Tuesday, 23 June 2009

SÁM HỐI CỦA TẬP THỂ GIÁO HỘI - Lm CHÂN TÍN

1. Hôm qua, ta đề cập đến sám hối cá nhân thường thường ta dựa vào lề luật để xét mình và sám hối (10 điều răn Thiên Chúa, 6 điều răn Hội Thánh). Tôi đã lưu ý anh chị em việc sám hối dựa trên căn bản của một Kitô hữu: lời gọi nên hoàn hảo của Chúa Kitô và ba chức năng của Kitô hữu (tư tế, ngôn sứ, vương đế).

2. Hôm nay, ta đề cập đến sám hối của tập thể Giáo Hội dựa trên mầu nhiệm và sứ mạng của Giáo Hội.

3. Mầu nhiệm Giáo Hội:

Trong hiến chế về mầu nhiệm Giáo Hội, công đồng Vatican nói: Ánh sáng thế gian chính là Đức Kitô, do đó Giáo Hội phải phản chiếu ánh sáng ấy cho muôn dân, khi rao giảng Tin Mừng cho mọi người. Giáo Hội là bí tích của Chúa Kitô, vừa là dấu hiệu, vừa là phương tiện để mật thiết kết hợp với Chúa và hợp nhất nhân loại với nhau. Vì thế giáo hữu phải biết rõ đặc tính và sứ mạng Chúa Kitô đã giao phó cho Giáo Hội.

Ý Chúa Cha là cứu độ mọi người: Thiên Chúa muốn nâng mọi người lên tham dự đời sống Thiên Chúa – con người sa ngã. Chúa Kitô cứu độ - Thiên Chúa muốn những ai tin Chúa Kitô họp thành Giáo Hội – Chúa Kitô lập Giáo Hội, Chúa Thánh Thần hoàn tất.

Giáo Hội nhiệm thể Chúa Kitô: Chúa Kitô là đầu. Một thân mình, nhiều chi thể. Đòi hỏi sự hợp nhất trong sự khác biệt của các chi thể trong Giáo Hội có cố gắng xây dựng sự hợp nhất và tôn trọng sự khác biệt các chi thể? Để cho Chúa Kitô là đầu lãnh đạo Giáo Hội qua lời Ngài không bị bóp méo? Tôn trọng giám mục, không để cho một đoàn thể nào trong Giáo Hội dựa vào quyền lực để điều khiển sinh hoạt của Giáo Hội? tinh thần Đức Kitô hay tinh thần thế gian chạy theo chiều gió chi phối Giáo Hội? Giáo Hội là một thân thể có phần vô hình và hữu hình, ta làm gì để phát triển? Có phấn đấu để có điều kiện phát triển?

Chức năng tư tế: Giáo Hội là dân riêng mới của Thiên Chúa, với giao ước mới trong Máu Chúa Kitô. Chúa Kitô là linh mục thượng phẩm – trao quyền cho hàng giáo phẩm, ngoài chức tư tế cộng đồng của toàn thể tín hữu và của mỗi tín hữu, như đã nói hôm qua.

Giáo hội Việt Nam đã làm gì, đã phấn đấu như thế nào để Giáo Hội Việt Nam thực hiện chức năng tư tế của hàng giáo phẩm?

Để bảo đảm chức năng tư tế, ta cần:

- Đào tạo Linh mục: tự do lập chủng viện, chọn giáo sư, chọn chủng sinh, chọn chương trình đào tạo.

- Việc thuyên chuyển linh mục coi xứ, phong Giám mục, Linh mục.

- Tổ chức phụng tự, thánh lễ, cầu kinh có được tự do chưa? Đã phấn đấu?

Phải nói là cho đến nay, chưa phấn đấu đủ - không phải âm thầm năn nỉ ỉ ôn, mà công khai cho dư luận biết.

Chức năng ngôn sứ: tự do rao giảng Tin Mừng, Giáo lý tân tòng, trẻ em? Sách vở báo chí? Kinh thánh? Sinh hoạt Việt Nam có nói thẳng nói thật với chính quyền về những vi phạm tự do tôn giáo? Có lên tiếng bênh vực nhân quyền, dân quyền? Hiến chế về giáo hội trong thế giới ngày nay nói: “Nỗi vui mừng và niềm hy vọng, những buồn khổ và mối lo âu của con người hôm nay, cách riêng của những người nghèo và của tất cả những ai đang đau khổ, đó cũng là vui mừng và hy vọng, đau buồn và lo âu của môn đệ Chúa Kitô: không có gì liên quan đến nhân loại mà không có tiếng vang trong cõi lòng tín hữu Chúa Kitô. Công đoàn Kitô hữu gồm những con người, được họp lại trong Chúa Kitô, được Chúa Thánh Thần hướng dẫn trên đường về nước Cha, họ mang sứ điệp cứu rỗi phải được gởi đến cho tất cả. Công đoàn tín hữu cảm thấy thực sự và sâu xa liên đới với con người lịch sử nhân loại”.

Trong tinh thần phục vụ con người, Giáo Hội Việt Nam cần xét mình lại xem mình có thực sự và sâu xa liên đới với con người Việt Nam hôm nay.

Người Việt Nam hôm nay hy vọng và lo âu cái gì? Họ lo âu trước tình trạng của một xã hội tan rã trên mọi phương diện: trong đó họ bị tước đoạt những quyền căn bản của con người và người dân. Con người sinh ra bình đẳng và tự do, có tất cả những quyền căn bản của con người mà Thiên Chúa ban cho họ - thêm vào đó ngày 10 tháng 12 năm 1948, Liên Hiệp Quốc đã ra Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền, có đoạn nói như sau:

“Xét rằng thừa nhận phẩm giá cố hữu những quyền bình đẳng và bất khả nhượng của con người trong đại gia đình thế giới là đặt nền tảng cho tự do, công lý và hòa bình thế giới.

Xét rằng vì không biết rõ và khinh miệt nhân quyền, nên loài người đã có những hành động dã man đối với lương tâm và xét rằng sự tiến tới một thế giới trong đó nhân loại sẽ được hưởng tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng và tự do sinh sống không phải sợ hãi và thiếu thốn, đã được tuyên bố là nguyện vọng cao cả nhất của con người.

Xét rằng điều tối cần là nhân quyền phải được pháp luật che chở, nếu muốn cho loài người không bao giờ phải dùng đến phương tiện nổi loạn, để chống lại sự tàn bạo và áp bức…Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc công bố bản tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền này như là một lý tưởng chung cho các dân tộc và các quốc gia phải tiến tới”.

Tiếp đó, bản tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền đưa ra 30 điều về nhân quyền: Quyền được hưởng tự do và an ninh cá nhân (3); Quyền không bị hành hạ hay ngược đãi, bị đối xử hay trừng phạt một cách vô nhân đạo, làm hại phẩm cách con người (5); Quyền được bình đẳng trước pháp luật, được pháp luật bảo vệ (7); Quyền khỏi bị bắt bớ giam cầm hay lưu đày một cách trái phép (9); Hưởng một cách bình đẳng quyền nhờ vào một tòa án vô tư và độc lập (10); Quyền được coi như vô tội khi bị truy tố mà chưa có tòa xét xử với bằng chứng để buộc tội (11); Quyền không được xúc phạm trái phép đến đời tư, gia quyến, nhà ở, thư từ (12); Quyền được tự do di chuyển và trú ngụ bất cứ nơi nào trong nước họ và quyền tự do rời bỏ bất cứ noi nào, kể cả xứ mình, hoặc trở về xứ sở mình (13); Quyền tự do kén chọn một quốc tịch theo ý muốn (14); Quyền tự do tư tưởng, tự do tín ngưỡng (18); Quền tự do bày tỏ ý kiến, tự do tìm kiếm, thu nhận và truyền bá những quan niệm và ý tưởng của mình (19); Quyền tự do hội họp và lập hội để theo đuổi những mục tiêu hòa bình và không ai bị bắt buộc phải ở trong một hội nào (20); Quyền bầu cử tự do (21); Quyền hưởng an ninh xã hội (22); Quyền làm việc, quyền tự do chọn lựa việc làm của mình, quyền hưởng số lương phải chăng và đủ để bảo đảm cho mình và cho gia đình một đời sống xứng đáng với phẩm giá con người, mọi người có quyền lập và gia nhập nghiệp đoàn để bảo vệ những quyền lợi của mình (28); Quyền hưởng một mức sống đầy đủ cho sức khỏe và hạnh phúc của mình, của gia đình mình, quyền hưởng tiện nghi giáo dục, y tế, quyền cha mẹ lựa chọn sự giáo dục cho con cái (26)…

Giáo Hội Việt nam, trong đó có Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, các Giám mục địa phận, các linh mục, tu sĩ và giáo dân, Giáo Hội Việt Nam đã làm gì, đã lên tiếng khi thuận khi nghịch, khi âm thầm khi công khai, để người trả lại những quyền căn bản của con người cho người Việt nam hôm nay?

Phải nói là đau lòng khí thấy Giáo Hội quá âm thầm chịu đựng và không dám nói thẳng nói thật. Có nói âm thầm không, chắc cũng có, nhưng như đi xin ân huệ, năn nỉ ỉ ôi, trả giá – còn công khai thì thật là hiếm – còn có ông vỗ ngực đại diện giới Công giáo đã vung vít tuyên bố một câu nghe xanh rờn như một lời tuyên xưng Đức tin vào đảng Cộng sản Việt Nam, tại buổi họp khoáng đại của Quốc hội (7.7.1976) : “Tôi xin phép nói lên tâm tình của một Linh mục Công giáo (…) Báo cáo chính trị (của Quốc hội) càng làm cho tôi xác tín thêm hơn nữa rằng con người mới, xã hội mới mà mọi người đều mơ ước, mà mọi người tin vào Chúa Kitô mãi mơ ước, con người mới đó, xã hội mới đó không thể có được, không bao giờ có được, không bao giờ có được, nếu không có đảng Lao Động Việt Nam (đảng CSVN), đội tiền phong của giai cấp công nhân lãnh đạo và tổ chức

Không biết Linh mục ấy đã ân hận chưa ? Có lẽ ân hận vì những gì mắt thấy tai nghe, không thể mù không thể điếc được, thì phải nhức nhối lắm. Nhưng có sám hối chưa ? Chưa thấy. Đã công khai nói như thế, thì sự sám hối cũng phải công khai.

Một vị yêu nước khác lại tuyên bố nào là Nước Thiên Chúa đã đến với chế độ cộng sản Việt Nam, nào là đảng cộng sản Việt Nam tạo điều kiện cho ta giữ đạo. Đó là những lời nịnh bợ vô liêm sỉ, khi Giáo hội đang bị bóp chết bằng cách giới hạn đào tạo Linh mục, đóng cửa các nhà đạo tu sĩ, cấm in sách vở báo chí Công giáo, việc dạy giáo lý bị giới hạn, việc thờ phụng có nơi bị làm khó dễ, Linh mục đi lại giảng đạo nơi khác bị cấm đoán, các hội đoàn tông đồ giáo dân, công tác xã hội giáo dục bị loại bỏ.

Còn có vị trong hàng lãnh đạo của Giáo hội Việt Nam, hoặc ngây thơ vô tội, hoặc có tính toán, nên khi người ta “cho phép” cái không cần “xin phép”, thì quấn quýt coi như ân huệ rồi khen lấy khen để ông nào đó như câu : “Người tốt lắm, Người chân thành lắm”. Trên đất nước này, người ta coi mọi nhân quyền và dân quyền là ân huệ người ta có thể ban cho, có thể giới hạn, có thể tăng lên, có thể mở rộng, có thể rút luôn. Họ coi họ hơn cả Thiên Chúa -- Thiên Chúa ban cho con người tự do và không bao giờ rút lại, kể cả khi con người phản bội Ngài, đóng đinh con của Ngài. Giáo hội phải đòi người ta trả những quyền căn bản của con người chứ không có vấn đề xin xỏ, năn nỉ, ỉ ôi.


. Chức năng vương đế :

Giáo hội Việt Nam phải phấn đấu để thực thi quyền phục vụ con người mà Thánh Kinh gọi là quyền vương đế. Phục vụ người nghèo, người đau khổ, người bị bóc lột, người bị áp bức. Một Mục sư như Luther King đã bị ám sát ở Hoa Kỳ vì bảo vệ quyền người da đen chống phân biệt chủng tộc. Giám mục Roméro, sáu Linh mục Dòng Tên bị ám sát ở San Salvador vì bênh vực những người bị áp bức; một Hồng y khác như Tomasek ở Tiệp Khắc phấn đấu cho Giáo hội như lời Ngài tuyên bố trước 200 ngàn người biểu tình tại Praha ngày 21.11.89 và đã được đọc tại các nhà thờ ngày chủ nhật 26.11.89.

Sau khi đề cao công chúa Anê miền Bohêmin của Tiệp vừa được Đức Giáo chủ Gioan Phaolô II phong lên hiển thánh là một người tuy tu trong một Đan viện vì lòng mến Chúa yêu người, nhưng Ngài không ngừng ở cạnh dân mình trong những giờ phút vinh quang cũng như trong những lúc tủi nhục, Đức Hồng Y Tomasek nói :

“Về phần tôi, tôi không thể nào tỏ ra xa lạ với định mệnh Quốc gia chúng tôi và toàn thể đồng bào đất nước tôi. Tôi không thể im lặng trong lúc tất cả anh chị em đang hiệp lực với nhau để phản đối những bất công mà anh chị em phải chịu từ 40 năm nay, người ta không thể duy trì lòng tín nhiệm đối với giới lãnh đạo quốc gia không muốn nói sự thật và chối bỏ các quyền lợi và các quyền tự do của nhân dân với truyền thống có từ hàng ngàn năm nay những quyền này vẫn được coi là những quyền bình thường trong những quốc gia trẻ trung hơn đất nước chúng ta”.

Rồi Ngài kể lại bao nhiêu lần Giáo hội gửi đến nhà nước những lời khiếu nại, nhưng mà nhà nước đã làm ngơ. Giáo hội tiếp tục lệ thuộc nhà nước theo những điều hạn chế được áp đặt trên Giáo hội từ thời Staline. Trong việc cai quản Giáo phận, các giám mục hoàn toàn lệ thuộc nhà nước với lời nói quyết định trong vấn đề này dường như vẫn là lời nói của Cơ quan Mật vụ những cuộc hội họp của các Giám mục và Linh mục đều bị cản trở vì sự hiện diện của các đại diện nhà nước trong các buổi họp, bầu không khí thiếu tự do, các tín hữu trưởng thành cũng như con cái họ và nhất là các bạn trẻ Công giáo cảm thấy thực sự khó thở…

Tình trạng đau buồn tương tự như thế cũng xảy ra trong các lãnh vực khác của đời sống, trong lãnh vực khoa học, văn hóa, thông tin.

Rồi Ngài kết luận : “Tôi cũng muốn ngỏ lời với tất cả anh chị em trong giờ phút quyết liệt này của lịch sử chúng ta. Không ai trong anh chị em được đứng ngoài lề. Hãy lại lên tiếng hợp với tất cả công dân Tiệp Khắc, cùng với những người thuộc sắc tộc khác, dầu họ là tín hữu hay không có tín ngưỡng. Quyền tự do tín ngưỡng không thể tách rời khỏi những quyền dân chủ khác, tự do là điều không thể phân chia được”,

Những lời tuyên bố trên đây của Đức Hồng Y Tomasek làm cho tôi suy nghĩ. Và tôi cũng để cho anh chị em suy nghĩ, sau khi tôi phân tích tình trạng thiếu phấn đấu của Giáo hội Việt Nam cho tự do tôn giáo và cho nhân quyền và dân quyền của người dân Việt Nam hôm nay. Mong rằng Giáo hội Việt Nam sẽ sám hối về những thiếu sót đó. Để kết thúc tôi đưa ra lời nói cuối cùng của Hồng y Tomasek trong buổi mitting kể trên. Ngài nói :

“Tôi xin chấm dứt nơi đây với những lời đã từng vang dội đã lâu trong lịch sử chúng ta : “Với sự trợ giúp của Thiên Chúa, số phận của chúng ta ở trong tay chúng ta”. Amen. Amen. Amen.

10.04.1990

LM CHÂN TÍN

Friday, 19 June 2009

SÁM HỐI CÁ NHÂN - LM. Chân Tín

Mùa chay là mùa sám hối. Tuần Thánh là chớp đỉnh của cuộc sám hối.

Khi có ý định lấy việc sám hối làm đề tài cho ba ngày tĩnh tâm của giáo xứ ta, tôi cũng có chút nghĩ ngợi: Anh là gì mà đi giảng sám hối cho kẻ khác? Bộ anh thánh lắm hả, chả cần sám hối? thôi đi ông, ông có nghe câu ngạn ngữ: “Ông lang ở, hãy chữa mình trước đã!” Đúng thế anh chị em. Nói đến sám hối là tôi nghĩ đến tôi trước hết. Hơn ai hết, linh mục là người phải sám hối nhiều nhất, vì đã lãnh năm nén bạc. Mà linh mục là người yếu đuối như ai, cũng bị tham sân si chi phối, cũng chưa thực thi tốt chức năng của người tín hữu và của người có chức vụ linh mục.

Đến đây, tôi nhớ một câu chuyện tiếu lâm nghe được trong một buổi cơm gia đình mà tôi là linh mục độc nhất. Tôi nhớ đại khái: một hôm, có một linh mục và mấy ông giáo dân của ông sắp vào Thiên Đàng. Vậy cũng ngon rồi. Tuy Chúa đã phán xét rồi, nhưng ông Phêrô còn muốn kiểm tra lần cuối. Thủ kho to hơn thủ tướng đó mà. Phêrô sai mấy ông thánh tí hon mang một hộp phấn xuống chân cầu thang trao cho mỗi người một cục phấn để vừa đi lên vừa biên tội mình ở mỗi bậc thang. Mấy ông giáo dân người thì xài nửa cục, người 2/3, người cao lắm một cục còn ông cha sở lấy một cục phấn hì hục biên tội, lên mãi tận trên. Nhưng thấy ông lại đi xuống. Giáo dân thắc mắc sao bố lại đi xuống. Ông buồn rầu bảo: tôi viết hết một cục phấn rồi, mà chưa hết tội, tôi xuống xin thêm một cục nữa.

Câu chuyện tiếu lâm đại loại như thế, để thấy rằng càng nhiều chức phận, càng nhiều trách nhiệm và đồng thời cũng nhiều sai lầm.

Anh chị em thân mến,

Mỗi người chúng ta là một cá nhân chịu trách nhiệm về đời sống Kitô hữu của ta. Vì thế có vấn đề sám hối cá nhân. Nhưng người Kitô hữu không đơn độc. Chúa đã muốn tụ họp tất cả trong một cộng đoàn, cộng đoàn Giáo Hội. Với tư cách là thành phần của Giáo Hội, mỗi người chúng ta đều có trách nhiệm về những thiếu sót của Giáo Hội. Vì vậy, ta còn phải sám hối trong lòng Giáo Hội. Đàng khác, ta là công dân nước Việt Nam, ta cũng có trách nhiệm về những thiếu sót của Đất nước ta.

Hôm nay, tôi đề cập đến sám hối cá nhân. Ngày mai, về sám hối trong lòng Giáo Hội, và ngày mốt, sám hối trong lòng dân tộc.

1. Lời kêu gọi của các tiên tri:

- Joel (2,12-18): “Bấy giờ Chúa phán: “Các ngươi hãy thật lòng trở về với ta trong chay tịnh, nước mắt và than vãn. Hãy xé tâm hồn, chứ đừng xé áo các ngươi. Hãy trở về với Chúa là Thiên Chúa các ngươi vì Ngài nhân lành và từ bi, nhẫn nại, giàu lòng thương xót…Hãy kêu lên: Lạy Chúa, xin thương xót dân Chúa…Chúa đã tha thứ cho dân Ngài.”

- Isaia (58,1-14): “Các ngươi ăn chay trong sự cãi vã, ẩu đả và đánh nhau hung tợn…Ăn chay như ta mong muốn là hủy bỏ xiềng xích bất công, tháo gỡ ách nặng, trả tự do cho kẻ bị áp bức, dẹp bỏ mọi gánh nặng, chia sẻ cơm bánh cho kẻ đói, tiếp rước những kẻ phiêu bạc không nhà, cho kẻ trần truồng áo mặc. Nếu ngươi loại bỏ khỏi tâm hồn sự đàn áp, cử chỉ đe dọa và những lời hiểm độc, khi ngươi hết lòng quảng đại với người đói khát làm cho tâm hồn đau khổ được thư thái, thì sự sáng của ngươi xuất hiện trong tối tăm.”

- Gioan (3,1-10): “Còn 40 ngày nữa, Ninivê sẽ bị hủy. Dân thành tin tưởng nơi Thiên Chúa, củng cố việc ăn chay, mặc áo nhặm. Vua ra sắc lệnh: phải kêu to lên cùng Chúa và phải cải thiện đời sống, phải bỏ đàng tội lỗi và những điều bất chính đã phạm. Biết đâu Chúa sẽ đổi ý và tha thứ chúng ta khỏi chết.” Và Chúa đã tha cho họ.

- Ezechiel (18,21-28): “Nếu kẻ gian án ăn năn, sám hối mọi tội nó phạm, tuân giữ mọi giới răn của ta và thực thi công bằng chính trực, nó sẽ sống chứ không phải chết.”

- Daniel (9,4-10): “Chúng tôi đã phạm tội và làm điều gian ác, chúng tôi đã làm điều bất chính và phản bội, chúng tôi đã bỏ các giới răn và lề luật Chúa, chúng tôi đã không nghe lời các tiên tri tôi tớ Chúa. Lạy Chúa, điều dành cho chúng tôi, các vua Chúa, thủ lãnh, cha ông chúng tôi là phải chịu hổ mặt; vì đã phạm tội. Lòng từ bi và tha thứ thuộc về Chúa là Thiên Chúa chúng tôi, vì chúng tôi phản bội cùng Chúa.”

- Isaia (10,16-20): “Hãy lắng ta nghe lề luật Thiên Chúa. Hãy tắm rửa, hãy thanh tẩy, hãy dẹp khỏi mắt ta các tư tưởng xấu xa, đừng làm điều xấu nữa, hãy làm điều lành, hãy tìm kiếm công lý, hãy cứu giúp kẻ bị áp bức, hãy xét xử công bằng cho những trẻ mồ côi và bênh vực cho ngườ góa bụa!”

- Jeremia (17,5-10): “Khốn thay cho kẻ tin tưởng người đời, họ nương tựa và sức mạnh con người, còn tâm hồn họ sống xa Chúa. Họ như cỏ cây trong hoang địa, họ ở nơi khô cháy trong hoang địa, vùng đất mặn không người ở. Phúc cho những người tin tưởng vào Thiên Chúa và Thiên Chúa sẽ là niềm hy vọng của họ. Họ sẽ như cây trồng bên bờ suối, cây đó đâm rễ vào nơi ẩm ướt, không sợ gì khi mùa hè đến, lá vẫn xanh tươi, không lo ngại gì khi nắng hạn, mà vẫn sinh hoa kết quả luôn.”

- Michêa (7,14-15, 18-20): “Có Chúa nào giống như Chúa là Đấng dẹp tan mọi bất công và tha thứ mọi tội lỗi của kẻ sống sót thuộc về Chúa? Chúa không khư khư giữ mãi cơn thịnh nộ của mình, vì Chúa ưa thích lòng từ bi, Chúa còn thương xót chúng tôi, còn dày đạp những bất công của chúng tôi dưới chân Chúa và ném mọi tội lỗi chúng tôi xuống đáy biển.”

- Daniel (3,25, 34-43): “Xin đừng hủy bỏ lời giao ước của Chúa, xin chớ cất lòng từ bi Chúa khỏi chúng tôi. Chúng tôi đã trở nên yếu hèn hơn mọi dân tộc và hôm nay, vì tội lỗi chúng tôi, chúng tôi bị nhục nhã ở mọi nơi…Với tâm hồn sám hối và với tâm hồn khiêm tốn, chúng tôi xin Chúa chấp nhận…Xin đừng để chúng tôi phải hổ thẹn, xin hãy đối xử với chúng tôi theo lòng nhân hậu và lòng từ bi sung mãn của Chúa.”

- Osê (14, 2-10): “Các ngươi hãy trở về với Chúa và thưa: xin hãy xóa bỏ tội ác.”

2. Lời kêu gọi của Gioan Tẩy giả:

Chúng ta vừa nghe Tin Mừng theo Matthêô (3, 1-12). Gioan kêu gọi dân “hối cải vì nước Trời đã gần bên”. Đối với những người thật tình sám hối, Gioan làm phép rửa cho họ. Khi họ “xưng thú tội lỗi”, còn biệt phái bè Sađốc đến xin làm phép, mà không sám hối, thì Gioan đã có những lời nặng nề: “Nòi rắn độc, ai mách cho các người trốn cơn thịnh nộ hòng đến. Hãy sinh quả phúc đức xứng với lòng hối cải, đừng tưởng nói được với mình: Ta có cha là Abraham. Tôi bảo cho các ông: Thiên Chúa có thể lấy những viên đá này mà gầy nên con cái cho Abraham. Lưỡi rìu đã sẵn gốc cây, cây nào không sinh quả lành sẽ bị chặt và quăng vào lửa. “Rồi Ngài nói với dân chúng: “Phần tôi, tôi sẽ thanh tẩy anh em bằng nước để lo hối cải. Còn Đấng sẽ đến sau tôi, quyền thế hơn tôi và tôi không dám xách dép cho Ngài. Ngài sẽ thay đổi anh em trong Thánh Thần và lửa. Cái rê lúa sẵn trong tay, Ngài sẽ sảy sạch lúa sân Ngài”.

3. Lời kêu gọi hối cải của Chúa Kitô:

Tin Mừng theo Luca (13,1-9) nhắc lời kêu gọi của Chúa Giêsu khi có người đến báo tin cho Ngài về những người Galilê bị tổng trấn Rôma đổ máu hòa với lễ tế họ. Ngài nói với họ: “Các anh tưởng những người Galilê ấy là hạng người tội lỗi hơn mọi người Galilê khác, vì đã khốn như thế. Không đâu, tôi bảo các anh: nếu các anh không hối cải thì các anh cũng sẽ bị tiêu diệt như thế. Hay 18 người đã bị tháp Siloam đổ xuống đè chết kia, các ngươi tưởng họ có tội hơn mọi người trú ngụ tại Giêrusalem sao? Không đâu. Tôi bảo các anh: Nếu các anh không hối cải, các anh cũng sẽ bị tiêu diệt giống như thế”.

Thưa anh chị em, qua lời của các tiên tri cũng như của Gioan và của Đức Kitô, việc sám hối của ta là việc căn bản, nếu chúng ta muốn chấp nhận ơn cứu độ dồi dào của Chúa Kitô trong mùa Phục Sinh này.

4. Thế nào là sám hối?

a- Không phải đấm ngực khóc lóc như ít người làm khi xưng tội, hơn mấy người khóc mướn, nhưng chả có gì cả.

b- Không phải chỉ có ân hận.

. Giuđa ân hận đã làm cho Chúa Giêsu bị lên án, trả tiền lại đền thời, rồi đi thắt cổ.

. Người trộm dữ ân hận vì bị bằt, bị án xử tử. Nhưng lại thách Chúa Giêsu sao không tự cứu mình và cứu hắn.

. Mười Vân, giám đốc Công an Đồng Nai: trước tòa y ân hận vì đã tổ chức bảy chuyến di tản để hốt vàng, tổ chức làm ăn phi pháp với lực lượng công an, làm hồ sơ giả để bắt giam người vô tội, hối lộ, tham ô, móc ngoặc. Cho thân nhân 118 căn nhà, 87 xe hơn, 19 xe máy, 919 đồng hồ và những máy móc.

. Cán bộ cao cấp (tỉnh ủy, chủ tịch, trưởng phòng hình sự) dính vào vụ Đường Sơn Quán: ân hận, chưa sám hối.

c- Sám hối là đổi mới sau khi đã ân hận.

. Người con trai hoang đàng ân hận vì đói rách ( chưa vì cha mình), nhưng đã trở về với cha và bắt đầu cuộc sống mới bằng đứa con hiếu.

. Đứa con từ chối làm việc cha nó bảo rồi sám hối và làm như ý cha.

. Zakhê: ân hận vì những bất công và hứa sẽ trả gấp bốn lần.

. Phêrô: ân hận đã chối Chúa và trở lại, hy sinh cả cuộc đời cho Chúa.

. Người trộm lành: ân hận vì tội mình và xin Chúa cho về nước Ngài.

. Phaolô: ân hận đã bắt bớ Giáo Hội, trở lại trên đường Damas và hy sinh rao giảng Đức Kitô.

. Một Augustinô, một Foucault, sau một cuộc đời buông thả, đã ân hận, đã sám hối bằng một cuộc trở lại với Thiên Chúa và hiến cả cuộc đời cho Nước Trời.

. Một số tín hữu quen biết cũng đã có một cuộc đời bê bối, ích kỷ, nhưng sau khi đã ân hận, đã sám hối bằng cách đổi mới cuộc đời.

5. Sám hối về những gì?

a. Thường tình, ta sám hối vì đã phạm luật (Mười điều răn Đức Chúa Trời, Sáu điều răn Hội Thánh). Ít khi ta sám hối về thiếu tình yêu đối với Chúa và con người. Ta chỉ sám hối cái tiêu cực. Còn cái tích cực mà ta bỏ qua, ta không sám hối. Đây là điều phải sám hối vì rất căn bản.

ta coi chừng việc thỏa mẵn vì đã giữ lề luật. Người biệt phái đã tự mãn, cho mình là công chính. Nhưng lại thiếu bác ái (chống Chúa Giêsu vì đã làm phép lạ ngày Sabat).

b. Sám hối căn bản mà tôi muốn đề cập hôm nay là thực hiện ơn kêu gọi nên hoàn hảo và thực thi ba chức năng của người Kitô hữu (tư tế, ngôn sứ và vương đế).

Nên hoàn hảo

Tin Mừng theo Matêô (5,48) đề cập đến các mối phúc thật và tinh thần yêu thương của đạo mới và kết thúc bằng lời gọi của Chúa Giêsu: “Các con hãy nên trọn lành như Cha các con trên trời là Đấng trọn lành”.

Công đồng Vatican II, trong Hiến chế về Giáo Hội, chương 5, cũng có đề cập đến vấn đề này: “Mời gọi chung mọi người trong Giáo Hội phải nên thánh”. Lời mời gọi này, lệnh này của Đức Kitô liên hệ đến mọi người. Nghe đến đây, có người sẽ nói: “Việc nên thánh, việc nên hoàn hảo là việc của mấy ông cha bà phước, chớ đâu là việc của chúng tôi, những giáo dân, ở ngoài đời, có được lên Thiên đàng cũng ngon rồi”. Nghĩ như vậy là lầm to rồi. Chưa xác tín điều đó thì thấy cần phải sám hối rồi đó. Vì đây là vấn đề căn bản của đời sống Kitô hữu. Công đồng nói: “Giáo hội là hoàn toàn thánh thiện trước con mắt đức tin. Thật vậy, Đức Kitô, con Thiên Chúa cùng với Chúa Cha và Thánh Linh, được xưng tụng là Đấng Thánh duy nhất đã yêu mến Giáo Hội như hiền thê đã hiến thân để thánh hóa Giáo Hội (Ep 5,15-26). Ngài đã kết hợp với Giáo Hội như thân thể Ngài và đã ban đầy ơn Thánh Linh để Thiên Chúa được vinh danh. Vì thế, trong Giáo Hội, mọi người, dù thuộc hàng giáo phẩm hay được hàng giáo phẩm dìu dắt, đều được mời gọi nên thánh như lời thánh Phaolô: “Vâng, thánh ý Thiên Chúa là muốn cho anh em nên thánh” (1 Th. 4, 3; Ep. 1,4).

Sự thánh thiện này của Giáo Hội vẫn thấy và biểu lộ bằng những thành quả do ơn Chúa Thánh Linh phát sinh trong tín hữu; dưới mọi hình thức, sự thánh thiện được thấy qua những người cố đạt tới đức Mến trọn hảo trong lối sống riêng biệt nên gương cho người khác. Là thầy và mẫu mực của mọi sự trọn hảo, Chúa Giêsu đã dạy tất cả và từng môn đệ của Ngài, dù họ ở địa vị nào, phải sống thánh thiện như Chúa là Đấng khởi xướng và kết thúc: “Chúng con hãy nên trọn hảo như Cha chúng con ở trên trời là Đấng trọn hảo”. Và thực sự Chúa đã gởi Thánh Linh Người đến với tất cả, thúc đẩy bên trong để họ “mến Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn, hết năng lực” (Mc 12,13) và thương nhau như Giêsu đã thương họ (Gn 13, 34; 15, 12). Được Chúa gọi, không phải vì công đức của họ, nhưng chỉ vì Chúa muốn ban ơn để họ trở nên công chính trong Đức Kitô; là môn đệ Kitô nhờ phép rửa, họ thực sự trở nên con cái Thiên Chúa, tham dự vào bản tính Chúa và dĩ nhiên thực sự họ là Thánh. Sự thánh hóa đã nhận được, ta phải giữ gìn và hoàn thành qua cuộc sống của mình. Phaolô đã khuyến cáo ta sống như những vị thánh (Ep 5, 3), và mặc lấy những tâm tình từ bi, nhân hậu, khiêm nhu, hiền từ, đại lượng, chịu đựng lẫn nhau, tha thứ cho nhau… “cũng như Chúa đã tha thứ cho anh em, anh em hãy tha thứ cho nhau. Và trên hết các điều ấy, anh em hãy mặc lấy đức Mến, tức là giềng mối của sự trọn hảo” (Col 3,12-14).

Đề cập đến những đặc tính của lòng Mến, thánh Phaolô nói: “Lòng Mến thì khoan dung, nhân hậu, lòng Mến không ghen tuông, không ba hoa, không tự mãn, không khiếm nhã, không ích kỷ, không cáu kỉnh, không chấp nhất sự dữ, không mừng trước sự bất công, nhưng biết chia vui cùng lòng chân thật” (Co 13, 4-6).

Như vậy, chúng ta thấy rằng việc nên trọn hảo là lời mời gọi, là mệnh lệnh của Chúa Kitô đối với mọi tín hữu, không trừ một ai. Xưa nay ta có bao giờ sám hối về việc nên trọn hảo này không hay chỉ xét mình năm điều bảy chuyện, rồi có khi chả có ân hận, chả có sám hối, cốt là đi xưng tội là thấy yên tâm.

Ba chức năng của tín hữu

Đề cập đến mầu nhiệm Giáo Hội mà mỗi chúng ta là thành phần, Cộng đồng Vatincan II gọi chúng ta là “dân Thiên Chúa”. Cũng như Thiên Chúa đã chọn Israel làm dân riêng của Ngài, bằng giao ước cũ, thì nay trong máu Chúa Kitô, Thiên Chúa đã kêu gọi ta làm dân mới của Ngài và đã ký với ta một giao ước mới: như vậy ta đã trở nên “dòng giống được lựa chọn, hàng tư tế, hoàng vương, một dân tộc thánh” (1P 2,9-10). Chính Chúa Kitô là thủ lãnh của dân mới này, vì Ngài “đã bị nộp vì tội ta và đã sống lại vì sự công chính hóa của chúng ta” (Rom. 4,25).

. Chức tư tế:

Người Kitô hữu nhờ sự tái sinh trong Thánh thần, đã được thánh hiến để trở nên đền thờ thiêng liêng và một hàng tư tế thánh, để nhờ tất cả hoạt động của người Kitô hữu, dâng lên Thiên Chúa những của lễ thiêng liêng của chính bản thân, cũng như hoạt động. Dâng mình là của lễ hy sinh sống động, chứng tá cho Chúa. Tham gia chức tư tế của linh mục trong bí tích Thánh Thể và tiếp nhận các bí tích, bền tâm cầu nguyện, tạ ơn, từ bỏ mình và bác ái thực sự.

. Chức ngôn sứ:

Đức Kitô là ngôn sứ của Thiên Chúa, bằng chứng là của đời sống và sức mạnh của lời nói, Ngài đã tuyên bố nước Trời với những đòi hỏi của nó. Muốn làm ngôn sứ, tín hữu phải nghe lời Chúa, đọc lời Chúa, chia sẽ lời Chúa. Người giáo dân còn là ngôn sứ bằng làm chứng tá trong đời sống gia đình, xã hội, trong các cơ cấu trần gian. Tông đồ giáo dân, phúc âm hóa xã hội. Đôi lúc thay thế linh mục làm một số mục vụ.

. Chức vương đế:

Phục vụ trong khiêm nhường, bền chí, gương mẫu, Chúa Kitô đã phục vụ cho đến chết trên thập giá. Dùng khả năng chuyên môn để nâng cao lao động, kỹ thuật, văn hóa, chia sẻ của cải công bằng, tranh đấu cho tự do, nhân phẩm, cải thiện điều kiện sống. Lành mạnh hóa các cơ cấu và hoàn cảnh, phù hợp với đòi hỏi của công bằng. Đem những giá trị luân lý thấm nhập vào văn hóa và việc làm của con người.

Như vậy, là chuẩn bị cho cánh đồng để đón nhận hạt giống Kitô giáo. Đón nhận Lời Chúa và mở cửa cho hoạt động của Giáo Hội.

Phân biệt tư cách công dân và tư cách người của Giáo Hội (quyền lợi và nghĩa vụ). Dung hòa quyền lợi và nghĩa vụ.

Lương tâm công giáo hướng dẫn hoạt động trần thế. Hoạt động trần thế được quản trị theo luật riêng của nó nhưng được lương tâm tôn giáo cho một hướng đi nhân bản.

Cải thiện trật tự thế trần. Đấu tranh cho nhân quyền và dân quyền. Lo nên trọn hảo và thực thi ba chức năng của người Kitô hữu, đó là nội dung của cuộc sám hối của ta hôm nay.

Ta xác tín lời gọi nên trọn hảo như Cha trên Trời, đến mức độ nào hay ta nghĩ đó là chuyện ông cha bà phước?

Ta thi hành ba chức năng tư tế, ngôn sứ, vương đế như thế nào?

Anh chị em thân mến,

Chúng ta phải ân hận, phải sám hối, phải đổi mới tâm tư và sinh hoạt của chúng ta.

Nhân dịp Mùa Chay, mùa sám hối, ta hãy quyết tâm sám hối đến nơi đến chốn, chứ không chỉ tìm một sự công chính theo lề luật.

(09.04.1994)

LM. Chân Tín