Friday, 15 March 2013

Lm Richard Leonard sj: Ngoại tình, truyện kể như phim kịch




Trình thuật hôm nay, kể về người nữ phụ ngoại tình. Truyện rất gọn. Kể thông thoáng. Như phim kịch. Thoạt đầu, người nghe tưởng chừng như đang chứng kiến vị Thẩm phán Công Minh, lâu nay quên sót các lỗi lầm loài người từng phạm, trong quá khứ. Đang ngồi ghế xử án. Vào vụ xử hôm nay, Vị Thẩm Phán Công Minh, tuyệt nhiên không quên lỗi phạm của ai, nhưng Ngài vẫn công bằng xử sự theo đậm sắc mầu tha thứ. Thứ tha, bằng phán quyết chung cuộc thật sắc nét: “Tôi cũng vậy, Tôi không lên án chị. Thôi chị về đi, và từ nay đừng phạm lổi”. “Hãy về đi”, là phán quyết gửi đến với hết mọi người. Ở mọi nơi. Ngay bây giờ.
Về lầm lỡ/lỗi phạm, ai mà chẳng hơn một lần vướng víu hay khúc mắc. Những vướng mắc, vì phái bè Pharisêu - Luật sĩ không áp dụng đúng luật, họ đề nghị. Chỉ dàn dựng sơ sài để gài bẫy, cộng với trò chơi khăm, giăng mắc bẫy. Cứ sự thường, trong các vụ như thế, nếu vi phạm luật lệ đáng giáng bổ hình phạt ném đá như mọi người; nhưng, sao ở đây chỉ đơn độc có mỗi nữ phụ phải gánh chịu? Tất cả đâu rồi, sao không thấy “nguyên đơn”? Mà, chỉ có mỗi bên “bị”? Biến cả đâu rồi, ai là người chứng? Không người chứng, vụ án có là vụ xử theo cung cách hình sự, rất công minh? Phải chăng, đây chỉ là bẫy cạm. Là, trò chơi trội với Đức Chúa? Bẫy cạm, vì chỉ muốn xem Ngài xử thế ra sao, để giở trò công kích?
Vâng. Trò giăng mắc bẫy cạm, xét cho cùng, người La Mã đã cho phép lề luật Do Thái ném đá nữ phụ nào ngoại tình  - chứ ai nào dám đụng tới nam nhân. Là trò, ném đá xử phạt cho đến chết. Ở đây, lại thêm một bất công nữa, từ lề luật rất trọng nam khinh nữ? Khinh, người thấp hèn. Coi rẻ, kẻ mù chữ. Mù, về luật pháp, làm sao kiếm được người biện hộ. Tìm đâu ra người bào chữa. Đỡ nâng? Chí ít, là khi mình ở thế oan nghiệt? Thay vào đó, giới luật sĩ vẫn chễm chệ chơi trò áp đảo. Ngồi lên trên cả luật pháp. Luật, của “đua chen, lọc lừa”. Dối trá.
Nguời nữ phụ bị bêu rếu trong vụ xử hôm nay, là ảnh hình phản chiếu tâm trạng có những “lặng im sóng đời trôi nổi”, như chúng ta. Cả phái bè Luật sĩ/Pharisêu lẫn con dân nhà Đạo, đều đã hơn một lần, từng phạm lỗi. Lỗi phạm, không vì phản chống xã hội do lề luật có bất công. Nhưng vì không có lòng yêu thương. Tha thứ. Đầy trắc ẩn.
Trình thuật hôm nay cho thấy: Đấng Công Minh Nhân Hiền đâu chối bỏ chuyện: nữ phụ ngoại tình, thật sự đã phạm lỗi. Chị phạm lỗi thật đấy, nhưng lỗi ở đây, đâu xuất phát từ mình chị. Ngoại tình là hành động xúc phạm của hai người. Và, ít nhất một trong hai, là kẻ đã yên bề gia thất. Ngoại tình, là hành động phạm pháp phản chống sự tin tưởng vào tương quan giữa hai người. Có nghĩa vợ và tình chồng. Ngoại tình, là hành xử bất công đối với người vô tội. Phía bên kia. Tính nghiêm trọng nơi lỗi phạm ngoại tình, không chỉ là hành động đơn thuần dục tính. Nhưng, còn là vi phạm công bằng phải có đối với người phối ngẫu, phía bên kia.
Truyện kể hôm nay, còn một yếu tố quan trọng tuy không bộc phát ngay bên ngoài, nhưng cũng bao hàm ý tưởng, cho rằng: người nữ phụ là tội phạm chưa xác chứng, nhưng vẫn bị lôi ra trước pháp đường, như quân cờ thí trong trò chơi giăng bẫy. Của, phái bè Luật sĩ, với Pharisêu. Phái bè, nay những muốn đưa Đức Yêsu vào tròng, hầu có cớ đả kích: “Theo luật Môsê, chúng tôi phải ném đá người này. Còn Thầy, Thầy nghĩ sao?” Lâu nay, phái bè Luật sĩ - Pharisêu vẫn lên án Đức Kitô ăn chung ngồi chạ với đám người tội lỗi. Nếu bị coi là phạm luật Môsê, Ngài ắt không phải Đấng Thiên Sai, cũng chẳng là Đức Chúa, như môn đồ quả quyết.        
            Phản chống trò chơi giăng bẫy, Đức Giêsu không trả lời. Vẫn “lặng im bên sóng đời trôi nổi”, Ngài chỉ dùng tay viết xuống. Viết xuống cát, không là tuồng chữ của người phàm, Ngài mặc nhiên từ chối trò chơi giăng bẫy, họ giăng mắc. Một trong các thách đố Ngài đưa ra trong vụ xử, là: ai tự cho mình là người trong sạch luôn giữ luật Môsê, hãy thi hành án lệnh ấy trước. Chính đây là bài học Ngài dẫn dụ: chỉ những người trong sạch mới có quyền lên án kẻ khác. Nói tóm lại, Ngài dư biết “sóng đời trôi nổi”, có “những lọc lừa giả dối”. Hợm hĩnh. Xa hoa và quáng mù”,  như hồi nào.  
            Cuối cùng, những người-tưởng-rằng-mình-trong-sạch đều bỏ đi, còn lại mỗi mình Đấng Công Minh đang quyết phán với người nữ, đại diện cho tội phạm: “Tôi cũng vậy, Tôi không lên án chị.” Đã không lên án người có tội, Ngài còn ra đề nghị: “Hãy về đi, và từ nay đừng lỗi phạm.” Qua vụ xử, những người-cho-đi-là-có-tội ở trình thuật hôm nay, cho thấy: ý đồ của phái bè Luật sĩ – Pha-ri-sêu, là muốn nhân cơ hội để chối bỏ Thiên tính của Đức Chúa. Đối với họ, đây là dịp thuận lợi để đưa Đức Chúa vào tròng. Đầy cạm bẫy. Rồi từ đó, có đủ chứng cớ đưa Ngài tới đoạn đầu đài, vào phút chót. Đối ứng với thái độ chống lại lòng yêu thương của họ, Đức Giêsu ra đề nghị: hãy về với cội nguồn. Và, tạo cơ hội sám hối. Hoàn tục. Và, chuyển đổi cách sống cho phù hợp với tình yêu thương trìu mến. Thay vì lên án người lầm lỡ, Đức Chúa đã cứu vớt. Phục hồi. Và, đem đến cho họ cuộc sống mới mẻ. Sống vui tươi. Sống lành mạnh. Sống đầy tình người.
            Ghi lại câu truyện về người nữ phụ phạm lỗi hôm nay, thánh Gioan đưa ra một chứng cứ xác thực, quyết rằng: dù ở tình huống lỗi phạm, ta vẫn còn con đường giải thoát. Trước mặt. Con đường ấy, không mang sắc mầu tiêu cực, hoặc hủy hoại. Nhưng rất tích cực. Tích cực, trong chữa lành. Tích cực, qua tha thứ.
Con đường ấy. Cơ hội ấy, chính Đức Kitô đã mở ra cho người nữ phụ, vốn cũng phạm lỗi như bao người khác. Con đường ấy, luôn rộng mở với mọi người. Để, tất cả nhận ra: chúng ta vẫn vượt qua “sóng đời trôi nổi”. Vẫn ở trên, và ở xa tình huống “bon chen”. Lọc lừa. Giả dối. Không lý gì, đến “xa hoa”. Hợm hĩnh. Hoặc, “quáng mù”, nữa. Nhưng, vẫn hy vọng tiến lên. Tiến, về phía trước. Về, với con đường của cuộc sống. Cuộc sống, có niềm vui hãnh tiến. Và, an bình đích thực.
            Tham dự tiệc thánh hôm nay, ta cầu và mong Đức Chúa giúp ta hồi hướng trở về, dù đã lỗi phạm nhiều lần. Hồi hướng, để thay đổi cách ta nhìn về cuộc sống. Nhìn con người, bằng ánh mắt thương yêu. Tha thứ. Tha thứ, có vỗ về. Đùm bọc. Dù, đã hơn một lần gục ngã trong bùn đen vi phạm. Hoặc, lầm lỡ. Sa đọa.
            Cầu và mong sao cho ta không còn chú ý đến quá khứ, của chính mình. Của người khác. Không chú tâm đến những lầm lỡ họ mắc phải. Để rồi, sẽ quên đi. Quên, như Đấng Công Minh Nhân Hiền đã quên hết các lỗi phạm, của mọi người. Quên đi, chỉ chú trọng đến cuộc sống hiện tại. Một hiện tại rất thực, mời gọi mọi người về với sống lành. Sống mạnh. Sống yêu thương, và tha thứ. Yêu thương, như người kiến tạo hạnh phúc. Cho nhau. Tha thứ, cả cho người phạm lỗi, đối với mình, nữa.        
Richard Leonard sj

Wednesday, 13 March 2013

Lm Vũ Khởi Phụng CSsR: Đường Hội thánh đi: người bắc cầu, người phá cầu



ĐƯỜNG HỘI THÁNH ĐI:
NGƯỜI BẮC CẦU, NGƯỜI PHÁ CẦU

Tám năm về trước, chuông các Nhà Thờ Roma đã ngân vang chúc mừng Tân Giáo Hoàng Benedicto XVI. Từ ngày đó, nhà thần học suốt bao nhiêu năm chỉ được biết trong các giới chuyên môn, phải đứng ra làm nhiệm vụ bắc cầu đến với thế giới rộng lớn. Hôm vừa rồi, chuông các Nhà Thờ Roma lại đồng ngân vang để tiễn đưa Ngài. Không phải là tiếng chuông trầm buồn, tưởng niệm như đối với các vị tiền nhiệm quá cố. Vẫn cứ là tiếng chuông vui của Lòng Tin, trong lúc chiếc trực thăng lượn vòng trên bầu trời Roma, để vào những giờ phút cuối trong sứ vụ Giám Mục Thành Đô, Ngài nhìn lại một lần Giáo Phận của mình. Những phản ứng cuồng nhiệt của các tín hữu từ hôm Ngài tuyên bố từ nhiệm, hơn 150.000 người tập họp tung hô khi lần cuối cùng Ngài có cuộc gặp gỡ thường lệ hàng tuần với cộng đồng Dân Chúa, nét mặt chìm sâu trong cầu nguyện của các nam nữ Tu Sĩ và tín hữu, giọt nước mắt trên mặt các vị Hồng Y già như ta thấy trên các phương tiện truyền thông, cũng như vô vàn vô số các buổi cầu nguyện trong khắp Hội Thánh, đó là lúc những cây cầu vô hình Ngài đã bắc trong tám năm hiện hình.
I
Chính vì vậy, đứng trước đám đông nồng nhiệt, ở quảng trường Thánh Phêrô, Ngài đã nói: “Tôi thật cảm động vì tôi thấy Hội Thánh đang sống dạt dào”. Như thế, không có nghĩa là công việc bắc cầu của Ngài lúc nào cũng xuôi thuận. Trái lại, trong tám năm Ngài ở trên ngôi Giáo Tông, mỗi khi Ngài muốn bắc một nhịp cầu thì hầu như bao giờ cũng có ngay một phản lực nào đó rất mạnh xuất hiện. Ngài muốn tạo dựng sự hiệp thông hòa giải với nhóm siêu bảo thủ ly khai Tòa Thánh theo Giám Mục Lefebvre chăng ? Vừa có mấy Giám Mục tấn phong trái phép trở về quy thuận Tòa Thánh, thì một ông trong số đó lên tiếng phủ nhận các tội ác diệt chủng của nước Đức – Hitler hồi thế chiến thứ hai, trắng trợn phủ nhận cả lịch sử bi đát một thời của thế kỷ XX. Thế là một sự việc tự bản chất chỉ thuộc lĩnh vực Phụng Vụ và quyền bính thuần túy tôn giáo, bị dư luận Tây Phương và Israel ồn ào đổ vấy cho các tội gian dối phản bội Chân Lý.
Ngài lại muốn đi đến với thế giới Hồi Giáo với tâm tình hòa bình, thì chỉ cần một câu nói trong một bài diễn thuyết có tính cách tư tưởng hàn lâm, trích dẫn một ý tưởng của một ông hoàng đế Byzantio thế kỷ 14, chứ không phải ý tưởng và mục đích của Ngài, thế là cả thế giới Hồi Giáo ầm ầm nổi giận, giết thừa sai và tín hữu. Xem ra thế giới nghiên cứu, học thuật, lý thuyết, biện chứng của các nhà học giả thật khác xa với những hỷ nộ ái ố của thế giới đam mê. Đến nỗi một con người như Đức Hồng Y Lustiger của Paris phải nhận định rằng: “Chúng ta đang đối mặt với một hiện tượng do giới truyền thông khua khoắng đến độ phi lý… Nếu thủ thuật là khuấy động hận thù của đám đông với những lời nói mà họ không hiểu, thì không còn hội đủ những điều kiện để đối thoại với Hồi Giáo”. Phải mấy tuần lễ sự sách động mới bắt đầu nguôi ngoai. Thật đáng tiếc trong thế giới hiện tại đầy những chia rẽ hận thù, một sự cảm thông sâu sắc giữa Kitô Giáo và Hồi Giáo có thể làm thay đổi bộ mặt thế giới, nhưng có một sự cản phá nào đó khiến cho nỗ lực hòa bình bị đảo ngược.
Đối với tệ nạn Giáo Sĩ lạm dụng tình dục trẻ vị thành niên cũng thế. Ngay từ trước khi lên ngôi, Đức Benedicto XVI là người đầu tiên ở Tòa Thánh nhận thức rõ là không thể bao che thủ phạm. Lên ngôi rồi, Ngài thẳng tay áp dụng chính sách không khoan dung, Tolerance Zéro ! Thế nhưng chuyện gì xảy ra ? Người ta đào xới được một chuyện cũ trong Giáo Phận của Ngài ngày xưa, dù Ngài không phải là người thụ lý, rồi kêu ầm ỹ là Ngài bao che ! Có cả những anh ở nơi xa tít tắp đòi kiện Ngài ra tòa. Bao nhiêu sự bao che mới cũ đổ lên đầu Ngài, làm như thể Ngài là thủ phạm không bằng ! Khó lòng mà phân biệt rõ được trong những sự ầm ỹ đó đâu là nỗi đau thật, uất ức thật của các nạn nhân, và đâu là ác ý của những ai đó được dịp tốt thì nhảy vào đánh hôi ! Dù Ngài đã tỏ thái độ dứt khoát, đã đích thân gặp gỡ các nạn nhân, nói lời xin lỗi, bày tỏ sự hổ thẹn, người ta vẫn cứ nặng lời tố cáo Tòa Thánh bao che. Thôi thì như Việt Nam ta nói: con dại cái mang… Một lần nữa, người vô tội nhất trong vụ này lại làm con chiên gánh tội trần gian.
Thế rồi, đến chuyện tiền bạc, tài chính của Giáo Hội. Giáo hội tất nhiên là có tiền ( mặc dù có nhiều năm bội chi ). Tiền đó là của thập phương bá tánh tự nguyện đóng góp và Tòa Thánh phải quản lý, đầu tư… để dùng chủ yếu vào việc tông đồ bác ái. Dần dần tình hình tài chính quốc tế phát triển thì sự quản lý càng lắm ngõ ngách phức tạp, càng có nguy cơ tiền bạc bị lạm dụng sai mục đích, trở nên cám dỗ cho ai đó… Đức Thánh Cha Benedicto XVI lại cũng là người dứt khoát đòi hỏi tài chính Vatican phải tuân thủ mọi tiêu chuẩn quốc tế về sự công khai, trong sáng. Lại một lần nữa cái gì xảy ra ? Cái xảy ra nằm ngay trong nội bộ Giáo Triều, trong những người làm việc ở Tòa Thánh. Có những quyền lợi nào đó bị đe dọa, có những mâu thuẫn do đó nảy sinh, có những đấu tranh ngấm ngầm. Rất nhiều khó khăn rắc rối, người ngoài cuộc chẳng ai nắm rõ thực chất và chi tiết thế nào. Chỉ biết rằng vết tích lộ ra trong những vụ tài liệu mật của Đức Giáo Hoàng bị rò rỉ. Những thư đệ trình cho một mình Ngài bị lấy cắp và phơi bày trên mặt báo. Rồi những thay đổi nhân sự gay gắt ở Ngân Hàng Vatican ! Thế là những cố gắng của Đức Giáo Hoàng để đưa hoạt động kinh tài của Tòa Thánh vào nề nếp chuẩn mực bị lãng quên, người ta chỉ thích ồn ào về những giao dịch gọi là đen tối hắc ám nào đó mà chẳng ai nắm rõ đầu dây mối nhợ.
II
Xin được suy nghĩ đặc biệt về một vụ phá hoại nữa đối với Đức Benedicto XVI: vụ Trung Quốc.
Năm 2007, Đức Benedicto viết bức thư về Giáo Hội tại Trung Quốc. Mục đích là để giải quyết một tình trạng ngang trái đã kéo dài hơn nửa thế kỷ. Từ 1949, Mao Trạch Đông đã làm bá chủ toàn cõi Trung Quốc. Với kiểu làm cách mạng cực đoan của Mao, đáng lẽ tiêu hủy hoàn toàn Giáo Hội tại Trung Quốc mới phải. Nhưng đó là điều không thể. Nên một mặt Mao cho lập ra Giáo Hội Tự Trị, không nhận quyền Tòa Thánh, mặt khác đàn áp tàn bạo những ai không chấp nhận Giáo Hội Tự Trị. Từ đó Giáo Hội ở Trung Quốc chia đôi. Những người Công Giáo toàn vẹn bắt đầu một kiếp sống “hầm trú”. Những ai chấp nhận Giáo Hội Tự Trị thì có một chỗ đứng công khai vừa đủ để thoi thóp.
Phải công nhận một điều: trong số những người lãnh đạo Giáo Hội Tự Trị, không phải chỉ toàn những người tình nguyện làm tay sai. Có những người đứng trước áp lực quá sức to lớn của cả lục địa Trung Hoa trên cộng đồng Công Giáo quá thiểu số, đã nghĩ là đành phải chấp nhận tình trạng ấy để Giáo Hội khỏi bị tiêu diệt. Nhiều người khác thì tham sống sợ chết nên đành theo Giáo Hội Tự Trị, nhưng trong lòng vẫn ý thức sự sai trái của mình, khắc khoải muốn trở về hiệp nhất nhưng không dám. Chính trong bối cảnh ấy mà đã có một vài Giám Mục đành lòng đứng ra phong chức cho các Giám Mục mới của Giáo Hội Nhà Nước. Nhu cầu tâm linh đã chứng minh sức sống của mình khi mà cả cuộc Cách Mạng Văn Hóa khủng khiếp ( 1966 – 1976 ) chẳng những đã không quét sạch được tôn giáo theo ý muốn điên khùng của Mao mà còn làm cho nhu cầu tôn giáo tăng lên. Cách Mạng Văn Hóa vừa tàn phai, các tôn giáo liền có đất nảy nở.
Tình hình có hai Giáo Hội Công Giáo song song: Giáo Hội quốc doanh và Giáo Hội “hầm trú”, vào lúc Trung Quốc không còn là một chốn kín bưng với thế giới bên ngoài, càng ngày càng lộ rõ tính cách bất bình thường. Những ai có dịp tiếp xúc với các tín hữu Trung Quốc đều nhận thấy rất nhiều Giáo Sĩ, Tu Sĩ của Giáo Hội Tự Trị vẫn mong chờ được trở về hợp nhất, còn đông đảo Giáo Dân của họ thì chỉ chân thành tìm một chốn để cầu nguyện và sống Lòng Tin vào Chúa mà thôi. Đồng thời Cách Mạng Văn Hóa đã tạo nên trong lòng nhiều người trước đó vô tôn giáo một cơn khao khát tâm linh làm xuất hiện những tông đồ mới. Có những doanh nhân Trung Quốc tự nguyện tổ chức rao giảng Tin Mừng và phượng tự cho các công nhân của mình…
Tòa Thánh, từ thời Đức Gioan XXIII, đã có nhiều động thái kêu gọi nhóm ly khai trở về. Bức Tông Thư công bố vào thời điểm 2007 bày tỏ sự quý trọng của Hội Thánh với Trung Quốc, và kêu gọi Dân Chúa thống nhất trong Đức Tin và Đức Mến. Kết quả bước đầu thấy rõ, mặc dù chính quyền Trung Quốc phản đối, một số Giám Mục “quốc doanh” đã quy thuận Tòa Thánh. Nhiều Linh Mục, mặc dù được Giáo Hội quốc doanh đề nghị lên chức Giám Mục, chỉ nhận lời thụ phong sau khi được Đức Giáo Hoàng cho phép. Nếu tình hình này tiếp diễn, có thể nói trong khoảng từ 10 đến 15 năm sẽ không còn tình trạng hai Giáo Hội tương phản, một Giáo Hội Trung Quốc thống nhất sẽ hồi sinh và hoàn toàn hòa nhập với Hội Thánh Hoàn Vũ. Đó sẽ là một biến cố rất lớn cho Giáo Hội toàn vùng Á Đông, và có thể tạo ra một tình hình mới cho Giáo Hội Toàn Cầu.
Một dự phóng lớn đến như vậy tất yếu sẽ có người cản phá. Và những người quyền thế chủ trương phá vỡ sự hiệp thông của Công Giáo Trung Quốc với Tòa Thánh Phêrô đã tung ra những đòn ác liệt. Họ liên tiếp tấn phong những Giám Mục mới không cần Tòa Thánh cho phép, họ cưỡng bức nhiều Giám Mục mới về quy thuận Tòa Thánh phải tham gia vào hiệp thông trong lễ phong chức các Giám Mục ly khai; họ giam cầm, sách nhiễu tàn bạo những người khẳng khái nói lên lòng trung thành với Đức Thánh Cha là trung tâm hiệp nhất. Tóm lại, càng xuất hiện những khả năng đưa đến hiệp nhất thì càng phải tạo thêm nhiều nguyên cớ để chia rẽ. Đường đến hiệp nhất bây giờ không ngắn nữa mà đã trải dài không biết đến tận đâu. Nhưng một điều chắc chắn là dù ngắn hay dài thì đối với người Công Giáo chỉ có một đường, một hướng để đi đến hiệp nhất. Đó là đường Đức Benedicto XVI đã chỉ ra. Những sự chống đối cản phá là cho con đường thêm phần lên thác xuống ghềnh, thêm phần hiểm nghèo chông gai, nhưng không thể thay đổi được hướng đi tất yếu.
Nếu ta nhìn xa một chút vào lịch sử Giáo Hội, thì thấy những gì Đức Benedicto XVI làm cho Trung Quốc không phải là không có tiền lệ. Đầu thế kỷ thứ XIX Đức Giáo Hoàng Piô VII cũng làm một điều tương tự đối với Giáo Hội Pháp. Cuộc Cách Mạng Pháp 1789 đã phá tan tành một Giáo Hội Công Giáo hàng đầu. Từ đó cũng có một Giáo Hội nhà nước và một Giáo Hội hầm trú. Đến khi xã hội Pháp đã đi tới tận cùng của sự bát nháo phải trả giá bằng rất nhiều máu và nước mắt, và người ta thèm muốn tìm kiếm sự ổn định vật chất và tinh thần với người hùng Napoléon Bonaparte, Đức Giáo Hoàng Pio VII với sự phụ tá tuyệt vời của Đức Hồng Y Consalvi đã táo bạo nhúng tay giải quyết các vấn đề tồn tại phức tạp ở Pháp. Kết quả là một Giáo Hội lớn đã phục hưng. Mặc dù đó là một quá trình dài đầy gian nan khổ ải, Đức Pio VII và các Hồng Y Roma có lúc bị Hoàng Đế Napoléon giam giữ, bắt đi lưu vong ở Pháp mất gần chục năm, nhưng cuối cùng đã thành công rực rỡ.
Cũng lại ở Pháp cuối thế kỷ XIX có một tiền lệ về việc người ta cản phá Giáo Hội, góp phần làm thất bại đường lối sáng suốt của Tòa Thánh. Từ năm 1878, chính quyền của Cộng Hòa Pháp đã rơi vào tay của những người muốn bài trừ Hội Thánh. Đa số trong Giáo Phẩm và Giáo Dân Pháp lại chủ trương Bảo Hoàng, để chống lại phe Cộng Hòa kia. Đức Giáo Hoàng Leo XIII đã thấy rõ nền quân chủ ở Pháp đã thuộc về quá khứ, không thể phục hưng được. Do đó Đức Thánh Cha yêu cầu Công Giáo Pháp đừng bám lấy ngôi vua một cách vô vọng, nhưng hãy chấp nhận những quy luật của chế độ Cộng Hòa Đại Nghị, tranh đấu một cách dân chủ để bảo vệ Giáo Hội. Phe chống đạo thấy ngay nếu Công Giáo Pháp đi theo khuyến dụ của Đức Giáo Hoàng Leo XIII thì họ có khả năng giành được đa số trên nghị trường. Để ngăn ngừa sự thể đó, phe chống Công Giáo càng gia tăng những biện pháp gay gắt chống phá Giáo Hội, để tạo ra sự chống đối quyết liệt giữa Công Giáo và chính thể Cộng Hòa. Những biện pháp đàn áp Công Giáo một cách khốc liệt được ban hành. Đức Giáo Hoàng Leo XIII đã qua đời mà không nhìn thấy ước mơ của Ngài về một Giáo Hội Pháp hòa nhập được với kỷ nguyên dân chủ. Phải hơn nửa thế kỷ và hai cuộc thế chiến đẫm máu Công Giáo Pháp mới đạt được tư thế như Đức Leo XIII mong ước.
Xem ra Đức Benedicto XVI, cũng như Đức Leo XIII, sẽ không được thấy ước mơ của Ngài về Giáo Hội Trung Quốc trở thành hiện thực trong thời gian Ngài tại thế. Tôi có dài dòng hơn về vấn đề Trung Quốc, vì đó là vấn đề sát sườn với Việt Nam và Đông Á nói chung. Lẽ ra đây là một vùng với những truyền thống tâm linh và văn hóa thâm hậu, có thể góp phần quý giá cho Hội Thánh trước những vấn đề khó khăn của thời đại. Tiếc thay, hoàn cảnh trong ngoài về chính trị, xã hội, tâm lý chưa cho phép được sự phát triển đó. Cũng như trong các vấn đề khác đã nêu trên kia, trong vấn đề Giáo Hội tại Trung Quốc, Đức Benedicto XVI đã muốn bắc một cây cầu lớn, và đã có những người ra sức phá cầu.
Sau khi Đức Thánh Cha thoái vị, Đức Hồng Y Trần Nhật Quân ( Ảnh chụp bên phải ), nguyên Giám Mục Hồng Kong, đã nhận xét: “Đức Benedicto XVI là một vị Đại Giáo Hoàng, một người yêu chân lý. Thiên Chúa là chân lý và con người không thể sống mà không có chân lý. Bất hạnh thay, ngày nay chân lý không phải là cái “hợp thời trang”; cái đang thực sự chế ngự ngày nay, là cái mà Đức Benedicto XVI đã gọi là “nền chuyên chính của chủ nghĩa tương đối…” Ngài đã luôn vững tay lái hướng Giáo Hội theo chân lý… Đó là phần đóng góp của Ngài cho văn hóa thế giới và cũng cho Trung Quốc nữa” và ở đây, Đức Hồng Y nhắc đến bức thư Ngài gửi Giáo Hội Trung Quốc năm 2007.
Tóm lại, từ chuyện nội bộ Giáo Hội cho đến tín hiệu gửi bên ngoài, trong tám năm ở ngôi, Đức Benedicto XVI kiên trì bắc những cây cầu tìm đến những bến bờ trong sáng, hiệp thông, hòa bình. Và thế gian cũng kiên trì không kém, bằng đủ kiểu đủ cách, mỗi lần lại ra sức phá cây cầu. Không biết trong lòng Ngài cảm thấy thế nào, chỉ biết cụ già ấy vẫn một giọng nói ôn tồn, nhỏ nhẹ đều đều, cứ nhất mực bình tĩnh đi về hướng mơ ước. Hình như trong sứ mệnh của Ngài có cả nhiệm vụ minh họa một dụ ngôn của Chúa Giêsu: “Ta phải ví thế hệ này với ai ? Họ như lũ trẻ ngồi ngoài chợ gọi nhau nói rằng: tụi này thổi sáo sao đằng ấy không nhẩy múa; tụi này hát bài đưa đám, sao đằng ấy không khóc than ?” ( Lc 7, 31 – 32 ).
Đức Benedicto XVI là người gieo mầm cho ai khác gặt.
Nguyên nhân sâu xa của sự trạng ấy là vì Ngài sống trong cõi thanh sáng của Thiên Chúa là tình yêu và niềm vui của Đức Tin, còn thế gian thì còn mải mê những chuyện ăn thua đủ về tình, tiền, quyền lực. Cùng nói những âm thanh giống nhau, mà thực ra ngôn ngữ và ý nghĩa lại khác nhau. Nhưng Ngài không nản lòng, vì Ngài thấy rõ sớm hay muộn rồi người ta cũng phải tìm đến và đối diện với sứ điệp của Ngài. “Nước Thiên Chúa giống như chuyện một người gieo hạt giống vào lòng đất. Đêm ngày, người ấy ngủ hay thức, hạt giống vẫn nẩy mầm và mọc lên, bằng cách nào người ấy không biết. Đất tự động sinh ra hoa mầu, cây lúa mọc lên, rồi trổ đòng đòng, và sau cùng thành bông lúa nặng trĩu hạt vàng” ( Mc 4, 28 – 28 ).
VŨ KHỞI PHỤNG, 3.2013
Kỳ sau: Khi người bắc cầu sang bờ bên kia