Thursday, 9 February 2012

Lm Richard Leonard sj: Đổi Mới Cuộc Đời Còn Nguội Lạnh


Suy Niệm Chúa Nhật thứ 6 Thường Niên Năm B

Phần đông các dịch giả Sách thánh thường lúng túng khi liên tưởng đến cảnh Chúa “mà cũng nổi giận”. Tuy nhiên, Đức Giê-su có “nổi giận” đi nữa, điều đó cho thấy Ngài có cái nhìn thấu đáo, cẩn trọng qua tâm can của Ngài. Và, đây là thách thức lớn gửi đến chúng ta. Hôm nay.
Hẳn ai cũng rõ, giận dữ là trạng thái thường tình, cho thấy có cái gì đó không ổn trong cuộc sống chung đụng giữa người với người. Giận dữ, là cảm xúc quan trọng được thẩm định, thật rõ nét. Giận dữ, mang tính trung hòa trong giá trị tu đức của người đi Đạo. Trong cuộc sống, tùy cách ta giải quyết các trường hợp giận dữ, mọi người sẽ thấy ảnh hưởng của bẩy mối cảm xúc, trong ta. Có người ở lỳ trong giận dữ; để rồi, kết cuộc sẽ bị “cháy” và thấm đòn, vì tính khí ấy. Người khác, nhân dịp này, lại rút kinh nghiệm tạo nghị lực, ngõ hầu sửa đổi những gì sai trái, vẫn chưa ổn.
            Với xã hội Palestin vào đầu thế kỷ, ai có vấn đề ngoài da đều được tặng cho cái “mũ” chụp lên đầu với tên gọi rất kinh khiếp: phong hủi. Họ buộc phải sống bên lề xã hội, xa làng mạc/thị thành thân quen, khi trước. Bị như thế, họ không còn dám cận kề đồng hương/đồng chủng. Mỗi lần cất bước đi đâu/làm gì, đều phải cảnh báo/kêu to: “Ô uế! chúng tôi, phường ô uế!” Đằng khác, chẳng khi nào họ dám bén mảng chốn đông người; dù là đền thờ, chợ búa, chốn dân gian. Người đời khinh bỉ họ như kẻ bị Chúa chúc dữ, không đưọc kể vào danh sách “dân được chọn”. Chẳng lạ gì, khi thấy Đức Kitô tỏ ra giận dữ. Ngài biết: người bệnh phung bị đối xử tệ bạc, và bỏ rơi. Gặp họ, Ngài công khai đối đầu với cả một hệ thống quan quyền, dám cướp đi phẩm cách cao quý của người tật nguyền, hẩm hiu. Mặt khác, luật đạo cũng chẳng chùn tay do dự, đã tước đọat mọi hy vọng, không cho họ sống. Sống cho ra người. Sống xứng đáng tư cách cao sang quyền quý, của kiếp người.
            Phúc âm nay đưa ra hai chi tiết quan trọng, cần xem xét. Thứ nhất, về người phong cùi ghẻ lở. Dù, mắc bệnh ngặt nghèo, người người ghê tởm, anh vẫn bước tới giáp mặt Chúa, trình bày nỗi niềm riêng, yêu cầu Ngài chữa lành. Ở đây, truyện kể ghi rõ Đức Giê-su đã đụng tay vào người của anh. Và sau đó, mọi vết hằn trên da thịt đều tan biến. Về tình huống đối đầu với luật lệ, mọi điều khoản trong lề luật ngoài đời cũng như tôn giáo, nay bị gẫy. Thật ra, việc Chúa chữa lành cho người phung, không chỉ mang ý nghĩa một thách thức đối đầu với luật pháp, hoặc những húy kỵ được quen giữ ở ngoài đời.
            Hành xử của Đức Giê-su đã hối thúc người bệnh ra đi thực hiện những gì luật Đạo dạy anh làm. Có thế, anh mới có thể về với Đền thờ. Về với cộng đoàn thân yêu của anh. Giải quyết khúc mắc căn bản này, Đức Giêsu cho thấy: Ngài quan tâm đến việc hoán cải cuộc đời của những người mà Ngài gặp trong hành trình rao truyền ơn cứu độ. Ngài đưa họ về với luật cao cả của Chúa: lòng yêu thương giùm giúp hết mọi người; cả người bị bỏ rơi, bị tránh xa.
            Chi tiết thứ hai mà trình thuật đề cập, là: nhận định cho đúng các thách thức đặt nơi cơn giận của chính ta. Thách thức đây, không chỉ liên quan đến việc phấn đấu cho quyền lợi chính đáng của mỗi người, cả khi người ấy sai phạm nhiều. Thách thức đây, mang nghĩa đấu tranh cho phẩm cách và quyền hạn của người khác. Để, họ mau chóng phục hồi, mà trở về.
            Đấu tranh, nay mang nhiều dạng thức khác biệt: là, nỗ lực chấm dứt hành vi tước đọat quyền làm người của các hài nhi chưa mở mắt. Đấu tranh, là chống lại manh tâm cướp đi quyền được sống của người mắc bệnh nan y, mệnh danh cho “an tử”. Đấu tranh, cho thế hệ mai ngày bằng quan tâm, chăm sóc địa cầu mình đang sống. Đấu tranh, còn có nghĩa: quyết đứng lên hành động cho phải phép. Quyết bênh vực người chung sống trong cùng một mái ấm/cơ ngơi. Cùng xứ đạo/cộng đoàn. Cùng sở làm. Cùng chòm xóm chung quanh. Cùng tổ quốc thân yêu. Cùng thế giới sinh động. Ở nơi đó, vẫn còn nhiều đối xử tệ bạc, đầy tủi hổ. Vẫn còn có người phung bị liệt vào thành phần ô uế, phải tránh xa.
            Cuối cùng, nếu hỏi rằng: sao ta vẫn bận tâm đến những giận dữ, như thế? Thì xin thưa, vì hôm nay, Đức Giêsu  đến với ta một lần nữa. Ngài đến, để công khai khẳng định rằng: dù ta có nghĩ mình tệ đến mức nào đi nữa; dù người khác có xử với ta chẳng ra gì, đi nữa; vẫn chẳng có gì tồi tệ trong ta, mà không được Chúa quan tâm, chữa lành. Chẳng có gì khiến ta tuyệt vọng. Dù, ngày mai đất trời này có ngả nghiêng, sụp đổ.   
            Cầu mong sao Tiệc thánh hôm nay đem đến cho ta tình yêu nóng bỏng và tình thương yêu chữa lành của Đức Giêsu, để ta sẽ đấu tranh vì người khác. Đấu tranh, cho phẩm giá con người. Những người phung hủi, hiểm nghèo. Phẩm giá con người, chính là quà tặng cao quý ta nhận được từ Chúa tể của Tình thương. Cầu và mong, để ta hy vọng vào cơn giận rất thực của mình. Bởi, biết rằng: mọi buồn phiền/giận dữ ta thường gặp, sẽ như cơn giận chính đáng Đức Giêsu đã lộ rõ. Cầu mong, Ngài biến ta thành nhân tố lay chuyển và kiến tạo một Giáo hội công chính. Một thế giới công bình.
     Giận dữ như thế mới là giận đích thực. Mới tự nhiên. Giận dữ chóng qua, để rồi ta đổi mới cuộc đời lâu nay còn nguội lạnh. Nguội lạnh, như viên đá xanh trơ trơ trước tình yêu nóng bỏng của Đức Chúa, vẫn tỏ cho con người. Vậy thì, có nên gọi hôm nay là “cơn giận lành”, được hay không?

Wednesday, 8 February 2012

Lm Nguyễn Thế Thuấn CSsR: Sách Thánh và Mặc Khải Cứu Rỗi: Ít Chi tiết theo Mt 22: 12-14




BÀN VỀ ÍT TÂN ƯỚC (tiếp theo)

Cắt nghĩa ít chi tiết theo Mt 22: 12-14

Trong Mátthêu, chủ tiệc là vua, thay vì một bữa tiệc, thì có tiệc cưới của hoàng tử. Những chi tiết đã mang nhiều ý nghĩa và đòi phải đọc dưới những dung mạo đó chính Thiên Chúa, và Con của Người. Thay vì một đứa đầy tớ đi mời (Lc 14: 17, 21tt), một nét lấy tự sinh hoạt có thực, thì có cả đoàn tôi tớ… vậy phải hiểu đến ám chỉ của mỗi nét:

Vua là Thiên Chúa đã có một ý định trong thánh sử, đến một thời ơn huệ cuối cùng (tiệc cưới của Con). Suốt lịch sử, Người đã sai đi mời.

Câu 3: trong quá khứ là các tiên tri, nhưng Israel đã không nghe.

Câu 4: đến thời Tân Ước, một nhóm thứ hai được sai đi vào thành (Yêrusalem/Israel) mà báo cho họ biết thời Thiên Chúa hứa bây giờ đã đến: đó là các tông đồ, các thừa sai. Họ đã bị bắt bớ, hành hạ, tử đạo.

Câu 7: Thiên Chúa đã không dung thứ: Ngài đã cho thành đó bị huỷ diệt. Đã rõ là có ám chỉ đến Yêrusalem bị phá bình địa năm 70, vì rõ rệt là câu này không thể tả một việc thường xảy ra: mọi sự đã dọn sẵn để ăn rồi, mà nhà vua lại sai quân binh đi tru diệt bọn sát nhân trước đã.

Câu 9-10:  ám chỉ đến việc truyền giáo dân ngoại (bên ngoài thành) (Lc cũng có áp dụng cho truyền giáo dân ngoại trong 14: 22tt). Người ta được kéo vào phòng tiệc cưới: thanh tẩy cho người ta vào Hội thánh.

Câu 11-13: Từ xưa, khi bàn đến những câu này của ví dụ, người ta đã cảm thấy khó hiểu. Làm sao những kẻ ở đầu đường xó chợ, không ngờ gì về việc được mời lại phải có sẵn những bộ áo dự tiệc. Người ta đã giải thích là phong tục xưa có ban áo lễ cho những kẻ được mời. Nhưng phong tục đó không thấy có thời Chúa Yêsu. Vả lại, tiếng dùng để chỉ đầy tớ trong mấy câu này cũng khác. Vậy phải coi những câu này như di tích của một ví dụ tự lập khác.

Vì mục đích nào mà Mátthêu đã đổi phần ví dụ này với ví dụ trên? Là, để tránh hiểu lầm có thể gây nên bởi việc mời cả mớ trên kia, bất luận lành dữ, như thể thái độ của những người được mời không can hệ gì cả. Một khi ví dụ được nói lại trong Hội thánh: câu 10, cộng đoàn mở cửa đón nhận mọi người (lành dữ) trong thanh tẩy. Hội thánh có kinh nghiệm về sự hiểu lầm, ơn huệ nhưng-không của Thiên Chúa dường như miễn khỏi mọi sự cố gắng cải thiện. Muốn chặn lại kết luận phóng túng đó, thì Mt đã thêm ví dụ áo cưới:

Câu 11: Vua đi vào nhìn coi… Tục lệ xưa, gia chủ không cùng ngồi bàn với khách; đó là lễ độ: bao nhiêu của ăn để khách dùng tự tiện. Đang bữa đi vào chăm nom cho khách.

Y phục: Không phải một thứ áo riêng nhân dịp – nhưng chỉ là áo đã giặt sạch sẽ. Trong Mátthêu: ám chỉ đến sự công chính mới Chúa Yêsu đã dạy (Mt ghi lại trong các đoạn 5-7).

Xét chung Mt 22: 1-14: ví dụ đã được hiểu như lược toát thánh sử và trở nên một bài học cho Hội thánh (một điều giống như thánh Phaolô làm trong 1C 10: 1-11).

Còn, xét đến hoàn cảnh Chúa Yêsu, thì phải nói hình thức trong Lc 14: 16-21 đúng với môi trường hơn: một lời cảnh cáo nghiêm nghị: người Do thái phải tự hạch hỏi chính mình về thái độ của họ đối với Tin Mừng Chúa Yêsu rao giảng.
   
                                                                                                                                                (còn tiếp)

Lm Nguyễn Thế Thuấn CSsR
(trích tài liệu giảng huấn phổ biến nội bộ)