Wednesday, 20 May 2015

Cựu linh mục John D Crossan Phai chăng khi xưa Đức Giêsu làm nhiều phép lạ (bài 13)



Chương 5
Có phải khi xưa
Đức Giêsu làm nhiều phép lạ?
(bài 13)

                       

Hồi còn ở Haiti, tôi có dịp thấy tận mắt em bé nọ, vì quá đói, nên đã vốc một nắm đất nhỏ bỏ vào miệng nhai ngấu nghiến. Thấy tôi đến, em bèn lấy tay bụm miệng để che giấu những gì em cứ lúng búng ở trong miệng. Làm như thế, em vẫn không che giấu được đôi hạt sạn óng ánh còn sót lại trên môi/trên cằm như người ăn vụng bột, còn dính miệng.

Dạo mới đây, thần-học-gia John D Crossan đề-cập đến việc Đức Giêsu tạo cơ-hội để người nghe thấy được sự ngang bằng/đồng đều ở mọi người; và rồi, sẽ không còn cảnh người nghèo cứ mãi nghèo, có khi phải cạp đất mà ăn cho đỡ đói. Trong khi đó, người giàu-có như đám “ăn trên ngồi chốc” thừa mứa thức ăn cứ đem đổ biển cả những gì người khác trân quý. Thế nghĩa là: Đức Giêsu không muốn có hàng rào ngăn cách mọi người! Trái lại, Ngài luôn biểu-lộ tình bằng-hữu trong xử-thế với tất cả.”


Điều tôi muốn nói, là việc công-khai-hoá để mọi người biết thêm câu chuyện một em bé khác tôi gặp ở Haiti, cứ “khóc lấy khóc để”, suốt cả buổi. Xem ra, em có tâm-sự gì đó buồn rầu rất không ổn. Thấy thế, tôi bèn lân la đến hỏi chuyện: “Hôm nay, sao trong bé buồn quá thế?” Nghe tôi hỏi, tự dưng bé nấc lên thành tiếng khóc rất nức nở mãi không thôi. Đôi mắt bé, lại hằn sâu một nỗi buồn nào đó thật khó tả. Bất chợt, bé nghẹn-ngào trong nước mắt nói với tôi: “Cháu đói bụng lắm cơ, bà ạ!”
Lời một cụ bà sống ở Haiti.


“Tôi vừa đọc cuốn “Đức Giêsu Lịch sử” do ông viết, nay ghi lại đôi giòng cảm tạ vì ông đã nói những điều như thế. Chắc chắn về sau này, tôi sẽ đọc thêm cuốn ấy đôi lần nữa, để hiểu cho ngọn ngành/thấu đáo từng chút một. Thật tôi rất thích, vì hiểu ra được nhiều điều thú-vị mà không cần đi vào chi tiết những gì khiến tôi lúng túng, khó xử suốt một đời, chí ít là khi gặp khái-niệm nào đó nói về Đức Giêsu, đã tra-cứu những chuyện như câu hỏi: Phải chăng Đức Giêsu từng nói rõ về Thiên Chúa là Cha chứ?”
Một nữ-phụ viết từ Puerto Rico, Trung Mỹ        

Thật ra, nhờ sách ông viết, tôi cũng nới lỏng được sợi giây thòng-lọng thắt-bóp đầu óc tôi suốt 30 năm chuyên về thần-học vô-bổ, rồi bảo đó mới là thần-học đích-thực. Không những thế, tôi cũng làm công việc biện-giải cho Đạo và gọi đó là Kinh-điển hoặc Khoa bảng. Giả như tôi trẻ hơn bây giờ chừng 50 tuổi, chắc mọi người sẽ thấy tên tuổi của tôi cũng hiện trên danh-sách học-viên của ông, thôi. Xin gửi đến ông cả triệu lời cảm kích/biết ơn, vì ông là bậc thày sáng-giá đã khiến cho tôi có thêm nguồn hứng-khởi để nhờ đó sống vui, sống khoẻ hơn bao giờ”.
Một độc giả đứng tuổi sống ở Florida.


“Theo tôi, vẫn có nhiều bí-ẩn/huyền-nhiệm cần “giải-mã”. Thế nhưng, chẳng phải Kinh-thánh từng nói: “Không có gì bí-ẩn được giấu kín, mà không hiện rõ trên mái nhà, sao? Tôi vẫn nghĩ: Kinh-thánh Đạo mình, nên mặc-khải thêm cho đấng bậc thày dạy ở Đại-học Công-giáo De Paul nhiều hơn, tựa hồ như cụ bà quét dọn phòng hoặc sửa-sang bồn giặt của tôi, nữa mới được… Tôi tự hỏi: giả như bà con mình gặp Đức Giêsu hôm nay, mọi sự sẽ diễn-biến ra sao? Theo tôi, khi ấy, sẽ có vị lại giữ kín những chuyện tương-tự như thế. Ngược lại, tôi nay tuyên-bố với quý vị rằng: quý vị sẽ không giấu mãi được thế đâu. Tôi thầm cảm tạ Chúa đã tạo cơ-hội cho tôi ghi ra đây vài giòng tâm-sự với ông, hầu tỏ-bày lòng cảm kích/biết ơn ông rất nhiều. Tạ ơn Chúa.”
Một nữ giáo-dân ở tiểu-bang Illinois


“Tôi được hân-hạnh tham-dự một số buổi học Kinh-thánh suốt ba năm trời, vừa qua. Và, đã tham-khảo ý-kiến từ một số đấng bậc nên thấy rằng: ta sống thêm được năm nào thì sẽ càng thấy và hiểu được rằng cuộc sống của ta, vẫn có nhiều thứ để minh-chứng theo khoa-học và nhiều sự để tỏ cho mọi người hiểu. Ngoài ra, vẫn có thế-giới thần-thiêng vĩnh-cửu quanh ta; giúp ta thấy được điều ấy ở bản thân Đức Giêsu, hoặc đấng bậc lành-thánh nào đó hoặc những ai đi vào hiện-tại để chữa lành mọi người. Thời gian ta sống lại rất ngắn, khả dĩ khiến ta có thể giới-hạn hoặc chối-bỏ tính thánh-thiêng của Thiên-Chúa. Nên, Ngài đã chữa lành cho nhiều người và đã trỗi dậy từ cõi chết như một sự-kiện để con người trở về với cộng-đồng nhân-loại theo tính-cách xã-hội-học.”
Một vị vẫn sống ở bang Illinois 


“Lâu nay, tôi từng làm việc nhiều năm tại một bệnh-viện ở Virginia, Hoa Kỳ chuyên chăm-lo cho các bệnh-nhân bị tai-biến mạch máu não. Nhiều đêm, làm việc suốt ở khu cấp-cứu, tôi biết có nhiều người quằn-quại trong cơn đau, nhưng vẫn nói: họ có nhu-cầu siêu-nhiên, nên thấy được ảnh-hình Đức Kitô chữa-lành chính họ, cách thực-thụ. Nhưng tôi thấy bệnh của họ vẫn nặng thêm lên. Tệ hơn, có vị còn kể chuyện tếu đến độ như người khùng điên. Nhưng, không thể viện cớ vào những sự việc này, rồi thắc mắc hỏi tôi có tin hay không? Khi nghĩ rằng niềm hy-vọng của tín-hữu Đạo Chúa đã nói lên thứ ngôn-ngữ huyền-thoại, đặc-biệt là lời thú-nhận rằng: khổ-đau/sầu buồn đều sẽ được chữa lành hết. Dù đôi khi, các việc chữa-lành như thế, không thành hiện-thực cách rõ rệt được. Bản thân tôi, vẫn tin rằng: niềm hy-vọng vào việc cứu-vớt thế-gian ta đang sống, đều nằm ở sự việc ta có sẻ-san chuyện chữa-lành đầy cảm-tính, hoặc có tính thiêng-liêng, xã-hội-học và thể-lý hay không mà thôi. Vấn-đề thật ra không phải để bảo: khổ-đau/sầu-buồn vẫn có thể chữa được, nhưng là: làm sao ta du-nhập việc chữa lành như thế? Làm thế nào, để ta giúp mọi người trở-thành nhân-vị tổng-thể đây? Bản thân tôi, vẫn cứ muốn khám-phá ra được điều ấy.”
Một phụ-nữ viết từ bang Missouri


Với lòng trân-trọng sẵn có, tôi chỉ muốn nói lên một điều, là: có thể trong chuyện chữa-lành được ông đồng-ý: có thể khi xưa có nhiều vụ chữa-lành tựa như thế. Ở đây, xin được phép sử-dụng ngôn-từ do ông từng đưa ra, là: không cốt để cho thấy Ngài có thể chữa-lành mọi tật/bệnh mà thôi… Hầu hết các vụ chữa-lành lạ-kỳ từng gán cho Ngài là tác-giả, ghi ở 4 Tin Mừng qui-điển, đều dính-dáng đến tâm-thần.”
Một người từ bang Minnesota viết thư về tác-giả.

           
“Truyện người đàn bà bị quỉ ám do ông viết ở phần mở đầu cuốn “Đức Giêsu Lịch-sử: Đời Sống Của Một Nông-Dân Do-thái ở Địa-Trung-Hải” gồm những điều được gọi là “Cơn trầm-thống lâm-sàng”, không hơn không kém, tức căn bệnh trầm-kha đã chẩn-đoán nay có thêm tiếp-đầu-ngữ “bất” hoặc “vô”, ở đằng trước. 


Phải chăng ông muốn diễn-tả thực-trạng nông-gia Do-thái ở thế-kỷ đầu, có phải không? Tin tôi đi, đó là tư-tưởng lớn! Nay, cứ thử tưởng-tượng Đức Giêsu lập hành-trình băng ngang biên-giới với nhiều nước, và Ngài lại thực-hiện một số sự-kiện chữa-lành mà trước đó cũng như sau này, đều không có, tức: đây nói về sự tử-tế nhân-hiền, mỗi thế thôi. Chẳng có gì quan trọng, hết. 


Thật ra, đó chỉ là lối “xử sự” mang tính toàn-cầu, mà thôi. Tôi chỉ muốn nói là: giả như việc Đức Giêsu chữa-lành trong trạng-thái hôn mê/mất thần, thì trên thế gian này làm sao Ngài lại có thể yêu-cầu ta và mọi người hãy ra đi mà làm thế trong khi Ngài chẳng dạy phương-cách hoặc huấn-luyện tay nghề gì hết vậy? Phải chăng khi ấy Ngài yêu-cầu “tất cả” mọi người chỉ nên làm những gì Ngài từng làm, thôi; hoặc, chỉ làm đôi điều “thuộc loại-hình” giống như Ngài từng làm, thế thì sao? Và, giả như mọi sự-kiện đều xuống-cấp đến độ không có gì tệ hơn, thì tôi dám nói là: bà con ta có quan-tâm/thắc mắc về những chuyện đại loại như thế, cũng chỉ làm cho mình rối-rắm thêm mà thôi.”          
Một nữ-phụ sống ở South Carolina đã từng viết.



Thế còn phép lạ tự nhiên thì sao? Đức Giêsu có đi trên nước thật không? Hoặc, Ngài chả bao giờ làm thế? Có thật là Đức Giêsu từng đánh bắt mẻ cá lớn hay Ngài chưa từng làm như vậy?


Thật ra thì, so sánh ‘phép-lạ tự-nhiên’ với việc chữa-lành bệnh/tật là hai chuyện rất khác biệt. Và, việc Đức Giêsu trừ tà cũng là thế. ‘Phép-lạ tự-nhiên nếu có xảy ra, cũng chỉ để cho môn-đệ hoặc Mẹ Ngài thấy được chuyện này, mà thôi. Còn, việc chữa lành tật/bệnh hoặc diệt-trừ tà/ma là để người ngoài cuộc biết thêm được sự việc trên đời. Cả đến lượng bánh và cá tăng nhanh, cũng chỉ để con người biết mình có thể hiện-thực với sự tiếp-tay của đồ-đệ Ngài; có nghĩa là: các vị vẫn chỉ hành-động theo tư-cách trung-gian chuyển-đạt yêu-cầu phục-vụ và thu nhanh thu gọn thức ăn rơi rớt, cho khỏi phung phí. 


Cả hai trường-hợp, phép-lạ hay sự-lạ không dành cho người thường ở xã-hội, mà chỉ cho những ai dõi bước theo Đức Giêsu, cách chính-thức. Sao lại như thế? Một lần nữa, ta hãy nhìn về truyện kể ở Tin Mừng rồi sẽ thấy. Hôm ấy, đồ-đệ Ngài ra khơi chèo thuyền trên Hồ Galilê không có Đức Giêsu đi cùng; nên gặp khi bão táp/mưa-sa đổi dồn về, đồ-đệ Ngài không biết cách cho thuyền quay về hướng nào hết, nên mới ra thế. 


Kịp khi ấy, Đức Giêsu đến với các ngài bằng sự-kiện được cho là ‘lướt đi trên nước’, tức thì: mọi chuyện trở nên im-ắng, rất an-bình. Sự-kiện đồ-đệ Đức Giêsu đánh bắt cá trên Hồ Galilê hôm khác, cũng lại không có Đức Giêsu cùng đi, nên chẳng ai bắt được tôm cá nào hết. Kịp vào lúc, Đức Giêsu đứng từ trên bờ gọi vọng lại, các ngài đưa thuyền tới nơi đó, tức thì: các ngài đánh bắt được rất nhiều cá. Nhiều hơn cả khả-năng bình-thường mình vẫn có, khiến các ngài không thể khống-chế tình-huống rất lạ kỳ. 


Riêng tôi, mỗi khi nghĩ đến các sự-kiện này, tôi thường coi hai trình-thuật ấy hoàn toàn chỉ mang tính biểu-tượng, mà thôi. Điều đó có nghĩa là: nếu ta không có Đức Giêsu ở cùng hoặc ở với, thì chẳng ai ‘có’ được điều gì hết. Ngược lại, nếu có Đức Giêsu ở giữa nhóm/hội mình, thì ai ai cũng đều ‘có’ hết mọi sự. Trên con-thuyền-là-Giáo-hội, chính Đức Giêsu mới thực đáng kể và chỉ mỗi Ngài mới là Đấng đảm-nhiệm mọi việc, mọi sự. Đồ-đệ Ngài, dù có là thủ-lãnh tối-cao mấy đi nữa cũng đều tuỳ-thuộc Ngài, mà thôi.



Phải chăng người viết truyện chỉ muốn người đọc hiểu cốt truyện theo nghĩa đen, mà thôi không?         


Tôi không nghĩ thế. Người xưa há chẳng hay kể truyện ly-kỳ/quái-dị mà chúng ta hôm nay là những người tinh-ranh/lanh-lợi sẽ chỉ hiểu sự việc ấy theo nghĩa đen hoặc coi đó như chuyện có thật sao? Thật sự, những chuyện như thế chỉ diễn-tả mọi việc theo cách tượng-trưng, giả-tưởng thôi. Người xưa, kể rất hay và rất tốt các truyện-tích mang tính ẩn-dụ, còn gọi là dụ-ngôn. Vốn dĩ là người sống ở thời khoa-học hiện-đại và tiên-tiến, ta sẽ bị tiếng lẩn-thẩn hoặc ‘quái-gở’ nếu ta lại cứ coi đó như chuyện thật, hoặc rất thực.


Đương nhiên ở đây, tôi không đi sâu vào sự việc gọi là ‘phép-lạ tự-nhiên’ như ai đó có thể mường-tượng. Tuy nhiên, câu trả lời ở trên, chỉ cốt để cho quý vị có một nhận-xét rất khái-quát về các sự việc tương-tự. Phép-lạ hay ‘sự lạ tự-nhiên’, là dụ-ngôn dành cho giới-chức có quyền. Các sự-kiện này, không cốt để nói lên uy-lực mà Đức Giêsu vẫn có đối với thiên-nhiên, nhưng là nói về uy-quyền của đồ-đệ Ngài trong Giáo-hội. Tôi xin lỗi, nếu những điều tôi nói ra, có làm phật lòng người nghe hoặc người đọc hay không cũng không biết. Nhưng, điều tôi muốn nhấn mạnh ở đây, là: khi đọc các truyện kể như thế rồi, lại hiểu theo nghĩa đen, tức là ta hoàn-toàn hiểu ‘lệch’ và hiểu ‘lạc’ đại-ý của người viết truyện.


Ở trên, ông phân-biệt phép lạ tự-nhiên và sự lạ xảy ra nơi con người như truyện Đức Giêsu chữa lành bệnh tật hoặc trừ tà chẳng hạn. Thế thì, chuyện ấy là thế nào?       


Chữa-lành và trừ tà, là những việc có tầm-mức rất dị-biệt. Chúng được nêu ra, là để cho người ở ngoài hoặc cho người dưng/khách lạ, hơn là cho người trong cuộc; hoặc đồ-đệ Ngài. Tiện đây, cho phép tôi có vài phút để nói về chuyện riêng-tư tôi hiểu về sự có mặt của Thiên-Chúa trong lịch-sử nhân-loại. Đây mới là chuyện quan-trọng hơn cả.


Tôi từng khởi-công đi thăm một vài nơi được cho là đã có ‘sự lạ’ xảy ra, như Hang Lộ Đức ở Pháp và Fatima ở Bồ Đào Nha, là các di-tích hoặc đền-đài của Công Giáo còn để lại, nói về Đức Nữ-Trinh Maria đã chữa lành nhiều người. Có lần, tôi cũng ghé khu di-tích Epidaurus ở Hy-Lạp và Pergamum ở Thổ Nhĩ Kỳ, là những nơi mà nhiều người cho là các thần dân ngoại như thần Asklepios từng chữa lành bệnh cho nhiều người. 


“Sự-lạ-chữa-lành” được ghi-nhận ở đây đó trong/ngoài Đạo Chúa, cũng có điểm tương-đồng. Ở những nơi như Hang Lộ Đức chẳng hạn, mọi người đều thấy các nạng gỗ treo lủng lẳng cũng rất nhiều trên đầu người, tức: nhiều vị cứ cho rằng đó là bằng chứng âm-thầm về sự việc nhiều người khi đến đó còn què-quặt; nhưng khi ra về, lại đã lành-lặn. 


Tuy thế, ở những nơi này lại không thấy ai treo lủng lẳng các tay giả hoặc chân giả đã trở-thành tay/chân thật, bao giờ hết. Lại cũng không thấy có bằng-chứng nào hoặc chứng nhân nào được lưu lại để bảo rằng người bại-liệt đã được tái-tạo những chân hoặc tay rất thực-thụ. Vậy thì, ta kết luận chuyện này ra sao?


Niềm tin chữa lành được nhiều tật/bệnh. Với một số người, trong một số hoàn-cảnh nào đó, vẫn xác quyết là: một số tật/bệnh có thể được chữa lành bằng niềm tin, theo tính-cách rất khả-thi, như: di-tích Epidaurus với người ngoài Đạo, Hang Lộ Đức với người Công-Giáo, hoặc Benarès với người theo Ấn-giáo, và cứ thế ta nhân-bản. Tuy nhiên, việc này chỉ hiệu-nghiệm với một số bệnh/tật, hoặc với một số người và trong một số điều-kiện nào đó, mà thôi. Và, đó là điều ta từng nghe Đức Giêsu nói và Ngài còn nói mãi sẽ không thôi, rằng: ”Niềm tin của anh/chị đã cứu chữa anh/chị, đó thôi!
 

Tôi không thể hiểu trọn vẹn tiến-trình này và nhiều người khác giống như tôi cũng sẽ như thế. Nhưng, hãy bỏ qua một bên những sự việc giả-tạo và loè bịp, còn thì niềm-tin của ta, đôi lúc, cũng chữa lành được nhiều thứ. Thế nên, câu hỏi vẫn-còn-đó-nỗi-buồn, là: có chăng một số người hoặc ngay cả rất nhiều người thời xưa cũng từng được chữa lành, như thế chứ?


Đương nhiên là thế. Thế nhưng, phải có điều gì đó nói rất nhiều về Đức Giêsu mới khiến cho nhiều người đến với Ngài để được chữa như sự-kiện đáng kể chứ. Cũng hệt thế, nhiều người đến với ông Gioan Tẩy Giả là để được tẩy rửa, chứ không phải để được chữa lành mọi tật/bệnh! Đó, là vấn-đề ta cần nghiên-cứu kỹ. Dĩ nhiên, một số người đã và đang được ‘chữa lành’ nhờ tin vào Đức Giêsu. Nhưng, sao là tin vào Đức Giêsu?      
     


Có thể nào, xin ông cho một ví-dụ cụ-thể về việc Đức Giêsu chữa lành nhiều người?

Nay, xin bà con nhớ về truyện kể người bệnh phong hủi. Tôi vẫn dùng ví-dụ này để nghiên-cứu vụ/việc về những điều lâu nay ta bàn luận.


Trước hết, nên nhớ rằng: lâu nay ta hay dùng sai tự-vựng khi nói về bệnh “phong cùi” xuất tự tiếng Hy-Lạp, rồi đưa vào truyện kể ở đây. Cụm-từ bên tiếng Hy-Lạp thực-sự qui về một số bệnh ngoài da rất khác-biệt mà hầu hết đều dính-dấp đến bệnh vẩy cá khá ghê-tởm, xuất-hiện trên da dẻ người bệnh, như: bệnh vẩy nến, chứng viêm da màu chàm hoặc nhiễm nấm vi-sinh. Thành thử, khi Kinh thánh sử-dụng cụm-từ “phong cùi”, ta phải hiểu là người viết muốn qui về các bệnh-tình khác nhau chứ không chỉ mỗi chứng “Niêm-mạc” hoặc “Bệnh cùi/hủi” theo kiểu ta gọi là bệnh/chứng Hansen.



Tôi không phải là người bất lịch-sự, nên chẳng quan-tâm gì bệnh thời xưa/cũ, vậy ta có nên nói về chuyện chữa-lành không?   
        

Rất đúng và cũng không đúng. Dĩ nhiên, chữa-lành là chuyện riêng-tư đối với người mang tật/bệnh. Nhưng, trong câu truyện ở đây, ta cần đi sâu hơn vào vấn-đề ấy. Bởi, truyện ở đây trưng-diễn một xã-hội, theo tổng thể.


Hẳn, quý vị còn nhớ những điều ta từng đề-cập ở phần trước, khi bảo rằng: “tiệc-bàn rộng mở” là mẫu-mã thu nhỏ về mối tương-quan xảy đến bên trong xã-hội, nhìn về tổng-thể. Thân-xác riêng-rẽ của mỗi người cũng giống hệt thế. Các nhà nhân-chủng-học từng cho ta biết, rằng: thân-xác là ảnh-hình biểu-trưng cho xã-hội. 


Cung cách mà con người ứng-xử với thân xác sẽ diễn-tả một hiểu/biết về các mối tương-quan xã-hội rất khác biệt. Mọi người trưởng-thành đều biết rằng phun/xâm ảnh-hình này nọ ở tay/chân, hoặc nhuộm xanh nhuộm đỏ lông tóc mọc trên người, hoặc xuyên/xỏ đục lỗ trên da thịt và thân mình và trang-điểm toàn thân đều dễ gây thách-thức nhóm/hội đoàn thể của ai đó rất triệt-để hoặc chỉ cốt để nối-kết với nhóm/hội nào đó, mà thôi.         


Chẳng hạn, hồi thập-niên 1960’, việc để tóc dài xoã ngang vai là dấu hiệu gửi đến với mọi người một thông-điệp về thái-độ của những người chống báng thể-chế nào đó trong xã-hội. Chắc chắn một điều, là: chẳng ai trong chúng ta lại bắt gặp quân-nhân nào đó trong binh-chủng Thủy-quân-lục-chiến lại để tóc cuốn thành lọn, hết. Thành thử, khi xem xét các truyện kể về việc chữa-lành tật/bệnh, ta cũng nên đề cao cảnh-giác các vấn-đề về “ảnh hình thân-xác” trong xã-hội thời Đức Giêsu sống. 



Vâng. Đúng thế. Nhưng, chuyển-dịch các bệnh ngoài da thành “cùi/hủi”, thì sao?


Thật rất đúng! Nếu nói: các bệnh ở trên chỉ minh-hoạ luận-điểm vẫn bảo rằng: thân xác con người là biểu-tượng đặc-trưng cho xã-hội theo cách nhìn tổng-thể. Hơn nữa, nước Do-thái xưa là xã-hội luôn bị các nền văn-hoá ngoại-bang đầy quyền-thế rình-rập hoặc đe-doạ nuốt chửng. Trong tình-huống bức-bách về chính-trị, quân-sự, văn-hoá và tôn-giáo, thì việc nhấn-mạnh đường ranh xã-hội lại được biểu-trung-hoá bằng việc nhấn mạnh bảo vệ đường ranh thân xác, chỉ thế thôi. 


Thành thử, vấn-đề của ta, là: Khi Đức Giêsu chữa lành cho người cùi/hủi, phải chăng Ngài chỉ làm như người chữa lành tật/bệnh mà thôi hoặc Ngài lại cũng là người chỉ trích xã-hội Ngài sống, chứ?


Với tôi, vấn-đề ở đây xem ra khó thành hiện-thực đấy.      


Tôi không phản-bác sự-kiện là: kể như thế, tức là ta đang đi vào một thế-giới đầy tư-tưởng và thực-hiện những sự việc rất ư lạ lùng đối với ta. Thật ra, đó có thể là bước khởi-đầu của sự khôn-ngoan, tức: nhận-thức rằng thế-giới truyện kể ở Kinh thánh, theo nhiều cách, không là thế-giới của chúng ta. Nhận-thức này, ít ra cũng sẽ giữ-gìn ta không phạm phải những sai lầm to lớn mà ta hiểu bằng tự-vựng của thế kỷ 20, hoặc 21. 


Nhưng, hãy cho tôi đề-nghị quí vị là: ý-nghĩa thân-xác cá-nhân như mẫu-mã cho thân-tâm chính-trị, cuối cùng lại cũng khó thành hiện-thực. Tôi vẫn bảo: bất cứ xã-hội nào từng bị đe-doạ, như đất nước người Do-thái, chẳng hạn, vẫn gia tăng lòng muốn thiết-lập và bảo-vệ ranh-giới của nước mình.  Trong phương-cách thấy rõ nơi sách Luật Lêvi có muôn vàn đạo-luật mở rộng thân xác, cả về việc đưa thực-phẩm vào người; hoặc sản-sinh các bé em cũng đều như thế. Vấn-đề về tật/bệnh gộp chung lại thành bệnh cùi là những gì rộng mở và xuất-hiện trên da thịt là ở chỗ: dấu-hiệu ấy không được xuất-hiện trên đó. Nói cách khác, tất cả mọi ranh-giới phải bị phá bỏ, và toàn-bộ hệ-thống xác-phàm đều sụp đổ. 


Dù sao, với luật Lêvi thì bệnh ‘cùi’ không chỉ áp-dụng trên da dẻ mà thôi, nhưng cả với áo quần và tường/gạch trong nhà nữa. Ở một số hoàn-cảnh, mỗi mặt bằng đều được coi là “uế-tạp” không thích-hợp về mặt xã-hội. Tôi nhận ra rằng: đây là cách suy-nghĩ cũng rất lạ đối với người thời nay. Nhưng, điều đó cũng giúp ta thấy được rằng: người nào mắc bệnh ngoài da, như cùi/hủi chẳng hạn, thì việc đó sẽ trở-thành nguồn-cội cho các âu-lo xã-hội, không phải vì theo y-học, nó mang tính hay lây như ta vẫn tưởng-tượng, mà là nhiễm bệnh cách tượng-trưng. 


Ranh-giới thân-xác bị gẫy đổ, sẽ biểu-trưng cho mối đe-doạ sự toàn-vẹn cũng như an-toàn về xã-hội, nhìn tổng-thể. Đó là lý-do ta đọc thấy ở sách Luật Lêvi đoạn 13 câu 45-46, như sau:

                    
“Người mắc bệnh phong hủi phải mặc áo rách, xoã tóc, che râu và kêu lên: "Ô uế! Ô uế!" Bao lâu còn mắc bệnh, thì nó ô uế; nó ô uế: nó phải ở riêng ra, chỗ ở của nó là một nơi bên ngoài trại.” 


Giòng cuối của đoạn trên cho thấy quan-điểm cá-nhân người bệnh nhìn về xã-hội đã thấy: “mình phải ăn ở riêng biệt; chỗ ở của mình phải là nơi bên ngoài trại”. Thành thử, những gì Đức Giêsu thực-hiện là việc nghênh đón những người “sống ngoài trại”: được phép trở lại với cộng-đoàn mình từng bị đào-thải. Vậy nên, việc nghênh đón những người như thế được trở về nhà, lại chính là hành-động chữa-lành cách đích-thực, thôi.

                                                                                                  (Còn tiếp)

Cựu Lm John Dominic Crossan soạn.
Mai Tá, giáo-dân lược-dịch


                                  

Wednesday, 13 May 2015

Cựu Lm John D Crossan Bài 12 Dụ ngôn truyện kể ở Phúc Âm để làm gì



Chương 4
Đức Giêsu
đã giảng và dạy những gì?
 (bài 12)


Phúc âm kể dụ-ngôn hạt cải để làm gì? Phải chăng để bảo: Vương Quốc Nước Trời khởi từ hạt cải, sau đó lớn mạnh? 


Đó là nội-dung lời chú-giải ta nghe rất thường ở Phúc Âm. Thế nhưng, ở đây cũng cần xem kỹ loại cây cải này sống ở Địa Trung Hải, tức: loại cây mà chim trời có thể làm tổ ở đó. Quả là, cây cải tự sinh sôi/nảy nở từ một hạt nhỏ. Khi cây tăng-trưởng, nó thành bụi rậm cao gần một mét và có cây còn cao hơn thế. Nhưng theo tôi, thì khi nghe kể dụ-ngôn này, người nghe sẽ nắm trọn ý Đức Giêsu nói qua câu truyện.   

Tác-giả “Pliny Già”, là người đã quá vãng vào năm 79 sau Công nguyên, vì ông dám đến gần sát núi Vesuvius đang bốc lửa. Vào dạo ấy, ông có viết về cây cải trong sách có tựa đề là “Thiên-nhiên Sử”. Ông mô-tả vị cay nồng đến “cháy môi/miệng” của cây, nhưng theo ông, nó lại có tính bổ-dưỡng cho sức khoẻ con người. Ông nói: cây cải loại này, thường mọc ở khu hoang-dã, nhưng ta vẫn có thể cải-thiện nó bằng cách đem về ghép với cây nào khác trong vườn nhà, cách cẩn-thận. Và ông bảo: “Khi gieo xuống đất, nó sẽ không chừa khoảng đất trống nào ở xung quanh. Bởi, hạt của nó rơi xuống, sẽ đâm chồi thành cây lớn ngay lập tức.”

Nói cách khác, khi kể dụ-ngôn hạt cải, Đức Giêsu có ý bảo: cây này sẽ lấn chiếm những nơi không ai muốn nó tới; và nó có khả-năng tránh được mọi khống-chế/ràng-buộc bởi thế nên, nếu không thích, ta có thể dễ dàng bứng nó đi. Đức Giêsu chủ-trương Vương Quốc Nước Trời, giống bụi cải cay nồng này, lại có đặc-trưng/đặc-thù là khi ta đã vất bỏ nó rồi, vườn tược của ta bị nguy-hại vẫn không nhỏ. Sự thật thì, tại các khu trồng trọt, ta vẫn thấy chim trời tới đó đậu trong phút chốc hoặc làm tổ để ở, dù chẳng ai thích chúng đến. Là nhà nông, chẳng ai muốn thấy chim trời đến ruộng/vườn nhà mình để ăn hạt giống lẫn đậu hạt do mình ra công trồng trọt. Hơn nữa, đây là ẩn-dụ khiến người nghe kinh-ngạc, sửng-sốt. Ẩn-dụ về Vương Quốc nói ở đây, là thứ dịch hại gây cho chủ vườn vốn dĩ chăm lo canh-tác rất cẩn-thận. Nghe thế, hẳn quý vị lại sẽ nghĩ, rằng: giới chủ-đất cùng như tá-điền, hằng ngày vẫn không ngừng lao-động hoặc cả những người vô công rỗi nghề hoặc các tay hành-khất tuyệt-vọng, cũng đáp trả theo cách giống hệt như thế, chí ít là về Vương Quốc Nước Trời được ví như cây cải.


Nếu thế, dụ-ngôn hạt cải lại kể nhiều hơn các bài giảng hay sao? Kể truyện dụ-ngôn có buộc người kể phải suy về ý-nghĩa của cốt truyện, không?

Nghe truyện dụ-ngôn Đức Giêsu kể, rồi suy cho kỹ, sẽ giúp ta trả lời các câu tương-tự, cách tích-cực. Thật ra thì, truyện dụ-ngôn giúp ta hiểu được các câu Đức Giêsu nói về “Vương Quốc Nước Trời” mà giáo-lý trong Đạo từng qui-chiếu. Điều này cũng thấy ở văn-bản khác, như Tin Mừng do tác-giả Tôma viết, mà tôi xin phép được trích-dẫn ở đây một đoạn như sau:

“Đức Giêsu nói: “Có người từng đón khách quí đến nhà mình khoản đãi. Chuẩn bị bữa ăn tối cho khách, ông sai đầy tớ đi ra ngoài mời khách vào nhà. Người đầy tớ đến mời người thứ nhất và nói: ‘Thày tôi mời ông đến.’ Người ấy bảo: ‘Tôi đang có mấy người khách buôn hàng còn nợ tiền của tôi, họ sẽ đến chỗ tôi vào tối nay. Tôi phải đi đón để còn ra hiệu-lệnh cho họ nữa. Vậy xin khất để hôm khác nhé.’ Người đầy tớ lại ra đi mời người khác và nói với người này như sau: ‘Thày tôi mời ông đến.’ Người này lại nói với đầy tớ rằng: ‘Tôi vừa tậu căn nhà và họ gọi tôi đi xa mất cả ngày. Tôi không có giờ đến dự đâu.’ Người đầy lại đi mời người khác và bảo: ‘Thày tôi mời ông đến.’ Người ấy lại cũng nói với đầy tớ rằng: ‘Bạn của tôi nay có đám cưới nên tôi phải sắp đặt buổi tiệc cho bữa đó nên không đến được. Tôi xin lỗi không đến dự bữa tối với thày của ông được.’ Người đầy tớ lại đến với người khác và nói với người này rằng: ‘Thày tôi mời ông đến.’ Người được mời bèn nói với đầy tớ rằng: ‘Tôi vừa mua được căn hộ nên phải đi thu tiền thuê nên không thể đến được. Tôi thành-thật xin lỗi.’ Người đầy tớ trở về tâu với chủ: ‘Những người mà Ngài mời tới dự tiệc đều xin kiếu.” Người chủ bèn nói với đầy tớ của ông rằng: ‘Ngươi hãy ra ngoài đường và đem về đây bất cứ người nào ngươi gặp để họ dự tiệc.’ Mọi kẻ buôn người bán [sẽ] chẳng vào được nơi ở của Cha ta.”


Ở câu cuối, Ngài lại bảo: “Mọi kẻ buôn, người bán sẽ chẳng vào được nơi ở của Cha ta”, đó là lối diễn-tả của tác-giả Tôma về ý-nghĩa của dụ-ngôn. Trong khi tác-giả Luca kể, ông lại sử-dụng cụm-từ “Những người bị ruồng bỏ” được gọi đến dự tiệc. Còn tác-giả Mátthêu lại viết: “Kẻ tốt người xấu” tụ-tập đến’. Tuy thế, đằng sau các giải-thích riêng này, ta thấy cùng một lối kể truyện phổ-biến cùng khắp, vẫn tuân-theo đường-lối rất giống nhau.

Qua truyện trên, Đức Giêsu kể về người lo tiệc để đãi khách, nên sai đầy-tớ ra ngoài mời bạn-bè ông đến. Người được mời, cứ tuần-tự kiếm lý-do này/khác để xin kiếu, không đến. Xem thế thì, truyện ở đây cho thấy: tiệc đã sẵn, nhưng phòng tiệc vẫn cứ trống, nên chủ nhà bèn sai gia-nhân thay thế khách chối-từ bằng cách mời bất cứ ai sống ở ngoài đường.

Ở đây, ta cũng nên dừng lại đôi phút, để suy về cảnh tình xảy ra, vào lúc đó. Giả như ai đó, sống vất-vưởng ngoài đường, lại được mời dự tiệc, hẳn người tham-dự sẽ gồm đủ mọi giới, mọi giai-cấp, ngạch-trật trên dưới rất lẫn lộn. Và khi đã vào ngồi, người này lại sẽ dựa vào người kia, nam cạnh nữ, người tự-do ngồi sát dân nô-lệ, người cao/sang sẽ ngồi cạnh kẻ dưới thấp, người thanh-bạch cạnh người tầm-thường cả trong nghi-thức ăn/uống, lễ-lạy. Và dĩ nhiên, điều này lại sẽ chao-đảo cả xã-hội và trở-thành mối đe-doạ các qui-định dựng cuộc sống đã được nghiên-cứu cẩn-thận ở những thế-kỷ đầu.


Chuyện này không chỉ xảy ra ở thế kỷ đầu mà thôi. Hãy tưởng-tượng, thời buổi này lại có người dám huỷ bữa tiệc linh-đình đã dọn sẵn thay vào đó, cho gọi kẻ đầu đường xó chợ đến ăn, sao?


Đó chính là vấn-đề. Riêng đây, hãy tưởng-tượng trường-hợp có người hành-khất nào đó tự dưng đến trước cửa nhà mình để xin ăn. Có thể, quý vị cũng bố thí cho người ấy đôi chút độ-nhật bù cho họ cả ngày đường, phải “lang bạt kỳ hồ” đây đó. Có thể, lại có ai đó độ-lượng hơn, mời người lạ vào tận bếp, lấy đồ nhà ra cho nguời ấy ăn. Hoặc giả, có người còn ưu-ái hơn, kêu mời người ấy bước thẳng vào phòng ăn để cùng với gia-đình ăn cơm tối, thoả thích. Hoặc, bảo người dưng khách lạ cứ trở lại vào cuối tuần để cùng ăn/cùng uống với bạn bè/người thân vui chơi chè chén với gia-đình, chăng?

Lấy ví-dụ khác: ví thử ta là Giám đốc công-ty danh tiếng nọ, đã sửa soạn bữa tiệc nhẹ tại phòng khách công-ty; hoặc, sửa soạn bữa ăn trưa ở nhà hàng để khoản-đãi các trưởng sở hoặc mở tiệc đặc-biệt cho các sếp hoặc phó phòng ở nhà mình, mà bị từ-chối, hẳn người tổ-chức có thấy gì khác câu truyện ở trên không? Thế-kỷ thứ XX đâu nào khác thế kỷ đầu đời, khi những người được mời đến thưởng-thức món ăn ngon, là để khoản-đãi các đối-tác đồng-cấp hầu củng-cố địa-vị mình đang nắm trong công-ty, hoặc trong xã-hội mình sống; chí ít là để duy-trì quan-hệ thương-mại với nhiều người.

Xem thế thì, ăn uống không chỉ là tác-động đơn giản về thể-lý để xua cơn đói đang dồn cục trong bụng. Các nhà nhân-chủng-học có kể rằng: Các “qui-định” ẩm-thực chỉ là ảnh-hình thu nhỏ của xã-hội đưa ra qui-định nào đó trong quan-hệ và giáo-tế  của nhiều người. Những gì ta thực-hiện tại bàn ăn, được coi như bản-đồ cho thấy sự khác-biệt về kinh-tế, xã-hội và chính-trị ở một số nơi.

Hãy lấy ví-dụ nước Mỹ vào đầu thế-kỷ thứ XX, các phong-trào đòi quyền sống đã nổi dậy ở một số tiểu-bang. Hãy nghĩ về các cơn giận của nhiều người da trắng  tại bữa ăn do “Woolworth” tổ-chức tại quầy cho khách hàng người da mầu đã được ăn uống thoả thuê lại còn chễm chệ ngồi sai nhân-viên phục-vụ lấy bánh mì kẹp thịt với Coca-Cola cho mình. Có khác cảnh-tượng kể trên không!

Xã hội hiện-đại tuy rực sáng tính dân-chủ, nhưng cũng có qui-định về ăn uống, như: ăn ở đâu? Khi nào? Cùng bàn với ai? Khi xưa, cũng có nhiều đạo-luật nhấn mạnh việc chống báng người da mầu, tuyệt-đối không cho họ ăn/uống ở một số nơi qui-định, và nhất là: không cho phép người da mầu được phép ngồi ăn chung với người da trắng.

Qui-định tổ-chức các bữa ăn trưa khi xưa, là ảnh-hình thu nhỏ về khuôn-mẫu giao-tế nhân-sự ở xã-hội chủ-trương phân-biệt chủng-tộc, nói chung. Thành thử, khi giới trẻ  da trắng cũng như da mầu, dám phá bỏ các qui-định hoặc luật-lệ về chuyện ăn uống/chung đụntg với các sắc-tộc khác nhau hoặc việc đi chung cùng một xe buýt này/khác, là họ đã tạo sự chống-báng ở xã-hội nơi họ sống  tựa như thế. “Tiệc bàn phân-biệt” nhiều chuyện đã biểu-trưng phân-biệt/kỳ-thị ở xã-hội cùng khắp, lớn/nhỏ. Trong khi đó, “Tiệc bàn rộng mở” lại vẫn là biểu-tượng cho cộng-đồng nhân-loại rất đồng đều, “nên-một”. Và, đó là những gì từng xảy đến dưới thời Đức Giêsu hoạt-động và sinh sống.    


Dù sao thì dụ-ngôn chỉ là truyện kể. Sao cứ hiểu truyện kể, chỉ mỗi nghĩa đen?

Dĩ nhiên, đó chỉ là truyện kể, nhưng truyện đây thách-thức mô-hình xã-hội thu nhỏ, coi đó như chốn miền của hệ-cấp cầm-quyền đầy phân-biệt. Và, truyện kể đây thực-sự còn tệ hơn dụ-ngôn được kể nữa; bởi lẽ, Đức Giêsu sống-thực truyện dụ-ngôn do Ngài kể cho mọi người hiểu bằng cách mời gọi mọi người hãy ngồi vào bàn tiệc trong đó có đủ mọi hạng người khác nhau. Khác, về giới-tính. Khác, cả giai-tầng xã-hội hoặc trong đó có người còn đắn đo, do dự.

Hẳn, quý vị còn nhớ những điều được đề-cập hôm trước, trong đó có nói đến những lời buộc tội ông Gioan Tẩy Giả bị ma-nhập do bởi ăn kiêng lâu ngày; và cả chuyện bảo rằng: Đức Giêsu là kẻ “ham ăn tạp uống” do bởi Ngài ngồi cùng bàn với đám tội phạm cùng thu thuế và cả lũ điếm đàng nữa, cũng thế.

Đành rằng, cáo buộc như thế chỉ là lời cộc cằn/thô-bỉ, mà thôi. Nhưng, ngay cả những lời nói có tính ơ hờ, “chụp mũ” như thế cũng có cái lý riêng của nó; hoặc, dựa trên một số nền-tảng được định-vị trong xã-hội thời đó là cốt để thoá-mạ, chửi bới người khác. Đức Giêsu sống đích-thực dụ-ngôn được kể về “Tiệc bàn rộng mở” qua đó, Ngài giang tay đón chào mọi thực-khách, lại đã tạo lời cáo-buộc bảo rằng: Ngài là kẻ “ham ăn/tạp uống” chỉ làm bạn với đám thu-thuế, điếm-đàng hoặc tội phạm, mà thôi.

Nói cách khác, những lời đả-kích ở trên chỉ muốn bảo rằng: Ngài không phân-biệt lớn/bé, già/trẻ, giàu/nghèo; cũng chẳng kỳ-thị trắng/đen, nam/nữ. Và bởi vì, giới nữ vẫn hay có mặt vào lúc Ngài ngồi cùng bàn tiệc với hết mọi người, đặc-biệt là các nữ-phụ không chồng không con, nên các cáo-buộc bảo rằng “Đức Giêsu ham ăn/mê uống cả với giới “phàm-phu tục tử”, “điếm đàng” là việc lăng-nhục chĩa thẳng vào các nữ-phụ dám vượt tầm kiểm-soát của nam-giới theo lề-luật ở xã-hội thời đó. Thành thử, ngôn-từ do người lăng-mạ sử-dụng như: quân thu thuế, đám đĩ điếm, tội-phạm… là ngôn-từ được dùng để giảm-giá những người cởi mở, dám sống tự do giao-tế với hết mọi người, trong khi nam-giới chuyên khuynh-đảo vẫn có thói “kẻ cả”.

Thành thử, với Đức Giêsu, Vương Quốc Nước Trời được tả bằng hình-ảnh của việc sửa-soạn bàn tiệc có chỗ ngồi hẳn hoi. “Tiệc bàn rộng mở” không phân-biệt một ai, lại đã diễn-tả một xã-hội thu nhỏ không kỳ-thị. Và quan-niệm cũng như tầm-nhìn này, trên căn-bản, đã chạm phải giá-trị nền-tảng của nền văn-hoá Địa-Trung-Hải, vào thời xưa. Cũng không thể bảo rằng: có thể cũng hơi sớm, nếu có ai đề-nghị ta nên nhận ra được sự giận-dữ kéo theo sau việc “ngồi cùng bàn” vẫn còn mới mẻ, vào thời ấy. Đó, cũng là một trong các lý-do khiến họ giam giữ và xử trảm Ngài, không cho Ngài được phép hoạt-động giảng rao/giúp đỡ người nghèo-khó/cùng-quẫn nữa.


Tiệc Tạ Từ của Đức Giêsu có khớp với hình-ảnh buổi tiệc như thế không?                              

Dĩ nhiên là, ta hay có cảm-giác nghĩ rằng: các bữa ăn như thế, là do truyền-thống lễ lạy của giáo-hội thời cổ chỉ muốn dặm thêm sắc-mầu điểm-tô bằng từ-vựng như: “Rước Mình Chúa”, “Lễ Tiệc Ly”, hoặc “Tiệc Thánh Thể”, vv. Cũng có thể, Đức Giêsu từng dùng bữa tối cuối cùng với các môn-đệ của Ngài, cũng không chừng.

Thế nhưng, câu hỏi về tính-chất lịch-sử của bữa tiệc như thế được đặt ra qua câu hỏi: Ngài có thiết-lập tiệc Vượt Qua Mới, hầu biểu-trưng việc Ngài cương-quyết đi vào cõi chết vì Đạo Chúa hôm ấy hay không, hoặc đã có lời dặn dò mọi người hãy tổ-chức những buổi “Tiệc thánh” như thế hầu tưởng-nhớ Ngài, không? Bằng-chứng lịch-sử cho thấy câu chuyện này, nay bị lẫn-lộn/hoà-trộn.

Tác-giả Phaolô hẳn đã hiểu việc Ngài thiết-lập những buổi như thế qua bức thư thứ nhất gửi người dân thành Côrinthô, ở đoạn 11 câu 22-25. Nhưng, sách Điđakê, một tài-liệu được thiết-lập hồi cuối thế-kỷ thứ nhất, đã mô-tả tín-hữu thời đầu có thói quen cùng nhau ăn uống chung trong cộng-đoàn tín-hữu và đã cho thấy: các tín-hữu thời này vẫn không hay biết gì về các nghi-thức này/khác mang ý-nghĩa của Bữa Tiệc Tạ Từ. Và, tài-liệu này cũng không cho biết: có hay không nối-kết nào về Tiệc Vượt Qua và có buổi tưởng-niệm nào về việc Đức Giêsu ra đi vào nỗi chết, như thế!             

Thành thử, riêng tôi, tôi sẽ diễn-tả cảnh tình ấy như thế này: Những gì Đức Giêsu để lại cho hậu thế, vẫn là truyền-thống về “Tiệc bàn rộng mở” như một dấu-chỉ về sự gom-gộp chung cùng cộng-đoàn và cuộc sống ngang bằng/bình-đẳng ở Vương Quốc Nước Trời. Mãi sau này, một số đoàn/nhóm Kitô-hữu mới lập ra lễ Tiệc Ly. Và thêm vào đó, là việc tưởng-niệm cái chết của Đức Giêsu vào truyền-thống san-sẻ của ăn/thức uống chung cùng nhau, như thế.


Trước đây, ông qui-chiếu phong-trào nhân-quyền ở Hoa-Kỳ để minh-hoạ cho cuộc vận-động của Đức Giêsu ở thế-kỷ đầu. Phải chăng ở đây có vấn-đề, là: khi diễn-tả sự ngang bằng giữa mọi người, ông đã vẽ ra hình-ảnh đầy sắc mầu hiện-đại chứ? Có phải ông cũng phóng lên cao giá-trị dân-chủ thời hiện-tại ngược về thế kỷ đầu, chứ?

Không phải thế. Tôi chỉ vẽ lên những gì mang tính triệt-để hầu làm nổi-bật kinh-nghiệm ta có về nền dân-chủ hiện-thời.

Hãy cho phép tôi định-vị thế này: Những người như các nông-gia sống đời “chân lấm tay bùn” đến tận cổ, đã lựa chọn hai giấc mộng khác nhau. Một, về thế-giới trong đó họ đem công việc “chân lấm tay bùn” của họ chuyển cho người khác. Điều đó, là hy-vọng dễ hiểu hoặc cho cả việc lên kế-hoạch trả thù/trả đũa nữa. Giấc mộng thứ hai, là công bằng/chính-trực của thế-giới trong đó họ không làm người khác phải “chân lấm tay bùn” đến tận cổ, gì hết. Lấy ví-dụ chị nông-dân nọ không rõ tên tuổi, từng viết từ Sicily, nước Ý kể cho nhà báo nghe về cuộc nổi dậy của nông-dân vùng này vào năm 1893, bằng những giòng như sau:

“Chúng tôi muốn mọi người làm việc như chúng tôi đây. Xã-hội này, sẽ không còn kẻ giàu/người nghèo khác nhau nữa. Tất cả đều có bánh ăn cho mọi người và con cháu họ. Chúng ta, sẽ ngang bằng/đồng đều không ai hơn ai, kém ai hết. Tôi đây có 5 mụn con nhỏ nhưng chỉ có một phòng bé tí tẹo vừa để ăn vừa để ngủ và làm hết mọi thứ; trong khi đó, nhiều chủ đất lại có đến mươi, mười hai căn phòng lớn nhỏ, đầy đủ chỗ cho một người… Sẽ đủ chỗ, để mọi người có thể ngồi chung với nhau san sẻ chia cho nhau những thứ mình sản-xuất, rất công bằng, hoà-hoãn”.


Thế-kỷ đầu, nhiều người Do-thái biết nhìn về tương-lai để trả-thù/trả đũa hết mọi thứ, mọi người. Đức Giêsu sống với những người nhìn ra được một tương-lai tươi-sáng hơn. “Tiệc bàn rộng mở”, chủ-trương chấm-dứt các lạm-dụng quyền-lực; thay vào đó, đem lại cuộc sống ngang bằng/đồng-đều cách triệt-để diễn-tả bằng câu giảng-dạy của Đức Giêsu. Xem thế thì: việc tạo Vương Quốc Nước Trời không là phóng-ảnh nhìn thấy trước về nền dân-chủ hiện-thời. Nhưng, Vương Quốc Nước Trời mang tính triệt-để hơn, đáng sợ hơn bất cứ thứ gì ta tưởng-tượng.

Thế nên, dù không chu-toàn được trọng-trách ấy, hoặc không chấp-nhận tầm-nhìn ấy, ta cũng không nên giải-thích nó theo nghĩa yếu-hèn, được. Hãy tránh làm điều gì, dù có tác-giả xưa từng làm thế khi viết Tin Mừng, chỉ nhằm mục-đích để thuần-thục-hoá lời nói hoặc việc làm của Đức Giêsu cho dễ hiểu và dễ chấp-nhận.

Tầm nhìn về Vương Quốc Nước Trời do Đức Giêsu tạo cho ta, có thể cũng khó mà phiên-dịch ngay tức thời, thay cho hoàn-cảnh xã-hội thực-tế nào khác của con người. Tầm nhìn về Vương Quốc Nước Trời, ta nên coi đó như những gì hiện-hữu tuy có căng-thẳng nhưng sáng-tạo đối với hoàn-cảnh hoặc sắp-đặt của con người trong xã-hội.

May thay, sự việc ấy thúc-bách ta cố-gắng nhiều hơn nữa, hầu tránh mọi lạm-dụng có thể có; và đem công-bằng/chính-trực về với mình. Điều này, là để loan báo Thiên-Chúa công-bằng/chính-trực cách triệt-để hầu mời gọi ta thiết-lập một xã-hội không thua kém, ở dưới thế. Giả như ta đáp lại rằng: không thể làm thế được, thì Thiên-Chúa có lẽ cũng đáp lại: nếu thế, tương-lai thế-giới cũng không thế được.                                       


Phải chăng sứ-điệp của Đức Giêsu về Vương Quốc Nước Trời đều liên-quan đến hành-động? Đức Giêsu có đưa ra ý-tưởng hoặc chương-trình nào không?


Như ta biết, Đức Giêsu sống ở thời có những chao-đảo/xáo trộn xảy ra trong xã hội. Thế nên, cụm-từ “Vương Quốc Nước Trời” mang nghĩa xã-hội và chính-trị đối với người nghe. Như thế, có thể bảo: trăm phần trăm điều đó có nghĩa tôn-giáo; nhưng cũng trăm phần trăm mang nghĩa chính-trị; trăm phần trăm có nghĩa thần-học, và trăm phần trăm có nghĩa kinh-tế/xã-hội nữa.

Cũng có thể, lời Đức Giêsu răn dạy chỉ mang tính thiêng-liêng không liên-quan đến các khủng-hoảng khiến dân-con của Ngài phải đối đầu. Cũng có người hỏi: tại sao, trong sự-kiện nào đi nữa, đám nông-dân lại chấp-nhận lắng tai nghe Ngài dạy bảo? Phải chăng, là thứ cám-dỗ đặc-biệt đối với những người như chúng ta là học-giả kinh-điển hoặc là nhà giảng-thuyết từng diễn-nghĩa lời/lẽ của Đức Giêsu theo cung-cách trí-thức, chỉ coi đó như thành-phần của lịch-sử tư-tưởng, mà thôi không?

Tuy là thế, những gì tôi nhấn mạnh ở đây, cốt ý nói: Đức Giêsu không bàn-luận về Vương Quốc Nước Trời, nhưng Ngài lại hành-động cách đích-thực và kêu mời mọi người hãy thật tình thực-hiện động-tác ấy. Giả như, thực-tế chuyện Ngài làm chỉ cốt về Vương Quốc Nước Trời mà thôi, thì Galilê chốn-miền-ở-bên-dưới, có thể sẽ mở miệng to mà hoan-nghênh Ngài cho lớn tiếng.

Dạo trước, tôi cũng từng hăng say tranh-luận rằng: việc Đức Giêsu tích cực mời gọi mọi người ngồi vào bàn tiệc chung, đích-thị là hành-động vi-phạm qui-tắc xã-hội mà thời đó mọi người không có thói quen làm thế. Và điều ấy, đem đến cho Ngài lời nhục-mạ rất thậm-tệ, để bảo rằng: Ngài là “người ham ăn/tạp uống, kết bạn với dân thu thuế, phường tội phạm”, vv.. “Tiệc bàn rộng mở” của Ngài khi xưa chỉ là mẫu-mã của một xã-hội thu nhỏ, thôi.

Ở đây, tôi muốn nhấn mạnh thêm một điều, là: sự việc tương-tự cũng đã xảy đến, khi Đức Giêsu chữa lành chúng dân ở đời. Việc Ngài làm, không đơn-thuần chỉ là hành-động cá-nhân mang tính xót-thương, mà là cung-cách rất khác, hầu tạo-mẫu cho Vương Quốc Nước Trời đối đầu với mẫu mã/hình-hài từng có sẵn về cuộc sống ở xã-hội, ngoài đời.

Giả như ta không giảm-thiểu Đức Giêsu xuống thành bậc thày chỉ răn-dạy mỗi ý-tưởng trừu-tượng thôi, thì điều quan-trọng đối với ta, là: hiểu rằng Ngài có tự-do chữa-lành cũng như tổ chức “Tiệc bàn rộng mở” cho mọi người. Và điều này, lại sẽ đưa ta vào những gì tôi sẽ nói ở chương tiếp.

Cựu linh-mục John Dominic Crossan
Mai Tá lược dịch