Tuesday, 17 May 2016

Gs Geza Vermes: Khuôn Trăng DIện Mạo Ngài Thay Đổi: Đạo Chúa ở Giáo hội thời đầu (Bài 39)



Chương 5
Đức Giêsu
của sách Công-vụ Tông-đồ
(bài 39)



Đạo Chúa
ở Giáo hội thời đầu


Cách hay nhất, để giúp ta hiểu rõ bản-chất Giáo-hội thời đầu và cả những nơi có Đức Giêsu ngự-trị, là: định-vị xem làm cách nào người ngoài cuộc lại có khả-năng tự nối-kết với đội-ngũ môn-đệ của Ngài ngay từ đầu, được. Môn-đệ Ngài, ai cũng theo Đạo Do-thái, vẫn tự coi mình là tín-hữu Do-thái-giáo, vẫn hành-xử như người trong Đạo và đặt trọn tâm-can nối-kết với Đạo mà bất cứ người Do-thái-giáo nào cũng tuyên-xưng niềm tin của mình, ở trong đó. Vấn-đề này, xưa nay từng gây phân-rẽ cộng-đoàn, tạo khó-khăn cho người ngoài cuộc nào muốn gia-nhập hàng-ngũ tín-hữu Đạo Chúa, dù việc ấy không là rào cản đầu, ở mọi thời.  

Thật ra ngay từ đầu, ông Phêrô đã muốn đưa viên đội-trưởng đội binh La Mã và gia-đình ông ta vào nhóm người người đi Đạo quyết dấn thân theo chân Đức Giêsu là có ý-đồ rõ-rệt. Bởi, sự-kiện này gây nhiều khúc-mắc về sử-học, khó có thể đưa ra quyết-định nào cho phép ta nghĩ rằng: người ngoài Đạo từng dự-phần vào với Giáo-hội. Các ngài làm thế, cho đến khi ông Phaolô lập sứ-vụ thừa-sai cho người ngoại Đạo ở Syria và Tiểu Á, hầu tránh né mọi khó khăn có thể có.

Đạo Chúa lúc đầu chỉ là phong-trào phục-hồi sinh-lực Do-thái-giáo, thôi. Sách Công-vụ đoạn 6 câu 1 đã ghi lại điều này bằng một xác-quyết, như sau:

“Thời đó, khi số môn-đệ thêm đông, các tín-hữu Do-thái-giáo theo văn-hoá Hy-lạp kêu trách các tín-hữu Do-thái-giáo bản-xứ, vì trong việc phân-phát lương-thực hằng ngày, các bà goá trong nhóm bị bỏ quên.”

Xem thế thì, người Do-thái-giáo nói tiếng Aram hoặc Hy-Lạp và người Do-thái-giáo Samari sống ở Palestine đều làm thế. Ngay như cộng-đồng Do-thái-giáo hải-ngoại sống ở Phênixia hoặc đảo Sýp cũng làm thế. Và Tin Mừng, chỉ truyền-đạt cách hạn-chế đến người Do-thái-giáo thôi, như sách Công-vụ đoạn 11 câu 19-20 từng xác-định cả vào lúc trước khi có sứ-vụ Antiôkia và trước lúc ông Phaolô xuất đầu lộ-diện, như đã viết:

“Vậy những người phải tản mác vì cuộc bách-hại xảy ra nhân vụ ông Têphanô, đi đến tận miền Phênixi, đảo Sýp và thành Antiôkia. Họ không rao-giảng lời Chúa cho ai ngoài người Do-thái-giáo. Nhưng trong nhóm, có mấy người gốc Sýp và Kyrênê; những người này, khi đến Antiôkia, đã giảng cho cả người Hy-lạp nữa, loan Tin Mừng của Đức Giêsu cho họ.” 

Người Do-thái-giáo sống ở Giêrusalem từng nghe các tông-đồ kêu gọi: hãy tự cứu khỏi “thế-hệ tà-vạy” và được dạy, là: hãy cởi bỏ tính yếu-hèn của mình, để khiến mình trở nên thanh-sạch như sách Công-vụ đoạn 2 câu 40 còn nói tiếp:

“Ông Phêrô còn dùng nhiều lời khác để long-trọng làm chứng và khuyên-nhủ họ. Ông nói: "Anh em hãy tránh xa thế-hệ gian-tà này để được cứu-độ."

Nói khác đi, tín-hữu thời đầu bị thôi-thúc thực-hiện cuộc “đổi đời” một cách thiêng-liêng như ông Gioan Tẩy Giả từng đề-bạt. Nhưng, trong đó vẫn thấy có điều khác-biệt, là: tất cả mọi tín-hữu đều phải sám-hối chấp-nhận chịu thanh-tẩy để được ơn tha-thứ mọi lỗi/tội vì danh Đức Giêsu, như sách Công-vụ đoạn 2 câu 38 lại cũng ghi:

“Ông Phêrô đáp: "Anh em hãy sám-hối, và mỗi người hãy chịu phép rửa nhân-danh Đức Giêsu Kitô, để được ơn tha tội; và anh em sẽ nhận ân-huệ là Thánh-Thần Chúa.”

Lời phát-biểu của ông Phêrô vào Lễ Ngũ Tuần, xem ra chứa-đựng một chuẩn-mực để khích-lệ tín-hữu thời đầu tin vào Đức Giêsu. Điều này, trước nhất, chú-trọng vào niềm tin và sự tuân-phục. Kế đến, vào sự-kiện thanh-tẩy như ta thấy, là luật thôi-thúc ngay tức thì hoặc mãi về sau. Tuy nhiên, ngay khi ấy, đã thấy dấu-hiệu kích-ngất ở trong đó; hoặc, nói theo ngôn-từ của đấng bậc, thì: thành-viên Giáo-hội, đều nhận-lãnh ơn lành của Thần-khí, như sách Công-vụ còn đề-cập:

Ở đoạn 8 câu 5-6 rày vẫn bảo:

“Ông Philípphê xuống một thành miền Samari và rao-giảng Đức Kitô cho dân-cư ở đó. Đám đông một lòng chú ý đến những điều ông Philípphê giảng, bởi được nghe đồn và được chứng-kiến những dấu lạ ông làm.” 

Và cũng ở đoạn này, câu 14-17 lại cũng nói:

“Các Tông Đồ ở Giêrusalem nghe biết dân miền Samari đã đón-nhận lời Thiên Chúa, thì cử ông Phêrô và ông Gioan đến với họ. Khi đến nơi, hai ông cầu-nguyện cho họ, để họ nhận được Thánh-Thần. Vì Thánh Thần chưa ngự xuống một ai trong nhóm họ: họ mới chỉ chịu phép rửa nhân-danh Đức Giêsu. Bấy giờ hai ông đặt tay trên họ, và họ nhận được Thánh-Thần.”  

Có thể nói: với người Do-thái-giáo và Samari, thì: chỉ cần đón-nhận Lời rao-báo Tin Mừng, dù ngắn ngủi, cũng đủ để được thanh-tẩy ngay tức thời. Trường-hợp ông Phaolô chẳng hạn, sau khi diện-kiến “Đấng Công-Chính” và tuyên-xưng niềm tin của mình vào Đức Giêsu, ông được ông Anania ở Đamát khuyên-nhủ, như sách Công-vu đoạn 22 câu 16 lại đã ghi:

“Vậy bây giờ anh còn chần-chừ gì nữa? Anh hãy đứng lên, chịu phép rửa và thanh-tẩy mình cho sạch tội lỗi, miệng kêu-cầu danh Ngài.”

Việc tiếp-nhận thanh-tẩy ngay tại chỗ, là hành-xử trực-tiếp gia-nhập vào Giáo-hội như trường-hợp tân-tòng nọ ở Êthiôpia được rút ngắn ngày giờ chờ đợi bằng lời nhủ-khuyên đã được ghi ở sách Công-vụ đoạn 8 câu 36-38, như sau:

“Dọc đường, các ông tới một chỗ có nước, viên thái-giám mới nói: "Sẵn nước đây, có gì ngăn-trở tôi chịu phép rửa không?" Ông Philípphê đáp: "Nếu ngài tin hết lòng, thì được." Viên thái-giám thưa: "Tôi tin Đức Giêsu Kitô là Con Thiên Chúa." Ông truyền dừng xe lại. Ông Philípphê và viên thái-giám, cả hai cùng xuống chỗ có nước, và ông Philípphê làm phép rửa cho vị quan ấy.” 

Tiếp-nhận kẻ tin gia-nhập Giáo-hội một cách chóng-vánh, được hiểu rằng: đây không là hành-xử “đổi Đạo” hoặc xa rời niềm tin mình có để mặc lấy tin-tưởng nào khác thường xảy đến với Do-thái-giáo cũng như những người được tin là đã đi đúng hướng chỉ-định.

Vấn-đề thực-sự nổi lên, khi có người khi trước không theo Do-thái-giáo đã khởi-sự gõ cửa nhà thờ, để được thế. Không kể vị tân-tòng đầu tiên ở Êthiôpia là người vốn dĩ quen thuộc thủ-tục của Do-thái-giáo –bởi, vị này từng đi Giêrusalem cầu-nguyện và đọc sách Ysaya – và, đây là trường-hợp hi-hữu đầu tiên khi một người không theo Do-thái-giáo vẫn tham-gia nhập Đạo là Conêliô, đội-trưởng binh đội La Mã có chân trong nhóm sắc-tộc người Ý, sống ở Cêsarê.

Câu truyện lập lại, hiểu như động-thái thiên-vị mang tính chính-trị, thôi. Cũng nên nhớ: xung-đột giữa ông Phêrô và ông Phaolô dẫn đến kết-cuộc, là: hai vị đã có lập-trường khác nhau khi đối-xử với những người có gốc-nguồn ngoại Đạo, vốn là thành-viên Đạo Chúa ở thời đầu, như ta đã đề-cập ở trang trước. Đây, là điều thích-thú cho các cổ-động-viên phò ông Phêrô vẫn chỉ muốn áp-đặt những gì mới mẻ cho lãnh-tụ của mình, thôi.

Vấn-đề này, khi xưa không ai biết. Và, giải-pháp được đề ra đã mang tính-chất rất cách-mạng. Không một ai trong Giáo-hội ở Giêrusalem lại sẵn-sàng nhận-đón người ngoại-giáo vào nhóm mình cả. Họ không hề biết Đức Kitô có ra lệnh cho con dân Đạo mình ra đi rao-giảng Phúc Âm cho công-dân thuộc mọi quốc-gia hay không, hoặc có khi lại xảy ra sự việc hoàn-toàn trái-ngược.

Thành thử, ước-vọng của đội-trưởng Conêliô, do lực đẩy siêu-nhiên thôi-thúc, đã nhanh chóng tham-gia Giáo-hội. Và, ông đã gặp ông Phêrô cũng như các đồng-nghiệp của ông này với tư-cách là người Do-thái-giáo khiến ông ở vào tình-thế “tiến-thoái-lưỡng-nan”, khi hỏi rằng: các vị có cho phép người ngoại-giáo được trở-thành thành-viên cộng-đoàn Do-thái-giáo làm ứng-viên buộc phải chấp-nhận Do-thái-giáo đấy chứ? Và, như một biểu-thức quan-trọng đòi thành-viên Giáo-hội phải làm, là: “bẻ bánh” trong bữa ăn chung cùng bàn.

Vậy, làm sao người ngoài Đạo được chấp-nhận làm thành-viên ngồi cùng bàn với họ được? Làm sao tín-hữu Đạo Chúa rất Do-thái-giáo lại được phép bước vào nhà/nguyện-đường để sẻ-san thức ăn, theo tư-cách người ô-uế/lỗ-phạm, tức: những người không tuân-thủ luật Do-thái-giáo?

Tác-giả sách Công-vụ đã đưa ra giải-pháp “nước đôi” khá siêu-nhiên nhưng lạ kỳ. “Nước đôi” đây, trước nhất là tầm-nhìn bó buộc xuất tự trời cao, từng khiến ông Phêrô sửng-sốt khi ông bãi-bỏ luật buộc người Do-thái-giáo phải kiêng ăn đồ cúng/kỵ. Ông phản-đối luật này và nói: “Tôi chưa từng ăn bất cứ thứ gì chung-chạ với những người này bao giờ hết, vì thế mới nghe được tiếng đáp-trả từ trời cao”, như sách Công-vụ đoạn 10 câu 14-15 từng trích-dẫn:

“Ông Phêrô thưa: "Lạy Chúa, không thể được, vì không bao giờ con ăn những gì ô-uế, không thanh-sạch." Lại có tiếng phán bảo ông lần thứ hai: "Những gì Thiên-Chúa tuyên bố là thanh-sạch, thì ngươi chớ gọi là ô-uế."

Trong khi đó, lập-trường của ông Phaolô lại ăn khớp với quan-điểm của thành-viên Đạo Chúa ở Giêrusalem rất Do-thái-giáo từng trải-nghiệm. Vì chuyện này, nên thái-độ của ông Phêrô là người thường hành-xử theo tâm-tánh Do-thái-giáo, nên ông mới do-dự. Ông Phêrô từng tuyên-bố: “Bậc cha ông tiền-bối của chúng ta, đều không chịu nổi” gông cùm Lề-Luật thật rỗng-tuếch khi mọi người chỉ-trích ông là đã trở mặt ở Antiôkia khi ông Phaolô lại công-khai trách-móc ông Phêrô một cách không tiếc lời.

Tuy nhiên, ta vẫn được bảo, là: chứng-cứ rõ-rệt cho phép người ngoại-đạo làm thế, là do từ trời cao khi Thần-khí Chúa “đổ” lên đầu ông Conêliiô cùng gia-đình. Và, những người này cũng đã trỗi dậy bằng sự-kiện “Glossalia”/nói tiếng lạ. Lúc đó hơi lúng túng, nên ông Phêrô bèn kêu ca/trách-móc như sách Công-vụ đoạn 10 câu 47, còn ghi chép:

“Những người này đã nhận được Thánh-Thần như chúng ta, thì ai có thể ngăn-cản ta lấy nước làm phép rửa cho họ?”       

Vào lúc ấy, ông Giacôbê, bào-đệ của Đức Chúa, bèn ra chỉ-thị châm-chước mọi sự trước mặt hội-đồng thành-phố Giêrusalem như giải-pháp chấp-nhận người ngoại-đạo được phép gia-nhập Giáo Hội Chúa mà không buộc phải tuân-thủ luật Môsê, trong đó có tục cắt bì, rất bức-bách. Kình-chống việc sát-nhập hình-thức này để trở nên thành-viên Do-thái-giáo, là lề-lối coi tục cắt bì và giữ luật Torah là hành-xử “chẳng đặng đừng” cả trong “cao-trào Giêsu” như ta thấy ở sách Công-vụ đoạn 15 câu 1. Đoạn này nói về nghĩa-vụ “pháp-lý” đối với người ngoại-giáo theo Đạo Chúa, được giảm-thiểu thành giới-lệnh cổ kiểu ông Nôê tránh không bị nhiễm ô-uế từ ngẫu-tượng như không ăn thịt loài thú bị xiết cổ cho chết hoặc kiêng ăn thực-phẩm nào dính máu, như sách Công-vụ đoạn 15 câu 20, 29 đã từng lập đi lập lại:

“Vì vậy, phần tôi, tôi xét là không được gây phiền-hà cho những người gốc dân ngoại trở lại với Thiên-Chúa, nhưng chỉ viết thư bảo họ kiêng những thức ăn ô-uế vì đã cúng cho ngẫu-tượng, tránh gian-dâm, kiêng ăn thịt loài vật không cắt tiết và kiêng ăn tiết.”

Và, câu 29 lại cũng nói:
                   
“Thánh Thần và chúng tôi đã quyết định không đặt lên vai anh em một gánh nặng nào khác ngoài những điều cần-thiết này: là kiêng ăn đồ đã cúng cho ngẫu-tượng, kiêng ăn tiết, ăn thịt loài vật không cắt tiết, và tránh gian-dâm. Anh em cẩn thận tránh những điều đó là tốt.”

Sau đó ít lâu, các vị đành nhượng-bộ một cách chính-thức. Nhưng, chứng-từ ta có lâu nay cho thấy: phản-ứng từ người Do-thái-giáo chủ-trương cắt bì, vẫn coi ông Phêrô là người xoay chiều/đổi lối, như sách Công-vụ đoạn 11 câu 2-3 còn xác-chứng:

“Các Tông Đồ và các anh em ở miền Giuđêa nghe tin là cả dân ngoại cũng đã đón-nhận lời Thiên-Chúa. Khi ông Phêrô lên Giêrusalem, các người thuộc giới cắt bì chỉ-trích ông, họ nói: "Ông đã vào nhà những kẻ không cắt bì và cùng ăn uống với họ!"

Và, ông Phaolô còn bị coi là kẻ bội-phản, dám khuyên-răn người Do-thái-giáo hải-ngoại hãy phế-bỏ Luật Môsê, khuyến-khích họ chống tục cắt bì cho con em mình, như sách Công-vụ lại cũng nói đến ở đoạn 21 câu 21 sau đây:

“Thế mà họ đã nghe nói về anh rằng: anh dạy tất cả những người Do-thái-giáo sống với dân-ngoại phải bỏ ông Môsê, anh bảo họ đừng làm phép cắt-bì cho con cái, và đừng giữ các tục-lệ nữa.”   

Thành thử, xem ra dọc suốt thời-kỳ Đạo-Chúa rất Do-thái-giáo trải qua những tháng ngày buộc tín-hữu phải tuân-thủ Lề-luật, đã nhen-nhúm một rạn nứt giữa Đạo Chúa ở Palestine và dân-ngoại, lại kết-thúc trong chia cắt/tách-lìa. Và từ đó, có sự suy-giảm chầm chậm nơi hình-thức “cao-trào Giêsu” vốn dĩ trùng-hợp với sự-kiện Đạo Chúa của các vị khi trước là ngoại-giáo nay dần dà tăng-trưởng.

Nói tóm lại, làm sao nắm được tính xác-thực nơi ảnh-hình về năm tháng ngày giờ của Đạo Chúa qua sách Công-vụ Tông Đồ được? Phải thừa-nhận, ảnh-hình ấy chứa đựng rất nhiều khuynh-loát/lắt léo nhằm dung-hoà ý-tưởng của tác-giả với tầm nhìn của Giáo-hội.

Lấy ví-dụ, nỗ-lực dung-hoà/chỉnh-sửa là nhắm vào việc giới-thiệu ông Phêrô như nhà quán-quân hỗ-trợ cho người ngoại Đạo lại tạo nên chân-dung một ông Phaolô là nhà thuyết-giảng giỏi-giang từng thu-hút rất nhiều người ở Palestine. Và ngoài ra, việc đổ lỗi cho toàn-thể đất nước theo Do-thái-giáo là thủ-phạm giết chết Đức Giêsu của chúng ta.

Thế nhưng, giả như ta tách riêng sự/việc xét lại như thế, tức: việc mà bất cứ người đọc tinh-ý và sáng suốt một chút, cũng dễ nhận ra, thế mà sách Công-Vụ lại trưng-diễn các nhận-thức rất thô-thiển về cuộc sống cũng như lối suy-nghĩ và nguyện-vọng của Kitô-hữu thế-hệ đầu đời.

Phác-thảo này, trụ giữa một bên là Đạo Chúa của ông Phaolô và ông Gioan Tin Mừng, còn bên kia là ảnh-hình và hy-vọng cùng mục-đích nhắm vào sứ-điệp của Đức Giêsu Nadarét do Tin Mừng Nhất Lãm chuyển-tải. Nay, ta có thể đi bước trước, tuyên-bố cho mọi người biết rằng: điều này gần với Đức Giêsu hơn việc quảng-bá thần-học riêng-rẽ, lạ kỳ của ông Phaolô và ông Gioan Tin Mừng.

Một yếu-tố khiến ta không thể đặt câu hỏi tiên-quyết, là: chừng như ta rút ra nhiều ý-tưởng từ sách Công-vụ, rồi bảo rằng: các vị đồng-hành với Đức Giêsu. Và nói chung, các vị từng đính-kết vào Đạo Chúa ở Palestine, không tự coi mình như thực-thể đạo-giáo tách rời. Nhất thứ là khi “cao-trào Giêsu” còn ở thời-kỳ phôi-thai/mới chớm ở thời này, các vị vẫn tự coi mình như thành-phần cần-thiết/chính-yếu thuộc xã-hội Do-thái-giáo.

Không chỉ mỗi các vị này là những người thích-nghi/ứng-phó với thói quen thông-thường của Do-thái-giáo, như: luật kiêng ăn đồ cúng-kỵ mà thôi; nhưng, các vị lại cũng hành-đạo và nguyện-cầu/phụng-thờ như người theo Do-thái-giáo vậy. Niềm tin, mà các vị đặt nơi Đức Kitô như Bậc Thày và là Đức Chúa, đơn-giản chỉ là đôi điều thêm-thắt vào Do-thái-giáo, dù họ có làm thế cách triệt-để. Và, sự việc này, lại tô đậm sắc mầu lên Đạo Chúa-Do-thái giáo cũng rất chung của họ thành đặc-trưng/đặc-thù.

Ngoại trừ phản-ứng gay-gắt đến độ dễ gây “ói mửa” áp-đặt vào một Phêrô Do-thái-giáo bằng ý-tưởng ăn uống/ẩm-thực không theo tập-tục Do-thái-giáo hoặc hoà-trộn với các người ngoại Đạo có tính xã-hội, để rồi đặc-trưng/đặc-thù này được biểu-lộ cách rõ-rệt nhất: ở cách hành-xử của thành-viên Đạo Chúa thời đầu, như: việc các ngài tiếp-tục nối-kết với Đền Thờ.

Và, điều này chẳng mảy may gây thắc-mắc/vấn-nạn gì, khi các ngài lưu-ngụ tại Giêrusalem. Đây, là đặc-trưng/đặc-thù khá đáng kể, nhất là sau lần đền thờ/thành-phố bị phá-hủy vào năm 70 sau Công-nguyên. Khi ấy, cung-thánh bị hủy-hoại, nên đã trở-thành biểu-tượng cho Giáo-hội bằng việc chối-bỏ tính thần-thiêng của Đức Giêsu. Và, các tín-hữu Đạo Chúa đã thay thế Giáo-hội bằng ý-niệm “Dân con Đức Chúa”.

Đằng khác, ngoại trừ sự/việc Phó-tế Stêphanô dùng tiếng Hy-Lạp để công-kích lối phụng-thờ theo kiểu cúng/kỵ, tức nhân-tố tạo ý-niệm kình-chống Đền Thờ mà trong đó không thấy có quan-điểm của nhóm/phái tông-đồ.

Nay, giả như Đức Giêsu lịch-sử chọn động-thái triệt-để kình-chống Do-thái-giáo cùng cơ-chế Đạo-giáo, thì việc làm này dựa theo bản-năng tái-tục một thứ Đạo-giáo tiên-tổ do đồ-đệ thân-cận của mình tạo ra, cũng là điều khó hiểu. Giả như, hình-ảnh Giáo hội thời đầu được phác-hoạ ở sách Công-vụ Tông-đồ, lại chứa-đựng một mẩu sự thật, thì người người có thể khẳng-định với lòng tự tin, rằng: điều này không thể dung-nạp ý-niệm bảo rằng: Đức Giêsu là Đấng Sáng lập Đạo-giáo mới và đã chia tay Do-thái-giáo.

Chỉ một điều riêng-tư/mới-mẻ xuất-hiện ở Giáo-hội thời đầu, như sách Công-vụ từng quan-niệm, là tính thiêng-liêng cởi-mở cách ngoại-thường của thành-viên Giáo-hội này. Nhưng, các dấu-hiệu bề ngoài về sự kích-ngất, lại cứ nắm tay nhau đồng-hành với sự hưng-phấn rất tự-nhiên của cao-trào vừa phôi-thai, mới đáng lạ. Uy-lực mà Thần-khí Chúa sở-hữu từ trời cao được Đức Giêsu phổ-biến đã tặng ban cho mọi kẻ tin, được coi như bằng-chứng về sinh-hoạt của Đức Giêsu Phục-sinh vẫn tiếp-tục ở dưới đất. 

Chúng ta đều thấy rằng: đối với Giáo-hội thời đầu, thì:  Đức Giêsu là Đấng Kitô. Thế nhưng, đặc-trưng “Thiên-Sai” của Ngài như sách Công-vụ quan-niệm, chỉ là thứ gì đó khá đặc-biệt, mà thôi. Bởi, Đức Giêsu ở sách Công-vụ, vẫn không có nét đặc-trưng của vị vua cha nào hết, và không thấy sách này nói về chuyện Ngài đóng vai-trò chính-trị ở đoạn nào hết.

Việc nâng-nhấc Đức Giêsu lên hàng siêu-nhân/thần-thánh lại không giống như ở Tin Mừng của tác-giả Gioan, nói về việc Ngài không đi trước mà chỉ theo sau các diễn-tiến ngành nghề của Ngài ở dưới đất. Trong thời sinh-tiền Ngài sống chung đụng và sống với các đồ-đệ của Ngài, Đức Giêsu được phác-hoạ như Tôi Tớ Lành Thánh của Thiên-Chúa và như Phát-Ngôn-Nhân/Ngôn sứ cuối cùng của Chúa, thôi. Với tư-cách Ngôn-sứ tham-gia vào việc thiết-lập Vương Quốc Nước Trời từng được mọi người chờ-đợi ở thế-giới Do-thái-giáo, Đức Giêsu được tuyển-dụng vào với thế-giới ấy, mà thôi.

Chứng-thực của sách Công-vụ có vai-trò chuyên-chở các ấn-tượng, niềm tin và xác-tín của chúng-dân từng được biết và nghe Đức Giêsu giảng-dạy. Các chứng-từ ấy mang ý-nghĩa sống còn trong kiếm tìm hình-ảnh lịch-sử còn ẩn-tàng ở Tân-Ước.

Cũng có thể tóm tắt ở đây đôi điều nói rằng: sách Công-vụ Tông-đồ chẳng chứa-đựng điều gì khả dĩ ta có thể dựa vào đó mà giải-thích/diễn-giảng bảo rằng Đức Giêsu là Bậc Thần-linh, Đức Chúa. Sách này chẳng sớm hình-dung miêu-tả được hình-ảnh của Ngài, ngay cả lời mường-tượng bóng-bảy nơi lời lẽ nói về Đấng Kitô/Con Thiên-Chúa như ông Phaolô từng diễn-tả. Chỉ riêng ông Gioan Tin Mừng là nói đến Lời Hằng Sống  tức Logos rất vĩnh-hằng, mà thôi.

Sự tương-phản giữa tác-giả sách Công-vụ và ông Gioan Tin Mừng là điểm trọn vẹn thấy rõ, và nét trái-nghịch với ông Phaolô lại thiết-thực và là nguyên-nhân chính-yếu tạo khác-biệt để nói rằng: sách Công-vụ Tông-đồ, đặc-biệt là các chương có-trước thời của ông Phaolô, phản-ánh thông-điệp gửi đến những vị theo Do-thái-giáo sống cùng thời với Đức Giêsu trong thời-gian ông Phaolô và ông Gioan rao giảng cho các Kitô-hữu có gốc ngoại-giáo.

Đặc-biệt là ông Phêrô, thay vì coi Đức Giêsu như Thiên-Chúa hoặc Đấng tạm-thời xuất từ trời cao, ông lại đánh-giá Ngài vào lần đề-cập đến lời tuyên-bố đầu tiên với công-chúng về tính Kitô-học ở sách Công-vụ như một Ngôn-sứ Do-thái-giáo, rằng: Đức Giêsu Nadarét, “một người được Thiên-Chúa chứng-thực với quí vị có nhiều việc làm và điều kỳ-diệu cũng như dấu-hiệu đầy quyền-năng” như sách này có nói ở đoạn 2 câu 22 và đoạn 13 câu 38-39, sau đây:

“Vậy thưa anh em, xin biết cho điều này: chính nhờ Đấng ấy mà ơn tha tội được loan báo cho anh em; và trong khi anh em không thể được giải-thoát khỏi tội lỗi mà trở nên công-chính nhờ tuân giữ Luật Môsê, thì nhờ Ngài, mọi kẻ tin đều được nên công chính.”

Cuối cùng thì, công việc còn lại của chúng ta ở đây, là khám-phá xem có phải và nếu quả có thế thì làm cách nào mà ý-niệm này lại phù-hợp với chứng-từ của Tin Mừng Nhất Lãm. Và, làm sao chân-dung Đức Giêsu phác-thảo ở sách Công-vụ Tông-đồ, lại được sử-dụng để định-vị nền thần-học Đạo Chúa, về sau còn được đánh bóng chói lọi nơi bản phác-hoạ tiểu-sử do tác-giả Luca, Mátthêu và Máccô viết về Đức Giêsu sống trong đời các vị ấy.              
                                                                                                                     (Xem tiếp chương 6)
Gs Geza Vermes biên-soạn,
Mai Tá lược dịch

Thursday, 12 May 2016

Lm Vĩnh Sang DCCT : MỜI NGƯỜI LÊN XE…"



"

Bài đọc một ngày thứ hai tuần VI mùa Phục Sinh, trích trong sách Công Vụ Tông Đồ, có một đoạn kể chuyện thế này:

Chúng tôi xuống tàu tại Trôa và đi thẳng đến Samôthra, và hôm sau đến Nêapôli; rồi từ đó đi Philipphê là thành thứ nhất vùng Makêđônia, và là xứ thuộc địa. Chúng tôi lưu lại thành này một ít ngày. Ðến ngày Sabbat, chúng tôi đi ra ngoài cửa thành, đến bờ sông, chỗ người ta thường họp nhau đọc kinh. Chúng tôi ngồi xuống và giảng cho những phụ nữ đang tề tựu ở đó ( Cv 16, 11-15 ).

Chúng ta hiểu đây là đoạn sách mà Luca ghi lại hành trình của Thánh Phaolô mà Luca được hân hạnh tháp tùng, từ ngữ “chúng tôi” trong đoạn này phản ánh cho chúng ta thấy một nhóm, một cộng đoàn, một đoàn sứ vụ truyền giáo đi với nhau, chia sẻ, cầu nguyện, sinh sống… và cùng nhau thi hành sứ mạng loan báo Tin Mừng. Hành trình truyền giáo không bao giờ lẻ loi.

Tin Mừng được loan đi từ một sinh hoạt rất tự nhiên và đời thường, một nhóm phụ nữ đang tụ họp ở bờ sông, nơi có những bóng mát của các tàn cây, những ngọn gió sông mát mẻ dịu dàng, sau những giờ kinh chung họ vui vè trò chuyện với nhau. Các Sứ Đồ tìm đến, gặp gỡ, thăm hỏi, trò chuyện và loan báo Tin Mừng. Bên dòng sông dâng tràn sức sống, Tin Mừng được khởi loan cho một miền đất xa lạ, mênh mông, nhưng đầy hứa hẹn và thách đố. Một lục địa mới mở ra cho hạt giống Đức Tin.

Nghe đoạn Công Vụ Tông Đồ này chợt nhớ đến câu chuyện của các Thừa Sai trẻ Dòng Chúa Cứu Thế, gần 50 năm trước họ là những người trẻ, nay có người trong họ đã qua đời (Cha Vương Đình Tài, Thầy Marcô Đàn), người đã về hưu nghỉ ngơi (Cha Nguyễn Văn Phán, ảnh kèm theo), kẻ ở lại đất Tây Nguyên cũng đã xế chiều (Cha Trần Sĩ Tín). Ngày ấy, những người trẻ đầy sức sống, bỏ phố thị rủ nhau lên Tây Nguyên, Tây Nguyên hoang sơ rừng rậm, Tây Nguyên lạnh lẽ ướt át, Tây Nguyên huyền bí đầy bất trắc, Tây Nguyên lạ lẫm đầy thách thức.

Đức Giám Mục Paul Seitz Địa Phận Kon Tum (ảnh chân dung kèm theo), bỏ tất cả mọi người lên xe, chiếc xe Jeep mui trần vượt đèo vượt suối, dừng lại bên bìa rừng, bên ngoài ngôi làng có tên là Pleikly, tất cả xuống xe, Đức Cha lấy Sách Thánh tuyên đọc một đoạn Kinh Thánh với chủ đề là sai đi, ngài đặt tay cầu nguyện và chúc lành cho mọi người rồi ngài lên xe về lại Pleiku. Bóng chiều của núi rừng nhanh chóng buông xuống, đoàn người lần mò vào làng. Đêm đầu tiên trong bản thượng họ qua đêm trong một căn chòi, sáng ra họ mới biết là nhà nhốt dê ! Hành trình truyền giáo cho người J’rai ở Tây Nguyên bắt đầu bằng việc lo cái ăn, cái mặc, học cái tiếng, tập sống chung, tập làm người bản xứ.

Câu chuyện truyền giáo của Thánh Phaolô như một khúc phim thơ mộng, câu chuyện của các Thừa Sai Dòng Chúa Cứu Thế ở Tây Nguyên không kém phần lãng mạn, nhưng những ngày sau đó là những ngày đối diện thực tế, đối diện khó khăn thử thách và đối diện với quyền lực thế gian luôn tìm cách chống lại Thiên Chúa.

Ngày nay những dòng sông trên quê hương này đã bị bức tử, những vạt rừng huyền bí đã không còn nữa, nhưng những lục địa mới vẫn cứ đang mở ra trước mắt chúng ta và luôn có những dòng sông mới, những cánh rừng mới Chúa mời gọi ta khám phá. Lục địa số, một nền văn hóa truyền thông, một đại lục thông tin.

Hãy khoác áo lãng tử lang thang vào lục địa số nhưng phải có một tâm hồn khao khát truyền dẫn niềm vui, hãy lên xe đi vào tương lai đến những vạt rừng mới, đủng đỉnh quày balô tìm đến nhưng buôn làng mới, nơi đó bao nhiêu người chờ đón chúng ta để được nghe kể chuyện về một người có tên Giêsu Nadarét, Người ấy đã bị giết chết đi nhưng đã sống lại và thực hiện bao nhiêu điều diệu kỳ, ai tin mà lãnh nhận Phép Rửa thì sẽ được sống đời đời.

Lm. VĨNH SANG, DCCT, 5.5.2016
(Tựa đề lấy từ bài hát "Nghìn trùng xa cách" của Phạm Duy)