Saturday, 14 December 2019

“Người còn đó gieo hạt lúa trên ruộng đất này”


Chuyện Phiếm đọc trong tuần thứ 4 mùa Vọng năm A 22/12/2019

“Người còn đó gieo hạt lúa trên ruộng đất này”
Người còn đó nhưng bơ vơ mắt chong đêm dài.”
(Trịnh Công Sơn – Phúc Âm Buồn)
(11: 2-6)

Đã là “Phúc Âm” rồi, sao buồn được? Đã là “hạt lúa gieo trên ruộng đất này” sao lại “bơ vơ mắt chong đêm dài? Phải chăng lời lẽ vang vọng đâu đây, sẽ mang nhiều ý-nghĩa khác? Để trả lời, có lẽ bạn và tôi cũng nên nghe thêm vài ca-từ nữa, như:

“Người nằm co như loài thú khi mùa đông về,
Người nằm yên không kêu than buốt xương da mình.
Từng tiếng người, nhiều tiếng người gọi hoài giữa đêm.
Người nằm co như loài thú trong rừng sương mù,
Người nằm yên không kêu than chết trên căn phần.
Một góc trời, người vẫn ngồi, một đời nhỏ nhen.

Người còn đứng như tượng đá trong rừng cây già,
Người còn đứng như trăm năm vết thương chưa mờ.
Từng đêm về, từng đêm về mang đời ngẩn ngơ.
Còn bao lâu cho thân thôi lưu đầy chốn đây?
Còn bao lâu cho thiên thu xuống trên thân này?
Còn bao lâu cho mây đen tan trên hồn ngườỉ?
Còn bao lâu tôi xa em, xa anh, xa tôi?

Người nhìn mãi theo từng chuyến xe ngựa qua rồi,
Người nhìn dấu xe lăn đi dấu lăn trên đời.
Ngựa xa rồi, người vẫn ngồi, bụi về với mây.
Người còn đó gieo hạt lúa trên ruộng đất này.
Người còn đó nhưng bơ vơ mắt chong đêm dài,
Ngựa xa rồi, ngựa xa rồi, trên ngày tháng vơi.
Người còn đó, những lời noí rơi về chân đồi.
Người còn đó nhưng trong tim máu tuôn ra ngoài.
Nhuộm đất này, nhuộm cho hồng hạt mầm trót vay.”
(Trịnh Công Sơn – Phúc Âm Buồn)

Phúc Âm đạo Chúa, có là “Phúc Âm buồn” hay không, thì bạn và tôi cũng nên tiến về phía trước mà nghĩ cho tới. Nghĩ tới, là nghĩ thêm về những điều được đấng bậc ở nhà Đạo từng bàn bạc, như sau:

Hôm ấy, đấng bậc lại đã bàn rằng: 

Trình thuật ngày Chúa Giáng hạ, nay nhấn mạnh một điều quan trọng và mừng vui hơn những gì dân con Đạo Chúa đáng được hưởng. Đó, cũng là ý tưởng của thánh Gioan Tẩy Giả khuyên răn mọi người hãy để lòng mình trùng xuống, mà sám hối. Với thánh Gioan Tẩy Giả, sám hối là ăn-năn/hối-cải trong nguyện cầu, chưa có nụ cười nở trên môi. Đợi tới lúc Đức Giêsu đến, Ngài mới đem theo nụ cười, cả vào lúc loài người chủ trương sám hối, để ngóng chờ.

Nụ cười vui, Chúa đem đến cho kẻ đợi chờ Ngài, nay thấy rất rõ nơi tâm tình mừng kính Chúa Giáng Sinh, ở đời người. Tâm tình, thể hiện nơi cung cách lẫn ý nghĩa của mỗi hành xử. Trước nhất, là lẵng hoa có lá cành của cây trạng nguyên quấn vòng quanh 4 ngọn nến. Để thắp sáng suốt 4 tuần lễ mùa đợi chờ. Màu xanh của lá, là mầu truyền thống có từ thời xưa ở Yuletide, xứ Xcăng-đi-na-vi.

Người Na-Uy rất thích mầu xanh, cả trên băng tuyết. Người Ái Nhĩ Lan cũng làm thế, là để tỏ rõ một biểu tượng của lễ hội, dù người người đang ở vào mùa băng giá. Trong khi đó, cây thông Noel lại có gốc nguồn từ sử hạnh của thánh Bônifaxiô, ở bên Đức. Nến cháy ở lẵng hoa, lại xuất xứ từ Đức, vào thời Luther, người khởi xướng đạo Thệ Phản. Chí ít, là tập tục của đêm ca hát nhạc Giáng Sinh, rất linh đình như bài “Đêm Thánh Vô Cùng”, “O Tannebaum”, cũng xuất xứ từ các nền văn hoá rất đa dạng. Có khi còn kình chống nhau về chánh kiến, với thần học.

Tóm lại, lễ hội mừng ngày Chúa Giáng Hạ, được viết lên là để diễn tả tình tự hài hoà, bình an. Không cần biết người mừng lễ, có gốc nguồn từ đâu tới.

Truyện kể về Ông Già Noẽl mà mọi người ở trời Tây có thói quen gọi là “Santa Claus”, là truyện tích kể về sử hạnh thánh Nicholas, một đấng bậc người Hoà Lan nhưng lại có nguồn gốc phát xuất từ tập tục miền Nam nước Ý. Trong khi đó, nai gạc tuần lộc chuyên chở quà giúp ông Già Tuyết phân phối lộc thánh lại thuộc giống giòng chốn Nữu Ước, nhiều năm trước.

Tóm lại, mỗi khi mừng lễ hội Chúa Giáng Trần, đa phần người các nước đều tổ chức giữa mùa Đông rất băng giá, là lễ hội xuất từ người ngoài Đạo, chỉ muốn những điều vui tươi, hiền hoà gửi đến hết mọi người. Và, ngày 25 tháng Chạp, chưa hẳn là ngày Chúa chào đời. Nhưng, ngày ấy vẫn đánh dấu kỷ-niệm Giáo hội thời tiên khởi muốn chung vui hội-lễ mừng thần Satuya, được định-vị vào ngày 17 đến 19 tháng Chạp.

Tất cả mọi chi tiết dù khác biệt, chỉ muốn nói lên tính đa-dạng nơi văn-hoá của dân con Đạo Chúa, suốt từ lâu. Đa dạng, nhưng không đa tạp, cả vào lúc người Việt ở Nam Bán Cầu vẫn hát bài “Đêm Đông Lạnh Lẽo Chúa Sinh Ra Đời” của Hùng Lân. Dù, những ngày ấy thời tiết nóng cháy đến 38 độ. Hát gì thì hát. Mừng gì thì mừng. Ta vẫn cứ mừng bằng niềm tin ngày Con Thiên Chúa Giáng hạ làm người, để ở với chúng dân. Rất hài hoà. Bình an. (X. Lm Kevin O’Shea, DCCT Lời Chúa Sẻ San năm A, nxb Tôn giáo 2017)


“Văn hóa của dân con Đạo Chúa, rất đa dạng”, nhưng vẫn ấp-ủ và dàn-trải ra bên ngoài niềm vui muôn kiểu. Vui, trong tiếng hát. Vui, như các câu chuyện được người dịch hôm đó dịch từ một văn-bản bàn về sự tích “Ngày Chúa Giáng hạ” chuyền cho nhau đọc, nay kể lại ở bên dưới:
           

Bài “Silent Night” đã đưa người đọc đi dần vào cõi thinh-lặng ngày Chúa Giáng Hạ. Silent Night, không chỉ là phút giây thinh lặng trên bầu trời nào đó, ở khắp chốn. Nhưng, còn là tâm tình chan-hòa niềm vui ở mọi người.Niềm vui ngày Chúa Giáng hạ, chan-hòa khắp nơi cộng thêm vào đó nỗi niềm hớn hở tìm gặp ở câu truyện được kể ở bên dưới:


            “Truyện rằng:

Ông chủ tịch Hội đồng Giáo xứ đột ngột qua đời…4 ông trùm họ đều ngắm nghía để được bầu lên làm chủ tịch thế vào chỗ trống. Ông nào cũng đến thỏ thẻ, muốn lấy lòng với cha sở, khiến cho cha sở vừa bối rối vừa bực mình, “Người chết chưa chôn cất xong mà đã tranh nhau chỗ ngồi …đúng là tham danh tham vọng quá đi thôi!”

Đến hôm ra nghĩa trang, sắp sửa đến giờ lấp huyệt rồi mà ông trùm kia còn đến thủ
thỉ với cha:
– Cha đã nghĩ xong chưa? Nhớ để cho con thế chỗ cho ông chủ tịch cũ cha nhé!

Cha bực lắm, nhưng cố bình tĩnh đáp:
– Ừ…được thôi, nếu ông muốn thì tôi sẽ ráng kéo dài nghi thức thêm 2 phút nữa…để cho ông có đủ thời            giờ mà thế vào chỗ ông cựu chủ tịch đang nằm dưới huyệt kia kìa…quyết định lẹ lên trước khi người ta lấp đất đấy! (Truyện kể rút từ điện thư vi tính ở trên mạng)


Truyện kể ở trên khiến người đọc liên tưởng đề lời Đấng Thánh Hiền từng bảo ban, khi xưa rằng:

                        Ông Gioan lúc ấy đang ngồi tù,
nghe biết những việc Đức Ki-tô làm,
liền sai môn đệ đến hỏi Người rằng:
"Thưa Thầy,
Thầy có thật là Đấng phải đến không,
hay là chúng tôi còn phải đợi ai khác?"
Đức Giêsu trả lời:
"Các anh cứ về thuật lại cho ông Gioan
những điều mắt thấy tai nghe:
Người mù xem thấy, kẻ què được đi,
người cùi được sạch, kẻ điếc được nghe,
người chết sống lại,
kẻ nghèo được nghe Tin Mừng,
và phúc thay người nào không vấp ngã vì tôi."
(Mt 11: 2-6)


“Và phúc thay người nào không vấp ngã vì tôi.” Lời Đấng Thánh Hiền, còn đó vẫn đưa ta về với ca-từ của bài hát trên còn ca mãi:

           
“Người còn đó gieo hạt lúa trên ruộng đất này,
Người còn đó nhưng bơ vơ mắt chong đêm dài.

“Người nằm co như loài thú khi mùa đông về,
Người nằm yên không kêu than buốt xương da mình.
Từng tiếng người, nhiều tiếng người gọi hoài giữa đêm.
Người nằm co như loài thú trong rừng sương mù,
Người nằm yên không kêu than chết trên căn phần.
Một góc trời, người vẫn ngồi, một đời nhỏ nhen.

Người còn đứng như tượng đá trong rừng cây già,
Người còn đứng như trăm năm vết thương chưa mờ.
Từng đêm về, từng đêm về mang đời ngẩn ngơ.
Còn bao lâu cho thân thôi lưu đầy chốn đây?
Còn bao lâu cho thiên thu xuống trên thân này?
Còn bao lâu cho mây đen tan trên hồn ngườỉ?
Còn bao lâu tôi xa em, xa anh, xa tôi?

Người nhìn mãi theo từng chuyến xe ngựa qua rồi,
Người nhìn dấu xe lăn đi dấu lăn trên đời.
Ngựa xa rồi, người vẫn ngồi, bụi về với mây.
Người còn đó gieo hạt lúa trên ruộng đất này.
Người còn đó nhưng bơ vơ mắt chong đêm dài,
Ngựa xa rồi, ngựa xa rồi, trên ngày tháng vơi.
Người còn đó, những lời noí rơi về chân đồi.
Người còn đó nhưng trong tim máu tuôn ra ngoài.
Nhuộm đất này, nhuộm cho hồng hạt mầm trót vay.”
(Trịnh Công Sơn – Phúc Âm Buồn)


Lời ca hay và vui như thế mà sao lại gọi là “Phúc Âm buồn” được? Và, đã là Phúc Âm thì làm sao có thể buồn được? Có chăng chỉ là lời của tôi, của bạn hay của ai đó vẫn rất buồn, mà thôi.


Thế đó, là lời của tôi (chứ không phải của bạn), xin được gửi đến tôi, đến bạn và ai đó, vẫn không buồn. Về đời mình.


            Trần Ngọc Mười Hai
            Có phiếm cho nhiều
            Cũng chỉ là những chuyện rất “Phiếm”
            Nhưng không buồn
cuộc đời người.

Monday, 9 December 2019

“Cho nhớ thương về quê xưa, "


Chuyện Phiếm đọc trong tuần thứ 3 mùa Vọng năm A 15/12/2019

“Cho nhớ thương về quê xưa, "
“Mùa Xuân không còn nữa
Muôn cánh hoa đào phai úa
Lối cũ rơi hững hờ ...”
(Nguyễn Hiền - Hoa Bướm Ngày Xưa)

(Lc 20: 38)

“Hoa Bướm Ngày Xưa” sao gồm toàn những lời “buồn sụ” như: “Nhớ Thương về Quê Xưa”, hoặc: “Cánh Hoa Đào Phai Úa”, “Lối Cũ Rơi Hững Hờ”, vvỐi chà, ngày xanh ấy nay đã qua với “Nắng Tơ Vàng Êm”, và “Tấm Lòng Thương Nhau”, rồi “Cười Nghiêng tà áo”, nghe cũng ngồ ngộ.

“Hoa Bướm Ngày Xưa”, nay lại phảng phất những lời được nghệ sĩ ghi tiếp câu ca bảo rằng:    

“Nơi ấy ngày xanh qua,
Hồn thơ mơ màng quá.
Yêu những khung trời hoa bướm ...
Với nắng tơ vàng êm.
Yêu sao ngày thơ ấu,
Đất nước chưa thay màu.
Những tấm lòng thương nhau.
Cười nghiêng nghiêng tà áo,

Năm tháng theo làn mây trôi.
Ngày thơ xa dần mãi,
Nơi cũ dâng sầu tê tái.
Xác bướm hoa tàn phai,
Hồn bướm hoa xưa còn đâu?
Vườn cũ quê nhà yêu dấu,
Mầu nắng xưa còn lưu luyến.
Hương sắc ngừng trôi trước thềm.

Còn nhớ hay chăng người ơi!
Chiều nào thầm nghe lá rơi,
Ta nắn cung đàn u sầu.
Thương ngàn cánh hoa phai mầu.
Cho nhớ thương về quê ... phai.
Tìm thấy đâu ngày thơ êm ái.”
(Nguyễn Hiễn – bđd)

Hoa Bướm Ngày Xưa”, đẹp là thế. Vậy còn, “Hoa Bướm” hôm rày ra sao? Nhất thứ, “hoa bướm nhà Đạo” ở trên cao có chứa đầy “ý-hướng niềm tin” hay không mà sao đấng bậc nhà Đạo lại cứ viết những giòng hỏi/đáp trên Tuần báo Công giáo Sydney như thế này:

“Thưa Cha, xin giải thích bọn con biết ý-nghĩa câu “Sensus fidei” mà lâu nay Giáo hội sử-dụng rất nhiều lần rồi còn nối kết với Hội Nghị Toàn Thể năm 2020 nữa. Như thế, nghĩa là thế nào? Xin Cha cho vài chữ.” (Lại thêm một câu hỏi gửi đến đấng bậc nhà Đạo ở Sydney nhưng không ghi tên chép tuổi của người hỏi, bởi thế nên ta cứ coi như thể người viết tự hỏi rồi tự trả lời, cũng không sao).

Đấng bậc ở Sydney, một lần nữa, lại lấy giấy bút ra trả lời bạn đọc trên báo, rất như sau:

Sensus fidei” dịch từng chữ có nghĩa: “Ý-hướng Niềm Tin”, là câu nói được Giáo hội sử-dụng cũng khá nhiều qua văn-bản khác nhau như sách Giáo-lý chẳng hạn. “Sensus fideli” hoặc “Sensus fidelium” được diễn-tả như cảm-kích siêu-nhiên về niềm tin, đánh động lên toàn-thể dân con Chúa” (X. sách Giáo lý Hội thánh Công giáo đoạn 92).

Trước đó, ở đoạn 91 sách này, cũng thấy nói: thánh Gioan Tin Mừng viết trong đoạn 16 câu 13 lại đã bảo: “Các kẻ tin được san sẻ mọi hiểu biết cũng như cảm-nhận được sự thật do Chúa mặc-khải. Hội thánh, lâu nay lĩnh-nhận ơn lành từ Chúa Thánh Thần là Đấng chỉ-thị và dẫn đưa ta đi vào sự thật. (Sách GLHTCG đoạn 91; Tin Mừng thánh Gioan 16: 13)

Nói đơn-giản, thì: khẳng-định này qui về sự-kiện dân con trong Đạo được Thánh Thần Chúa hướng-dẫn nên có được ý-hướng về sự thật và việc phải lẽ trong tin-yêu và luân lý.

Công Đồng Vatican 2 lâu nay vẫn bảo: mọi kẻ tin cùng mục-tử hướng-dẫn, đều vô ngộ khi họ đồng-thuận với Hội thánh trong các vấn-đề sự thật, khi bảo rằng: tất cả mọi kẻ tin đều cùng chi thể không bao giờ sai lầm về tin-yêu. Đặc-trưng này hiện rõ trong cảm-nhận siêu-nhiên về niềm tin (“sensus fidei”) trên mọi cá-thể nói chung từ các vị Giám-mục cho chí tín-hữu hạng chót hết, tất cả đều biểu-lộ sự đồng-thuận rộng-khắp về vấn-đề niềm tin và lòng đạo.” (X. Hiến Chế Ánh Sáng Muôn Dân đoạn 12 và sách GLHTCG đoạn 92)….

Nói rõ hơn, quả quyết như thế không có ý bảo: cá nhân kẻ tin bao giờ cũng đúng trong những chuyện họ nghĩ; nói khác đi, tức là: tất cả mọi kẻ tin được mục-tử họ dẫn dắt đều được Chúa Thánh Linh đưa về sự thật…” (X. Lm John Flader, Conditions for sensus fidei, The Catholic Weekly 17/11/2019, tr. 23)        

Để minh hoạ sự việc này, thiết tưởng ta cũng nên đi vào vùng trời truyện kể để nhớ. Nhớ, những chuyện làm bạn và tôi, ta vẫn được đấng bậc nhà Đạo diễn tả qua suy-tư ở bên dưới: 

            Suy rằng,

“Tin Mừng Luca có đoạn kể cuộc tranh-luận về sự sống lại giữa Đức Giêsu và Bè Xađuxê cho thấy những người này không nghĩ rằng Thiên Chúa có thể và sẽ làm được mọi thứ hầu biến đổi thế giới ta đang sống cho ra khác. Họ cứ tưởng, chỉ mình họ mới làm được thế, nên không muốn “chuyện đời sau” xảy ra với chính mình. Họ muốn thế giới ở yên như xưa vì nay họ đã có đủ mọi quyền “ăn trên ngồi chốc” hơn mọi người. Hôm nay, những người như bè Xađuxê thấy rất nhiều ở quanh ta.

Họ là những người muốn Chúa cứ ở trên cao, chốn thiên đường ấy và để mặc họ quản cai thế trần theo ý họ mà chẳng bị Chúa Mẹ quấy rầy. Họ muốn niềm tin của mọi người ra ngoài mà sống tự nhiên, riêng tư. Và, họ chỉ muốn quyền bính chính trị để khống chế cuộc sống của mọi người. Phục sinh, đối với họ, chỉ là biểu tượng sự việc phải có, có thể có và cần có theo cách khác. Họ chẳng muốn mua lấy ý tưởng của Chúa, làm gì cho bận tâm, để rồi lại gây tranh luận.

Tranh luận với Chúa, họ vẫn tìm cách riễu cợt ý-tưởng về Phục sinh, cứ muốn coi đó như chuyện “ngồi lê đôi mách” chẳng có ý-nghĩa hoặc giá trị gì đối với họ. Họ nói nhiều, về luật lệ của Lêvi chuyên bảo rằng: Nữ-phụ nào đã lập gia đình mà lại không có con, đến khi chồng chết thì người em kế phải lấy chị dâu mình để sinh con mà nối dõi.

Và đám người theo nhóm bè Xađuxê lại đã phác-hoạ một trường hợp tưởng tượng bảo rằng: nếu người chị dâu kia sau khi ở với 7 người mà vẫn không có con, rồi cũng chết. Vậy khi “sống lại”, thì ai là chồng chính thức của chị?

Hỏi thế có nghĩa: nhóm người này tưởng rằng sự sống lại lúc đó cũng giống như hiện tại, thôi.         

Và Chúa cho biết: đời sống đã phục sinh lại sẽ khác hẳn cuộc sống hiện tại rất nhiều. Phục sinh, không phải là quay trở về với lối sống giống như ta đang có bây giờ. Đó là: ngang qua sự chết và những gì xảy đến ngay sau cái chết, ngang qua đó, để đi vào một hiện hữu nhập xác rất mới mà sự chết không tài nào sờ chạm được.

Và như thế, lúc đó, việc có con là chuyện không thích đáng, và thể thức hôn nhân cũng chẳng thích hợp, tức không thể nào lại có chuyện ăn nằm xác thịt, hết.” (X. Lm Kevin O’Shea, CSsR Lời Chúa Sẻ San, Suy niệm Tin Mừng CN 32 TN năm C, nxb Hồng Đức 2015)

Chúa nói: Ngài không tin rằng những người đã quá vãng mới chỉ “chết”: nhưng họ lại sống sót theo cung cách thực thụ, bởi khi ấy họ đã thực sự thuộc về Chúa, mà Chúa lại là Thiên Chúa của kẻ sống, nên họ vẫn còn sống, đối với Chúa.

Ở đây, ta có thể nói về trường hợp của Simôn con ông Giôna mà bảo: một khi anh đã chết, ta không gọi anh là Simôn con của Chúa, bởi vì anh có cuộc sống mới, trực tiếp có từ Thiên Chúa của kẻ sống. Và điều đó có nghĩa: mình vẫn thực sự còn sống.

Thế nên, người Công giáo chúng ta không cầu nguyện cho người chết của họ mà là cầu cho, cầu với và cầu nguyện ngang qua người thân yêu của mình đang còn sống sót giống như thế.   

Nếu ta sống sót để đến với Chúa, ở với Ngài và được Ngài chăm sóc cho sau khi chết, điều này có nghĩa: Chúa vẫn thiết-lập một thế giới mới để ta được hiện hữu-theo kiểu mới qua xác thể, ở nơi đây. Đó là xác-thể có Thánh-Linh trợ-lực, chứ không chỉ sống còn theo nghĩa tinh thần, mà thôi. Ta cũng không biết xác-thể mới trông giống gì.

Hỏi như thế cũng không mấy thích-hợp. Hỏi như thế không theo nghĩa vũ-trụ-quan nhưng theo cách chính-trị. Thế giới mới, rày sẽ khác và tốt hơn.

Thế giới mới, là thế giới của tự do, công bằng đầy yêu thương. Thế giới mới, là thế giới trong đó người nghèo khó, thấp hèn sẽ không nghèo và cũng chẳng còn khó. Mà là, thế giới trong đó con người có uy-lực thực sẽ không tồn-tại và không hiện-hữu để làm hại bất cứ ai.

Nhóm Xađuxê và người La Mã không còn luẩn quẩn ở bên cạnh nữa, nhưng sẽ lại xuất hành nữa, để rồi, một lần nữa, Chúa lại nghe tiếng vãn-than từ dân con Ngài đang đau khổ và Ngài đến cứu ngay tức thì.

Đây là cuộc trở về khác rất mới từ nơi lưu lạc, theo nhiều cách. Thiên Chúa, là Đức Chúa của tự do. Là, Đấng cứu độ và là Chúa của mọi cách mạng qua đó Ngài đối đầu sự chết với tin lành loan đi sẽ có thế giới mới trong đó sự chết không còn chỗ đứng. Thiên Chúa giáp mặt với mọi người có uy-lực để lãnh nhận sự sống tràn đầy từ người khác, cùng tin tức loan báo rằng mọi sự xấu sẽ đuợc chỉnh sửa để nên tốt. Mọi đớn đau được lành lặn và dân con mọi người sẽ ở đó. Thiên Chúa không là Chúa của bè nhóm Xađuxê, cũng không là Chúa của đế quốc La Mã.

Chẳng thế mà, người Xađuxê và La Mã không thể ở vào địa vị của Chúa để nói về Phục sinh quang vinh. Họ vẫn muốn có uy quyền, để cai trị thế gian. Họ chẳng muốn mất đi thế lực mình vẫn có. Nên Chúa nói: họ sẽ mất tất cả, bởi loại hình thế giới của họ sẽ không bao giờ có nữa. Họ lại chọn loại hình sai trái về thế giới do mình tạo mà thực tế lại khác hẳn. Thế giới mà người nghèo khó lâu nay vẫn đợi chờ.

Phục sinh không có nghĩa như một miêu tả sự thể xảy đến cho mỗi người sau khi chết. Điều này không chỉ nói: Chúa đã sống lại, thế nên ta sẽ lên thiên đàng khi chết đi sẽ về với Chúa. Mà là Chúa mang đến thế giới mới này bằng việc lật ngược/thay đổi tận gốc rễ thế giới ta đang sống. Tin Mừng có ý nói: Chúa đã sống lại rồi, thế nên tạo vật mới đã bắt đầu.

Ý Tin Mừng nói: Chúa đã sống lại thật, nên ta được ủy thác ra đi mà thiết lập thế giới mới đã khởi sự đến gần, ngay tại đây, bây giờ, và có trước cho mọi người. Ta có bổn phận để cho sự sống lại biến ta trở thành những nhà cách mạng biết chối từ nhượng bộ những gì đã hiện hữu.
           
Mọi người, cả nam lẫn nữ, đã ở vào “cuộc chơi” cũng đủ để nói rằng: những gì là sai quấy trong thế giới của ta đã chết, và thế giới mới của Chúa đã khởi sự. Thế giới mới này không chỉ mang tính linh thiêng, nhưng là chính trị. Không phải xảy ra trong tương lai, mai ngày, mà đã có ngay lúc này rồi.
           
Thông điệp của Chúa về sự sống lại phải là niềm khích lệ và hy vọng to lớn đối với ta. Thông điệp ấy nói cho ta biết những gì đang xảy ra ở đâu, khi nào. Thông điệp còn nói cho ta biết rằng: cả cái chết lẫn mọi kỳ thị và rào cản không thể chặn đứng bước tiến của ta đi vào thế giới mới.
           
Đi dần vào phần kết, tưởng cũng nên trích lại câu nói của Đấng Thánh Hiền ở Tin Mừng như sau:

Quả thật, họ không thể chết nữa,
vì được ngang hàng với các thiên thần.
Họ là con cái Thiên Chúa,
vì là con cái sự sống lại.

Còn về vấn đề kẻ chết trỗi dậy,
thì chính ông Môsê cũng đã cho thấy
trong đoạn văn nói về bụi gai,
khi ông gọi Đức Chúa
là Thiên Chúa của tổ phụ Abraham,
Thiên Chúa của tổ phụ Isaác,
và Thiên Chúa của tổ phụ Giacóp.

Và Ngài không phải là Thiên Chúa của kẻ chết,
nhưng là Thiên Chúa của kẻ sống,
vì đối với Ngài,
tất cả đều đang sống."
            (Lc 20: 36-38)


Quả thật rất đúng. Tất cả đều đang sống. Sống hùng, sống mạnh, sống vững chãi suốt đời người.


Trần Ngọc Mười Hai
            Cũng muốn sống đẹp,
            sống oai-hùng
            thật như thế.