Friday, 26 August 2011

Lm Bill O'Shea: Các câu nhiều người hỏi về Kinh Thánh (tiếp theo)

Câu hỏi #29:

Một người bạn của con đạo Chứng Nhân Giê-hô-va nói rằng khi chết chúng ta sẽ ngủ một giấc cho đến ngày tận thế, đến lúc đó Thiên Chúa sẽ phán xét chúng ta.

Bạn con cũng nói là trong Thánh Kinh không có nói gì đến Ba Ngôi Thiên Chúa – Ba Ngôi Thiên Chúa chỉ là một hữu thể do Công Đồng Nicaea đặt ra mà thôi.

Câu đáp:

Toàn bộ Tân Ước không nói chi nhiều về trạng thái của linh hồn con người sau khi chết, bởi vì niềm tin tưởng và hy vọng của Giáo Hội sơ khởi được xoay quanh việc Đức Ki-tô sẽ sắp sửa mau chóng trở lại, việc phục sinh của tất cả các tín hữu, và sự phán xét chung.

Tuy nhiên sẽ là điều sai lầm nếu lấy đó mà kết luận rằng các tác giả Tân Ước cho rằng trước khi phục sinh thì những tín hữu đã qua đời sẽ ở trong trạng thái mê muội hoặc bất tỉnh. Họ không có ý định dùng hình ảnh “ngủ” để chuyển đạt khái niệm này.

Hình ảnh “ngủ” tự nó không cho ta thấy điều gì về trạng thái của linh hồn sau khi chết. Và mặc dù thánh Phao-lô nhấn mạnh việc phục sinh của thân xác chứ không nhấn mạnh tính bất tử của linh hồn, có ít nhất hai đoạn trong các lá thư của thánh Phao-lô trong đó thánh nhân tuyên bố rằng chết nghĩa là được ở bên Đức Giê-su – một kết cục mà thánh nhân nóng lòng mong đợi (xem 2 Cô-rin-tô 5:8; Thư Phi-líp-phê 1:23).

Một số mộ bia cổ của người Ki-tô Giáo thời sơ khởi đã được tìm thấy với những hàng chữ như “Hãy an giấc trong Chúa” và “Hãy sống trong Chúa”.

Trong tương quan với việc Phục Sinh của Đức Giê-su, những tâm tình ghi khắc trên các mộ bia đó phản ánh một quan niệm rằng chết là một giấc ngủ bình an, nhưng niềm tin Ki-tô Giáo luôn luôn tin rằng những ai đã “an giấc trong Đức Giê-su” (1 Thê-xa-lô-ni-ca 4:14) hay “chết trong Đức Ki-tô” (1 Thê-xa-lô-ni-ca 4:16) thì đều đã đang hưởng sự sống vĩnh cửu.

Về câu hỏi của bạn về Ba Ngôi Thiên Chúa, tín lý này được khai triển trong bốn thế kỷ đầu tiên của Ki-tô Giáo.

Đến cuối giai đoạn này tín điều Thiên Chúa Ba Ngôi được định nghĩa bằng những từ ngữ là “Ba ngôi vị hiện hữu trong một bản thể thánh thiêng”.

Theo những từ ngữ “ngôi vị” và “bản thể” đó thì, sự thật là tín điều Thiên Chúa Ba Ngôi không được đề cập một cách chính thức và cụ thể trong Thánh Kinh.

“Ngôi vị” và “bản thể” là những từ ngữ triết lý Hy-lạp, những từ này không xuất hiện trong các quyển Sách Thánh để mô tả mối liên hệ giữa Chúa Cha, Chúa Con, và Chúa Thánh Thần.

Tuy nhiên, sau một thời gian dài tranh cãi, kết luận cuối cùng được đạt tới về một-bản-thể-có-ba-ngôi-vị, và sự hiệp nhất trong bản chất của Ba Ngôi Thiên Chúa được Giáo Hội tuyên bố là cách đúng đắn duy nhất để diễn giải những bằng chứng thánh kinh về những gì đã được thuật lại về Chúa Cha, Chúa Con, và Chúa Thánh Thần.

Nền tảng của học thuyết này quả thật được chứa đựng trong Tân Ước. Cha và Con rõ ràng là những từ ngữ nói lên mối quan hệ cá nhân sâu sắc.

Tổng số toàn bộ của bằng chứng trong Tân Ước chung quy là một sự phân biệt rõ ràng giữa ngôi Cha và ngôi Con nhưng cũng là một sự đồng đẳng cấp giữa hai ngôi (mặc dù Đức Giê-su, trong bản thể loài người, luôn được minh họa là thấp bậc hơn Chúa Cha).

Đức Giê-su được mô tả là một hữu thể thuộc vào bậc thánh thiêng; Đức Chúa Thánh Thần cũng vậy; tuy nhiên, cá tính của Đức Chúa Thánh Thần không được mô tả rõ như trong trường hợp Đức Chúa Cha và Chúa Con.

Thường thì trong Tân Ước Thần Linh của Thiên Chúa (hay những hoạt động của Thần Linh đó) được diễn tả bằng những từ ngữ có vẻ là phản ánh sự am hiểu trong Cựu Ước về Thần Linh Thiên Chúa nghĩa là quyền năng của Thiên Chúa, và vì thế, là sức mạnh của một cá nhân; chẳng hạn như, trong đoạn Lu-ca 1:35, “Thánh Thần” và “quyền năng Đấng Tối Cao” rõ ràng là hai cách để nói về cùng một sự.

Song le có những đoạn Tân Ước khác, nhất là trong Tin Mừng thánh Gio-an (chương 14-16), đã diễn tả Thánh Thần là một thực thể cá biệt trong cùng nghĩa như ngôi Chúa Con, chẳng hạn như, trong đoạn Gio-an 14:16-17 Chúa Thánh Thần được mô tả là một Đấng Bảo Trợ khác hay một Đấng Che Chở, nghĩa là, một Đấng không phải Đức Ki-tô, Đấng mà Đức Chúa Cha sẽ ban.

Cũng xem các đoạn Gio-an 14:26, 15:26, 16:7-16. Trong tất cả những đoạn này văn bản Hy-lạp nguyên thủy đã dùng đại danh từ chỉ phái nam “he/him – Đấng ấy (ông ấy)” khi nói về Chúa Thánh Thần thay vì danh từ vô tính “it – sự ấy”.

Và cũng có những đoạn mà Ba Ngôi Thiên Chúa ít nhất cũng được ám chỉ tới, như trình thuật của thánh Mát-thêu về huấn lệnh cuối cùng của Thiên Chúa Phục Sinh cho các đồ đệ của Người: “Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con, và Chúa Thánh Thần” (Mát-thêu 28:19).

Trong số những đoạn tương tự như trên trong các thư của thánh Phao-lô, xin nêu ra chỉ một đoạn, là lời chào mừng của linh mục với cộng đoàn lúc bắt đầu Thánh Lễ: “Cầu chúc toàn thể anh em được đầy tràn ân sủng của Chúa Giê-su Ki-tô, đầy tình thương của Thiên Chúa (Chúa Cha), và ơn hiệp thông của Thánh Thần” (2 Cô-rin-tô 13:13).

Từ những hình thức trên rõ ràng là Tân Ước quả thật đã trình bày Chúa Thánh Thần như một bản thể cá biệt đồng đẳng cấp với Chúa Cha và Chúa Con.

Điều mà Tân Ước không chủ định làm là nói huỵch toẹt ra hay nói cụ thể ra mối liên hệ chính xác giữa ba ngôi vị thánh thiêng đó.

Đó là công việc của Giáo Hội trong bốn thế kỷ đầu tiên – Giáo Hội phải từ những bằng chứng trong Thánh Kinh mà suy luận ra tín điều về Thiên Chúa Ba Ngôi, tín điều mà ngày nay chúng ta tuyên xưng trong Kinh Tin Kính.

Đây là một tiến triển hợp lý, bởi vì chúng ta tin rằng Thiên Chúa, Đấng-là-nguồn-linh-hứng-cho-các-Thánh-Thư, cũng chính là nguồn linh hứng cho Giáo Hội biết tìm hiểu sâu sắc hơn và biết diễn giải những chân lý hàm chứa trong Thánh Thư, ngay cả những chân lý chỉ trong hình thức phôi thai.

Đó là quan niệm cực đoan cổ điển khi chối bỏ sự hiện diện của bất kỳ chân lý nào trong Thánh Thư nếu như chân lý đó không được viết ra minh bạch rành rành trên giấy trắng mực đen bằng những từ ngữ không chừa chỗ nào cho nghi vấn gì cả.

Tôi có thể hiểu được là những người với tâm lý như vậy có thể sẽ kết luận là tín điều Thiên Chúa Ba Ngôi không có trong Thánh Thư.

Tôi nghĩ cũng cần nói rằng bất kỳ phe nhóm nào mà bác bỏ học thuyết (doctrine) Thiên Chúa Ba Ngôi thì cũng hủy bỏ quyền tự gọi mình là Ki-tô hữu.

Thiên Chúa Ba Ngôi và Thiên Chúa Nhập Thể Làm Người là hai tín điều (dogma) căn bản cốt yếu của Ki-tô Giáo. Bất kỳ phe nhóm nào mà phủ nhận một trong hai học thuyết này thì tự đặt mình ngoài vòng chính thống của Ki-tô Giáo và không thể nghiêm túc cho rằng họ vẫn tiếp tục là tín đồ của Giáo Hội tông truyền hay của cuộc sống và quan điểm Ki-tô Giáo trong bốn thế kỷ đầu tiên.

Câu hỏi #30:

Làm sao chúng ta có thể đối chiếu các trình thuật thánh kinh về công cuộc tạo dựng với những khám phá của khoa học hiện đại?

Câu đáp:

Các cố gắng nhằm đối chiếu trình thuật thánh kinh về công cuộc tạo dựng với các lý thuyết khoa học hiện đại về nguồn gốc của vũ trụ chứng tỏ một sự hiểu lầm về Thánh Kinh và mục đích của Thánh Kinh.

Khi Thiên Chúa linh hứng cho tác giả sách Sáng Thế ghi lại khởi nguyên của vũ trụ và loài người, không có lý do gì để cho là Thiên Chúa đã mặc khải thông tin khoa học chính xác.

Trình thuật tạo dựng trong Thánh Kinh, trong bất kỳ chiều kích nào, đều không nói về các lý thuyết khoa học hiện đại về nguồn gốc của vũ trụ. Trình thuật tạo dựng không xác nhận mà cũng không phủ nhận các lý thuyết đó.

Vì lý do này người ta phải đặt câu hỏi đối với những ai cho rằng thuyết tiến hóa là mâu thuẫn với ba chương đầu trong sách Sáng Thế.

Các tác giả thánh kinh không phải là các khoa học gia, và nếu chúng ta đi tìm chân lý khoa học trong Thánh Kinh thì chúng ta sẽ thất vọng, bởi vì Thánh Kinh không phải là một quyển sách khoa học.

Thánh Kinh và khoa học vật lý là thuộc về các tầm mức hoàn toàn biệt lập.

Trong sách Sáng Thế, việc tạo dựng vũ trụ được mô tả bằng loại ngôn ngữ và hình ảnh phản ánh cái tâm lý sơ khai, thiếu khoa học của tác giả và của những người cùng thời đại với tác giả. Thiên Chúa thích ứng thông điệp của Người cho phù hợp với khả năng của công cụ mà Người sử dụng – người được linh hứng viết thánh kinh.

Ngoài những chân lý cần thiết cho “ơn cứu độ chúng ta” được chứa đựng trong các chương đầu của sách Sáng Thế, chân lý căn bản cốt yếu nhất là Thiên Chúa là đấng tạo tác mọi sự.

Việc tạo tác bằng cách nào hay chi tiết của tiến trình tạo dựng là như thế nào thì không thuộc về thể loại chân lý cứu độ. Cho dù thế giới của chúng ta được hình thành bằng sự tức khắc tạo dựng hay liên tục tạo dựng, “tiến hóa” không phải là một câu hỏi trực tiếp liên quan đến đức tin, miễn là hoạt động tạo dựng của Thiên Chúa không phải là điều nghi vấn.

Thursday, 25 August 2011

Lm Nguyễn Thế Thuấn DCCT: Sách Thánh và Mạc Khải Cứu Rỗi (tiếp theo)


ƠN CỨU RỖI NHỜ SỰ SỐNG LẠI CỦA CHÚA KITÔ

Chúa Kitô sống lại là nguồn ơn cứu rỗi, là chính sự cứu rỗi với cái mình, cái bản ngã, cái thực hữu của Ngài: hầu như không thể phân biệt được mọi sự vinh hiển của Ngài những hậu quả nào là riêng phần Ngài, và những hậu quả nào là thuộc việc cứu chuộc kẻ khác.

Nhất Lãm. Sự chết và Sống lại của Chúa Kitô được đặt trong khung cảnh cánh chung và bao quát cả vũ trụ.

Được tôn vinh, Chúa Yêsu hiện tỏ như chính Nước Thiên Chúa (autobasiloia), như một nhân vật tập đoàn (corperate personality), toát yếu cả “Dân chư thánh của Đấng Tối cao”, như “Con Người đến trong quyền năng Thiên Chúa” (Mt 6: 24 (Đn 7) Mt 28: 18-20)

Phaolô: Chúa Kitô

-đã sống lại vì ta (2C 5: 15) để ta được nên công chính (Rm 4: 25)

-đã được tấn phong làm Con Thiên Chúa quyền năng (Rm 1: 4) để cho nhân loại thông chia chức vị Con Thiên Chúa của Ngài trong vinh quang cánh chung.

-đã trở nên “Xác thần thiêng, Thần khí tác sinh”: một người được biến đổi bởi Thánh thần đến đỗi trở nên “nguồn mạch ban Thánh Thần” cho tất cả nhân loại (1C 15: 42-435)

-là Ađam Mới, để sinh ra nhân loại được phục sinh (1C 15: 21-23; Rm 6: 12-21).

-là Người Mới trong Ngài hết mọi người được kết hợp tự gốc với Thiên Chúa và với nhau, trong cũng một Thánh Thần (Ep 2: 14-18).

-là Đấng Môi giới thiên thai, Thượng đế mưu các phúc lành lai thời nhờ đó ơn cứu chuộc mọi thời, mọi nơi (1Th 2: 5-6; Hr 9: 11-14).

-là Kyrios trên vạn vật, và nhờ Ngài Nước Thiên Chúa thế nào cũng thành đạt, và các biến cố hết thảy được hướng về ơn giải thoát các kẻ được chọn (Ph 2: 9-11; Rm 8: 28-39).

-là Trưởng tử giữa mọi thụ sinh (Co 1: 14-17; Ep 1: 3-5; Rm 8: 29; Co 2: 9)

Yoan trong khi được tôn vinh:

-Chúa Kitô “đến” cùng các môn đồ, kéo mọi người (Yn 12: 32; 14: 18; 16: 16) Chúa Yêsu sai Thần Khí tác sinh và bàu chữa, để dẫn môn đồ vào mầu nhiệm Chúa Kitô (Yn 7: 39; 16: 15).

-Chúa Yêsu nên đền thờ của của dân Thiên Chúa (Yn 2: 19-20), hạt lúa sinh nhiều hoa quả (Yn 12: 24).

-Chúa Yêu nên ánh sáng thế gian, bánh sự sống, cây nho, sự Sống lại và sự sống (tức là những chủ đề tả ơn cứu rỗi trong Yn).

Kết luận: Chính bởi sự Sống lại mà nhân tính Chúa Kitô đã trở nên cơ quan của ơn cứu rỗi đại đồng của Con Thiên Chúa trong nhân loại và cả vũ trụ.

Thân xác sống lại của Chúa Kitô là cơ quan thông đồng hợp nhất giữa Chúa Kitô và Thiên Chúa –giữa Chúa Kitô và người ta- giữa Chúa Kitô và cả vũ trụ -nhờ ơn thần diệu biến hình là Thánh Thần.

Vậy chỉ có ơn giải thoát đích thực và vĩnh cửu cho người ta trong Chúa Yêsu sống lại.

Sự sống lại của Chúa Kitô là nền tảng cho cái bí nhiệm của con người, cho thiên triệu bởi trời: bởi người ta đã được chọn vào tạo dựng trong Chúa Yêsu sống lại, mà người ta, mọi người, là sự ước ao Thiên Chúa, là sự ngóng đợi Chúa Kitô vinh hiển, nơi Ngài, chỉ nơi Ngài mà thôi, mọi người mới có thể thực sự là chính mình được theo ý định Thiên Chúa, và làm trọng cái số mạng của mình: “Chúc tụng Thiên Chúa và là Cha của Chúa chúng ta, Đức Yêsu Kitô, Đấng đã lấy lòng thương hải hà của người mà tái sinh ta nhờ sự sống lại từ cõi chết của Đức Yêsu Kitô, để ta được mối hy vọng hằng sống (1P 1: 3)”.

Toát yếu đường đã đi

Chúng ta đã duyệt ngang qua các sách Tân Ước

-Tìm kiếm cái cốt tuỷ của Tân Ước (chúng ta đã gặp nơi lời tuyên tín Yêsu Kitô là Chúa.

-và đã thấy rằng lời rao giảng tiên khởi (kerygma) cũng cốt thiết là lời rao giảng Chúa Kitô chết và sống lại, đó là Tin mừng của Tân ước.

Các sách Tân uớc đã diễn giải tuyên tín và lời rao giảng đó thế nào? Đạo lý tổng hợp có thể coi “Tân ước” (tiểu dẫn vào Tân ước trang XXX-LXVI).

Phân tích theo từng sách, thì các sách Tân ước chia làm 3 nhóm:

Các Tin Mừng Nhất Lãm

Các thư của thánh Phaolô và sách Công vụ

Các Thư tịch của Yoan

Coi một cách tổng quát, thì mỗi nhóm thư tịch đó trình bày tư tưởng và sự nghiệp Chúa Yêsu dưới một phương diện riêng. Mỗi nhóm có một ý tưởng đạo lý đặc biệt của mình.

Tin Mừng Nhất lãm: Nước Thiên Chúa và Đấng thiết lập Nước đó.

Các thư thánh Phaolô: Nhiệm cục cứu rỗi mới

Thư tịch của thánh Yoan: nhân thân của Chúa Yêsu

Bây giờ nếu chúng ta so chiếu ba chủ đề đó với luợc đề về niên biểu của các thư tịch, thì ta lại thấy đôi đàng đi song song được với nhau. Nếu xét chung ra: ba giai đoạn cũng phù hợp với những đôi đàng các môn đồ của Chúa đi theo để đạt đến sự hiểu biết và tế nhận mặc khải Kitô giáo. Đàng khác, việc ban hành mặc khải cũng đi theo ba giai đoạn đó: loan bào Nước Thiên Chúa, rồi diễn tiến thêm bằng việc ban hành những phương thế cứu rỗi, để rồi kết thúc nơi việc tỏ bày ra chính Chúa Yêsu là ai.

Tuy rằng các sách Tin Mừng Nhất Lãm xuất hiện sau các thư của thánh Phaolô, các sách Tin Mừng đó lại có ý định trần thuật lại lời rao giảng của Chúa Yêsu: địa vị tốt cho mặc khải là ở nơi Lời Chúa Yêsu (Tin Mừng Ngài rao giảng, và các tông đồ đã nghe từ miệng Ngài) và sự nghiệp của Ngài. Đó là “dự kiện” nền tảng. Các tông đồ không thêm được gì hơn, họ chỉ loan báo lại điều Chúa Yêsu đã rao giảng. Các thư diễn bày đạo lý về ơn cứu rỗi; đạo lý đó cốt thiết đã chứa đựng cả trong lời rao giảng của Chúa, nhưng chỉ được thành tựu với sự chết của Chúa Yêsu và những biến cố tiếp theo sau đó. Còn các thư tịch của thánh Yoan đi vào những gì sâu kín (và khó hội ra lúc đầu) trong giáo huấn của Chúa Yêsu; đó là sách của một người vừa là một thính gỉa hàng đầu vừa là một người chiêm ngắm đã dần dần đi sâu vào những lời tâm phúc thân thiết của Chúa.

Bởi không thể nào giải thích Tân ước được toàn bộ, nên chúng ta sẽ không dõi theo từng sách một mà cắt nghĩa. Nhưng chiếu theo cái diễn tiến của Tân ước vừa kể trên mà học ít điểm chính của Tân ước chiếu theo 3 giai đoạn vừa kể trên.

(còn tiếp)

Lm Nguyễn Thế Thuấn CSsR

(trích tài liệu giảng huấn phổ biến nội bộ)