viết, đặc biệt vì họ rất đơn sơ kể lại những việc lạ lùng. Điều gì đã thúc đẩy các tông đồ loan báo sự sống lại của Chúa Giêsu bằng lời nói và sách vở? Một lý do độc nhất: vì họ là chứng nhân không nhân nhượng khi nói sự thật. Nhóm các đồ đệ của Chúa Giêsu là nhóm người được chân lý hướng dẫn.
Chúa Giêsu sống lại không phải chỉ là niềm tin nhưng còn là một biến cố lịch sử, độc nhất vô nhị.
Lm. TÊPHANÔ CHÂN TÍN, CSsR
(x. www.chuacuuthe.com 02.04.2012)