Thursday, 8 November 2018

Gm John Spong : (Bài 10) Ly dị: không phải lúc nào cũng là chuyện sai quấy (tiếp theo)


Chương 4
Ly dị:
không phải lúc nào cũng là chuyện sai quấy (tiếp theo)
 (Bài 10)

Về hôn-nhân, ngày nay sẽ không có ai hiểu đó là tương-quan quyền-lực giữa hai nhân-vật không cân bằng. Càng ngày, ta càng thấy đây là thứ quan-hệ dục-tình giữa hai con người muốn tạo sự sống mới, với nhau. Và, cả hai người đều muốn sẻ san niềm vui xác thịt hoặc lao-động có phối-hợp, cốt ý tạo cuộc sống tốt đẹp về kinh-tế cho gia đình, để rồi trở-thành cặp phối-ngẫu biết lên kế hoạch định-đoạt tháng ngày chung sống, khi về già.

Quan-hệ như thế, có thể cũng sẽ tạo xung-đột nghiêm-trọng, vì một bên không thể chấm-dứt tranh-chấp bằng cách đơn-phương áp-đặt mọi chuyện lên phía bên kia. Với hôn-nhân, lời thề hứa sống trung-thành và chăm-lo cuộc sống thoải-mái cho người phối-ngẫu phía bên kia, sẽ buộc cả hai đi vào hiện-thực hoặc chẳng bắt buộc ai làm công việc ấy.

Giả như một bên đối-tác lại muốn có quan-hệ tình-dục ngoài hôn-nhân, thì cũng khó tránh khỏi lời bàn ra tán vào của cộng-đồng và xã-hội, là những người vẫn mong cho hai bên thể-hiện sinh-hoạt đồng dạng, theo cách hay nhất. Cứ nhìn cảnh-tượng nữ ‘thủ trưởng’ nọ xách cặp-táp ‘rong ruổi đường trường’ lo doanh-thương là sự việc mà ngày nay ai cũng thấy xảy ra ê hề tại phi-trường đây đó. Ngay đến quán trọ, là nơi khi xưa nam-giới thích sắp đặt hẹn-hò tư riêng, thì nay phụ nữ lại coi đó là chốn phục-vụ chuyên-nghiệp.

Mãnh-lực kinh-tế của nữ-giới nay cứ thế dâng trào, nên hết kỹ-nghệ này rồi đến công-ty khác vẫn tạo sản-phẩm và mẫu-mã quảng-cáo nào khả dĩ đáp-ứng năng-lực của nữ-giới đã xuất đầu lộ diện ngày một nhiều. Các quyết-định quan-trọng về kinh-tế gia-đình, dạo  trước trực-thuộc lãnh-vực của nam-giới, nay lại do cả hai bên tùy nghi định-đoạt.

Cả đến thói quen tệ-hại như hút xách, nay cũng dành cho hai bên ra quyết định đồng đều. Rốt cuộc, nay chẳng còn thấy đấng nam nhi khí-khái nào đó cứ rút vào thư-viện hút điếu xì-gà đang hút dở rồi mới tính chuyện kinh-doanh, sau bữa ăn. Cũng thế, ngày nay nữ-giới vẫn có quyền đặt chân đến quán-xá cà-phê định-vị tại khu làm đẹp để thưởng thức món ‘cốc-tai’ và/hoặc hút thuốc ở quanh đó, theo ý muốn mà không một ai lấy làm điều.

Lại nữa, cơ-hội để người phối ngẫu phía bên này ly dị người bên kia, nay được cả hai bên san sẻ đồng đều. Ở đây nữa, tôi không có ý đề-cao chuyện ly-dị, nhưng dù sao ta cũng phải công-nhận rằng: những chuyện tương-tự phải để cho hai bên có cơ-hội đồng đều mà quyết-định, hầu đi vào hiện-thực.

Khi xưa, có thời thiên-hạ coi đặc-quyền ấy là ‘của trời cho’ tặng riêng đám đàn ông thôi, nhưng nay thì việc này cũng thay đổi đến triệt-để. Nói cho cùng, thì điều này có ý bảo rằng: xã-hội ta đã thành-công trong việc nhân đôi số người có thể thoải mái thực-hiện việc ly-thân, ly-dị. Chính vì lý do đó, mà tỷ-số người ly-dị còn gia tăng hơn nữa.

Tuy nhiên, nhiều lý do khác nhau khiến việc gia tăng số người ly-dị cũng khá thường, là: mối quan-ngại về tài-sản có chủ-nhân-ông là phái nam đứng sở-hữu, thì các kỳ thị chống  ly-dị nay suy giảm cũng rất nhiều.

Vào độ trước, khi ứng viên Adlai Stevenson, Jr. đứng ra tranh cử tổng-thống Hoa Kỳ vào các năm 1952 và 1956, nhiều vấn đề được đặt ra do sự kiện là: ông là người có lần từng ly dị. Cũng may, là ông không tính chuyện tái giá, nên tránh được sự việc Giáo-hội thời đó phải có quyết định, giả như các vị này lại vẫn tính chuyện lập gia đình thêm lần nữa.

Dù sao thì đất nước này, hôm nay, vẫn không mấy chắc chắn về việc ta có nên cho phép nam-nhân từng ly-dị vợ lại cứ ra tranh cử và bước vào Nhà Trắng nếu đắc cử. May thay, hai mươi năm sau, mọi người lại đã đồng ý cho phép ông Gerald Ford được làm đám cưới với người đàn bà đã từng ly-dị chồng cũ của bà một lần trước đó.

Thế nên, sau nhiệm kỳ của ông Gerald Ford, nước Mỹ đã hai lần bầu ứng-cử-viên tổng thống từng ly dị vợ và tái giá thêm lần nữa là ông Ronald Reagan, vị tổng thống nổi cộm và cũng khá ồn ào làm tổng thống nước Hoa Kỳ. Tình-trạng gia đình của ông ta khi ấy, không còn bị cử-tri người Mỹ đặt thành vấn đề nữa. Bởi, ngay đến Nữ Hoàng Anh lẫn Đức Giáo Hoàng thời ấy thảy đều đón tiếp ông cùng người vợ mới cưới, theo nghi-thức long-trọng của hoàng gia. Đây, là điều mà ứng-viên Wallis Simpson cùng Vua Henry Đệ Bát khi xưa có muốn làm cũng không được.

Ngày nay, những ai từng ly-dị vợ/chồng vẫn có thể lập gia đình thêm lần nữa và vẫn được phép cử-hành hôn-lễ lần thứ hai theo nghi-thức phụng vụ Anh Giáo, Thệ Phản và cả Công giáo, tức các đạo-giáo lâu rày chủ trương một vợ một chồng, mà thôi. Xem thế thì, vị-thế công-khai của Giáo-hội Đạo Chúa, dù thay đổi, vẫn dị-ứng với vấn-đề ly-dị và sự việc một trong hai người được phép tái giá như khi trước.

Thực-tế cho thấy, việc thay-đổi ngôn-từ được thể-hiện một cách rất ư thận trọng, chẳng hạn như từ-vựng “ly dị” trở-thành ‘bãi-bỏ’; và con người hôm nay hăng say hướng về phía trước bằng vào tiến-trình cần-cù, đắt giá và chừng như bất cứ ai, nếu muốn, đều có thể lập gia-đình thêm lần nữa. Và đặc biệt hơn cả, là: sự việc này, Giáo hội ta vẫn sẵn-sàng ban phép lành cho cả hai họ, cũng dễ thôi.       

Thêm một điều nữa là: tìm hiểu lịch-sử về sự việc bảo rằng: sao Giáo-hội gồm toàn nam-nhân lại có thể định-đoạt hết mọi chuyện cả đến sự việc ly-dị? Ly-dị, khi xưa chỉ là thứ thất-bại, không đáng ta quan-tâm hoặc có khi lại thành tội, nay được đưa vào luật-pháp chính-qui của Giáo-hội nữa.

Giáo hội ta, khi ấy, thấy không cần đề ra tiêu-chuẩn để xem xét các án mạng, hoặc các vụ đánh cướp ngân-hàng, hoặc hành-động mơn trớn trẻ nhỏ, đốt phá cửa nhà của dân chúng, vv…. Chỉ mỗi người từng ly-dị rồi lại tái-giá, mới bị trừng-phạt bằng vạ tuyệt thông, thế là xong. Ly-dị, lâu nay đe-dọa cấu-trúc sự sống và quyền-uy của Giáo hội một cách nghiêm-trọng, lại còn gây ra biết bao là phiền-toái cho mọi người.

Nay thì, chẳng ai để mất nghị-lực mà dõi theo cơ-chế hoặc cá-nhân người nào để rồi buộc mình phải đôi đầu với những vấn-đề vô bổ, chẳng kéo theo hệ-quả nào hết. Giáo hội từng đối đầu với chuyện ly-thân/ly-dị cũng nhiêu-khê không ít, rồi lại ban hành luật-lệ chống lại sự việc ấy, để rồi cuối cùng còn trừng-phạt những ai tham-gia những chuyện tương-tự, kể cả đến chuyện trừ-khử vị nào dám vượt lằn ranh cấm kỵ rồi tiến-hành hôn-nhân lần thứ hai. Nay thì, Giáo hội ở đây đó chỉ buộc người ly-dị biết giữ mình cho tinh-khiết thôi.

Ngày hôm nay, dù có mối đe dọa chống đối tư-thế của các tôn-giáo có tổ-chức qui củ, thì sự việc ly-dị lại trở-thành không chỉ là việc liên-quan đến luật pháp mà thôi, nhưng lại được coi như chuyện bình thường ở mọi huyện. Hôn-nhân, dễ bị tổn thương hoặc vỡ đổ như thế, nay thật khó tán thành.

Tuy nhiên, đó không là chuyện để ta phải lên án cho ra nhẽ. Ly-dị, nay cũng có giá-trị tích-cực của nó khiến ta cần tách riêng thành chuyện biệt-lập và hỗ-trợ, đồng thời coi đó là tiềm-năng mang tính hủy-hoại. Thành thử, ta cũng nên giảm thiểu số lượng trường hợp xảy ra.

Theo tôi thì, Giáo hội thời nay cũng nên xem xét hôn-nhân và ly-dị một cách nghiêm-túc. Giáo hội cần nhận-thức và tuyên-bố một cách cởi mở rằng: ly-dị không phải là thứ tội khó có thể tha thứ và không phải lúc nào nó cũng mang tính bi-thảm hết.

Thật ra thì, trong nhiều trường-hợp, ly dị lại là và có thể là sự việc mang tính tích-cực và tốt đẹp nữa. Bởi, sau khi làm hết mọi việc mình có thể làm được hầu thực-hiện lời hứa hỗ-trợ hôn-nhân, Giáo hội cần ủng-hộ người ly-dị khi đôi bên các vị ấy đi đến quyết định rõ ràng. Tư-thế thụ-động hoặc phản-bác việc ly-dị một cách nhỏ nhen, chẳng những không giúp ích được gì, đồng thời cũng chẳng mang tính cảm-thương chút nào hết.

Ngày nay, món quà khả dĩ giúp cho hôn-nhân được thành sự là thái-độ ân-cần tương-trợ, và là khả-năng thực-hiện việc hy-sinh tự nguyện cuộc thương thảo. Việc thương-lượng đòi ta phải biết uyển-chuyển, coi đó như sự đồng đều về uy-lực tạo-dáng hoặc hình thành quyết định chung cuộc.

Ly dị, lại trở-thành thứ gì đó thay thế xung-đột mà ta khó giải quyết được. Và như thế, nó được cả hai phía phối-ngẫu chọn theo cách cân bằng, đồng đều. Thêm nữa, nó luôn mang tính trung-lập và không xứng-đáng để có được đáp trả tự-động bằng việc lĩnh-nhận án phạt từ Giáo hội. Ly-dị, trở-thành một thứtổn-phí mà xã-hội phải thanh-trả khi ta cần bận tâm giải-thoát phụ nữ.

Tôi tin rằng, muốn đảo ngược chỉ số người ly-dị đang có chiều-hướng dâng cao, ta cần bãi-bỏ áp-lực của sự cân bằng/đồng đều đang gia tăng giữa hai phái tính. Trả được giá này cũng khá đắt. Có thể-hiện động-thái như thế, Giáo hội mới nhận ra được sự kiện mà ta đề-cập ở đây. Có thể nói mà không bị cho là ngoa ngữ, thì hiện giờ phân nửa số hôn-nhân thực-hiện ở giáo-phận tôi chăm sóc, là trường hợp các vị từng ly-dị.

Nay, là thời điểm để ta phát-biểu một cách tích-cực, rằng: người ly-dị không phải lúc nào cũng là quỉ ma hết. Họ không là những người luôn vướng mắc vào vòng tội lỗi bao giờ hết. Và không phải lúc nào ta cũng nên lên án họ hết. Đôi khi, ly-dị lại là con đường dẫn đến cuộc sống mới đầy sung-mãn cho một hoặc cả hai phía từng đính-kết với nhau một cách chính-thức.               

Nữ-giới đã khám phá ra rằng: họ không chỉ có mỗi tự-do hủy bỏ thứ hôn-nhân gây tai-hại cho một số chuyện, nhưng không hủy-hoại cuộc sống của mình, thế nên cả hai phía, nam cũng như nữ đều có thể chọn phương-cách không nhất-thiết phải lập gia-đình. Và sau này cũng thế, nữ phụ nào muốn sinh con và dưỡng-dục chúng theo tư-cách người cha hoặc mẹ đơn chiếc cũng đều được.

Hôn-nhân, không là ơn gọi phổ-cập với mọi người. Nữ giới, nay khám phá ra rằng: khi hành nghề, họ có thể phát-huy thứ cảm-xúc mà người đàn ông biết trước là nó sẽ ra như thế. Về các bậc nữ-lưu có khả-năng sống tự-lập về kinh-tế, sẽ thấy là hôn-nhân gây tổn-hại cho nghề-nghiệp của họ, lại qui trách-nhiệm về tài-chánh cho cả hai phía.

Thành thử, giả như họ bị áp-lực từ một xã-hội chuyên o-ép bắt họ phải lập gia-đình, là cốt ý để họ có thể kết bạn mà giao-dịch hoặc vì nhu cầu sinh lý mà thôi. Phải thế không, thưa quí vị?

Cũng hệt thế, chức-năng làm mẹ không còn là vấn-đề buộc phái nữ phải đạt cho bằng được về sinh-lý học. Là phụ nữ, các chị có thể chọn không mang thai hoặc không nuôi con dạy cháu, không như mục-đích ban đầu của hôn-nhân buộc các chị phải sống như vậy. Thế nên, quan-niệm mới ở đây, đã lay-chuyển yếu-tố mà người xưa từng lập ra cốt để củng cố thể-chế hôn-nhân nghiêng về phía nam-nhân, thôi.

Thêm nữa, vấn đề hỏi rằng: ta có cần phải cưới hỏi nữa hay không? Câu hỏi này, lại càng trở nên nhức nhối hơn với nam-nhân và nữ-phụ nào từng thấy chua xót/thất-bại do hôn-nhân gãy đổ tạo nên. Những người như thế, càng nhận-thức rõ hơn nhiều người khác về mức thương-tổn của việc tiến tới ly-dị. Do đó, những người này càng không muốn trở-thành những kẻ dễ bị thương-tổn với nỗi khổ-đau tương-tự; thế nên, không ai dại gì để mất nhu-cầu có tình bạn, sự thán phục và mối thương cảm, hết.

Giả như phía nam-nhân hoặc nữ-phụ đã ly-dị, lại không có khả năng hoặc không muốn có quyết-định thề nguyền chung sống với nhau, thì bản-chất của tương-quan giữa hai người sẽ ra sao?  Phải chăng hôn-nhân chỉ là mối tương-quan trong đó việc thầm kín yêu thích dục-tình có thể được sẻ-san vào bất cứ giai đoạn nào trong cuộc sống chứ?

Vấn đề này sẽ được bàn kỹ lưỡng ở chương 13 sau này. Nay, thiết nghĩ nói thế cũng đủ để bảo rằng: hôn-nhân không là kế hoạch sống trọn đời của nhiều người trưởng-thành còn ‘ở vậy’, do một số lý do tốt đẹp cũng đã đủ. Yếu tố này, cần được khẳng-định cho rõ hơn.

Những người trưởng thành mà không lập gia-đình nói ở đây, đã và sẽ không bị ràng buộc bởi những phán-xét đạo-đức của thời đã qua vốn đảm-bảo việc người phụ-nữ phải tùy thuộc vào đàn ông/con trai. Những người như thế, không thích-hợp với khuôn-khổ có qui-ước lại cũng chẳng muốn thử như thế.

Phần đông những người trong số đó không là người hỗn-tạp. Bởi, hỗn-tạp là lối sống của một số ít người mà thôi. Tương quan có trách-nhiệm là chuyện thường thấy hơn. Phải chăng việc này coi như tốt đẹp được xã-hội và giáo hội chính-đáng quyết đeo đuổi tiêu-chuẩn luân-lý chứ?

Việc các vị ấy theo đuổi nghề-nghiệp riêng rẽ nhưng đòi hỏi có được cơ-hội đồng đều lại sẽ tạo thêm căng-thẳng cho hôn-nhân. Khi căng thẳng này khiến cho hôn nhân gãy đổ, thì ai là người bảo rằng: cặp phối-ngẫu nào đang tìm cách ly-dị là sai trái và là hệ-thống hà-khăc của thời đã qua, coi đó là chuyện đúng đắn sao? Họ phải giáp mặt với vấn-đề luân lý/đạo đức nào đây?

Với nhóm người mà hôn-nhân là tài sản thì những người như thế có quyền áp-đặt tiêu-chuẩn nhằm nâng cao đời sống của họ trên những người chọn con lộ nào khác chứ? Có chăng chỉ một đường-lối sống duy-nhất thích-hợp với luân0lý? Điều gì làm cho họ ra như thế? Do từ nơi đâu xuất-hiện ý-tưởng bảo rằng: sinh-hoạt dục-tình bên trong hôn-nhân, luôn là điều lành thánh, đáng tuân theo?

Hôn-nhân chẳng thể nào khiến sinh-hoạt dục-tình trở-thành lành-thánh, mà chính phẩm-chất của tương-quan giữa hai người mới là thế. Phải chăng việc ăn nằm xác thịt ngoài hôn-nhân luôn là hành-động tội lỗi? Điều gì xảy đến, khi ta áp-dụng chuẩn-mực của Thánh-kinh để xét-đoán cây cối do từ hoa trái của nó?

Lấy ví dụ để dễ thấy được tương-quan giữa hai người có quyết-tâm, nhưng họ lại không thiết-lập hôn-nhân, đó là: tình-yêu, sự vui-thú và an-lành trong khi nỗi đắng cay, nhọc nhằn và đớn đau của luân-lý/đạo đức theo truyền-thống được thích-ứng đến độ tìm điều tốt lành để bảo-đảm bằng các cấm kỵ đặc-thù và các khẳng-định được thực-thi bên trong một chuỗi các khẳng-định cùng cấm đoán xứng-hợp với các giá trị ở thời hiện-đại được cả nam lẫn nữ tuân-thủ ư?

Bởi, Giáo hội có ngôn-từ nào dành cho con số khá đông người trong xã-hội, ngoại trừ chỉ duy-nhất có một từ vựng ‘lên án’ là không xứng-hợp, thôi. Bởi, Giáo hội nói năng theo kiểu phán-xét rập theo luân-lý, lại không nhẹ-nhàng bảo rằng: động-lực tích-cực và tốt đẹp tạo nhiên-liệu cho các thói-tục đang thay đổi, được nắm bắt hoặc thông hiểu, tự nó mang tính vô-luân và chẳng đạo-lý gì hết. Bởi, Giáo hội không nhận ra rằng: các quy-tắc luân-lý rập theo truyền-thống của mình phải ra khỏi nơi đó, và nó vẫn thúc-ép diễn-giải hệ-thống nam-nhân đàn-áp nữ-giới một cách vô trách-nhiệm.

Trong phấn đấu cho phẩm-cách và ý-nghĩa đang thay đổi là nơi mà Giáo hội cần vào đó mà ngụ-cư. Giáo-hội sẽ có tiếng nói đầy quyền-lực ở địa-hạt này; tuy nhiên, chỉ khi nào mọi người nhận ra rằng thông-điệp ban đầu mà Giáo-hội bày-tỏ sẽ không là lời kêu gọi nhàm chán/rốt ráo để mọi người quay về với kết-luận đạo-đức của thời đã qua, mà chẳng lý gì đến những người lâu nay từng là và sẽ là nạn-nhân của hệ-luận hệt như truyền-thống qui-định.

Riêng tôi, tôi không muốn thừa-nhận yêu-sách cho rằng nền luân-lý lâu nay từng đóng băng suốt vào thời nam-nhân khuynh-loát/khống-chế phụ nữ. Lại nữa, tôi cũng chẳng tiếc nuối bảo rằng: việc cảm-thông/công-nhận thứ luân-lý đang chết dần chết mòn ấy.

Đúng ra, tôi dám tuyên-bố rằng: nền ‘luân-lý mới’ đang trồi-dậy sẽ trưng-diễn cho thấy hoa quả của Thần Khí. Và thành-đạt ấy, được xây-dựng trên nền-tảng của việc nam nữ phụ thuộc lẫn nhau. Nhân-danh những người được hưởng-lợi từ ý-thức đang trổi bật, tôi hoan nghênh những tháng ngày mới đang xuất đầu lộ-diện và tin rằng: Thiên Chúa Đấng tiếp tục kêu gọi mọi người hãy sống theo khả-năng mới để rồi hướng ra ngoài mà thấy được rằng ‘tạo-dựng mới’ đã xuất-hiện để rồi công-nhận đó là điều tốt đẹp.


Chú thích:

  1. Jean M. Auel, The Clan of the Cave Bear (New York; Crown, 1980); The Valley of the Horses (New York: Crown 1982); The Mammoth Hunters (New York: Crown, 1985).                             




Monday, 5 November 2018

Lm Vĩnh Sang DCCT : THIÊN AN – TRỜI CŨNG KHÔNG ĐƯỢC YÊN


Trong nhưng buổi gặp gỡ tình cờ tôi được quen biết một Linh Mục Đan Sĩ, người được Bề Trên chỉ định làm Bề Trên Đan Viện Thiên An trong một vài năm trước khi có cuộc bầu cử Viện Phụ cho Đan Viện. Là một Linh Mục nhưng cũng là một nghệ sĩ, thêm trách nhiệm làm Bề Trên một Đan Viện nên xem ra ông cực nhọc thi hành trách nhiệm của mình, cực nhọc thật vì ông làm Bề Trên trong một nhiệm kỳ có nhiều biến cố nóng bỏng xảy ra nhắm vào Đan VIệN, cũng vì phải đứng đầu sóng ngọn gió nên anh em chúng tôi mới có nhiều dịp gặp nhau chia sẻ và tâm sự.

Ông tốt nghiệp kiến trúc sư của đại học Sorbonne, Paris, nếu nhớ không lầm thì luận văn tốt nghiệp của ông nghiên cứu về mối tương quan giữa quy hoạch và tên tuổi vùng miền, có lần nói đến Hà Nội, ông bảo mở rộng thành phố theo hướng hiện nay là không ổn, đã là Thăng Long thì phải có Hạ Long, có lên thì phải có xuống, nối Thăng với Hạ mới ổn. Cũng vậy, nói về Huế ông nói, có Thiên Mụ thì phải có Thiên An, cô lập tiêu diệt Thiên An chỉ còn Thiên Mụ thì không ổn!

Mấy hôm nay trên các trang mạng truyền thông ồn ào vụ Đan Viện Thiên An, tranh chấp này kéo dài lâu lắm rồi, mấy năm gần đây Nhà Nước làm mạnh, chiếm dụng nhiều đất đai của Đan Viện gây phẫn uất cho các Đan Sĩ và dân chúng, cách làm vẫn chỉ dựa trên sức mạnh cơ bắp và lươn lẹo văn bản, lợi dụng ích lợi nhóm và cá nhân để lần lượt xà xẻo của cải người khác. Lần này họ hợp thức hóa đất đai nhà cửa cho một số gia đình chiếm đất Đan Viện, lần lượt bán chuyền tay nhau và mở rộng phạm vi lấn chiếm. 

Nhiều lần trình bày nhưng không được các cấp cầm quyền địa phương giải quyết, các Đan sĩ đã tuần hành bất bạo động với nhiều biểu ngữ nói lên nguyện vọng của mình. Có một biểu ngữ viết: "XIN TÔN TRỌNG ĐẤT THÁNH CỦA ĐAN VIỆN THIÊN AN, CÁC HÀNH VI "CƯỚP" ĐẤT CỦA ĐAN VIỆN ĐỂ XÂY CẤT LÀ TRÁI PHÁP LUẬT". 

Đã có những lời bình luận không đồng ý với cách biểu tỏ này, họ cho là quá nhẹ nhàng và không nói lên đủ nỗi oan khiên của Đan Viện, lẽ ra các Đan Sĩ phải phản ứng mạnh hơn, đất của mình bị cướp mà lại “xin tôn trọng”. Nhưng quá nhiều lần bày tỏ ý kiến, Đan Viện cũng như các Dòng Tu khác hoặc Giáo Xứ tại Việt Nam vẫn chọn cách trình bày ý kiến một cách hiếu hòa, không dùng những từ ngữ thô thiển và nhất là không bao giờ chọn thái độ bạo động. Điều này nói lên bản chất của Giáo Hội, một Giáo Hội tha thiết và muốn xây dựng hòa bình, một Giáo Hội đã đi theo Đức Kitô, Đấng đã đến thế gian để làm chứng về tình thương và Ơn Cứu Độ.

Biết rất rõ điều này, bởi Nhà Nước đã có hẳn một Ban Tôn Giáo và các tổ chức của Đảng dưới danh nghĩa Hội hay Ủy Ban, để nghiên cúu kỹ lưỡng tôn giáo, đồng thời bản chất của nhà cầm quyền là chuyên chính và không khoan nhượng như lý thuyết cũng như lịch sử đã chứng minh. Cuộc “đối thoại” của một bên là Nhà Nước một bên là Giáo Hội đã rõ ràng, ngôn ngữ của hai bên cũng đã quá rõ ràng, một bên chọn hiếu hòa, bất bạo động, một bên chuyên chính, chủ động cướp lấy thời cơ và không khoan nhượng, dùng bạo lực cách mạng… 

Đích tới của hai bên cũng quá rõ ràng, một bên tìm kiếm sự vĩnh hằng trong an bình, một bên tìm kiếm lợi nhuận trần gian. Giáo Hội xây dựng tình thương và dùng tình thương để tiến vào Nước Trời vĩnh cửu, Chủ Nghĩa CS dùng bạo lực cướp lấy vật chất, dành ưu thế trong việc xây dựng vật chất theo mô hình XHCN! Cả hai cùng kiên định lập trường và mục đích của mình, về lý thuyết và về nguyên tắc hành động không thay đổi.

Điều cần suy nghĩ là với mục đích như vậy, với lập trường như vậy, với chọn lựa như vậy, nội bộ Giáo Hội, Đan Viện, các Dòng Tu, các Giáo Phận… có hiểu hết về Nhà Nước mà mình đang muốn đối thoại hay không, hay còn một số vẫn ngây thơ nghĩ người ta cũng như mình, tin vào những lời hứa hẹn tào lao, tin vào những lời xin lỗi nhăng cuội như trong quá khứ? 

Sức mạnh của Giáo Hội là đời cầu nguyện và sự hợp nhất, để đối thoại có tận dụng những điều này hay không, hay cũng lại sử dụng các chiêu bài như thế gian đã dùng như: đi đêm, tranh chấp quyền lực và gây dựng lợi ích nhóm? Lời Chúa đã minh định cái đáng cho chúng ta sợ, chúng ta có thấy rõ và sống như vậy chưa, hay có người lại sợ cái mà Lời Chúa bảo đừng sợ, rồi lại không sợ cái mà Lời Chúa bảo đáng phải sợ? Thế nào là hiệp thông? Chúng ta đã tận dụng sự hiệp thông trong Giáo Hội để củng cố và xây dựng Giáo Hội như Chúa muốn chưa, hay lối sống vô cảm, chỉ muốn khoanh tay bịt mắt của xã hội đã tràn ngập và nhận chìm chúng ta?

64 năm của miền Bắc và 44 năm của miền Nam đã đi qua mà chúng ta chưa ngộ được hết sao? Kinh nghiệm từ một chuỗi những năm tháng đối thoại của Đan Viện Thiên An chúng ta có rút ra được kết luận chưa? Một người như vị Đan Sĩ tôi quen từ chối đi tiếp trên hành trình đối thoại của Đan Viện là điều dễ hiểu, ông không chỉ là Đan Sĩ với những gì đã chọn lựa, ông còn là một nghệ sĩ với tâm hồn mỏng manh nhạy cảm, làm sao ông đi hết còn đường mà ông bj đặt vào? Từ Rôma, ông nói với tôi: “Con xin với Bề Trên ở lại và không về nữa”. 

Chỉ mong với từng biến cố chúng ta hiểu được điều Chúa muốn chúng ta sống làm chứng hôm nay, đừng mờ mắt và đừng ngây thơ.

Lm. VĨNH SANG, DCCT, 3.11.2018