Wednesday, 25 November 2015

Cồ Lm HỒng Phúc DCCT CHÚA GIÊSU, VUA TÌNH YÊU



Hình ảnh Chúa Giêsu phác hoạ về ngày phán xét thế giới trong Tin Mừng hôm nay cho thấy tính nghiêm trọng trong ngày xử án của vị Vua Vũ Trụ. Đó là ngày tách chiên ra khỏi dê, tách ánh sáng ra khỏi bóng tối, tách sự sống ra khỏi sự chết.
Quan trọng như thế mà tất cả cán cân công lý của ngày phán xét chỉ dựa trên có một điều luật duy nhất. Lạ lùng hơn nữa là chính cả chiên lẫn dê đều sửng sốt không biết mình đã thi hành hay không thi hành điều luật ấy khi nào. Đến nỗi Vua Vũ Trụ phải giải thích: "Điều gì các ngươi đã làm cho một người anh em nhỏ nhất của Ta đây, là đã làm cho chính Ta" (Mt 25, 40).
Điều luật đó chính là Đức Ái.
Nhưng tại sao vua vũ trụ lại chỉ sử dụng có một khuôn vàng thước ngọc duy nhất ấy? Là vì động lực thúc bách Thiên Chúa tạo dựng trời đất cũng xuất phát duy nhất bởi tình yêu. Đã xuất phát điểm bởi tình yêu thì chung cuộc cũng trở về duy nhất bởi tình yêu. Ta nhận ra dung mạo của vị vua vũ trụ trong một chân dung được khắc hoạ là vị Vua Tình Yêu!
Không ai khác, đó chính là "Giêsu Nadarét – vua Do Thái."
Danh hiệu này bằng chữ viết, dưới danh nghĩa một bản án do Philatô cho đóng phía trên đầu Đức Giêsu. Người Do Thái đã tẩy chay danh hiệu trên vì họ không chấp nhận một bản án tố cáo tội họ đóng đinh giết vua của mình. Họ đề nghị công thức: "Người này xưng mình..." nhưng Philatô đâu có tự ý, chính ông đã hỏi Chúa Giêsu "Ông là Vua ư?" và Đức Giêsu đã xác nhận "Ông nói đúng tôi là Vua" (Mt 27, 11), thế nên Philatô đã đanh thép như chính Đức Giêsu đã xác nhận để khẳng khái trả lời cho người Do Thái rằng: "Điều ta đã viết là viết" (Ga 19, 22).
Với những sự kiện trên, chứng tỏ người Do Thái đã bị tước bỏ mọi quyền chọn lựa. Không phải họ phủ nhận mà bản án không có giá trị, ngược lại dù họ đã từng muốn tôn vinh Chúa Giêsu lên làm vua vì lý do duy vật chất, sau khi được chứng kiến Chúa làm phép lạ hoá bánh ra nhiều, thì Chúa cũng đã bỏ họ để lên núi một mình (x. Ga 6, 5-27).
Đặc quyền bị tước bỏ là do sự suy thoái của chính họ. Dân tộc Do Thái là một dân được chính Yavê Thiên Chúa tuyển chọn. Họ cũng chọn chính Yavê là Vua độc tôn duy nhất. Vậy mà sau những năm sống trong sa mạc hoang vắng, tâm hồn của họ cũng cằn cỗi dần theo. Sự kiện đòi thiết lập vua trên dân Israel đời Ngôn Sứ Samuel, là một biểu hiện khai mào cho tình trạng suy thoái xa rời tối thượng quyền của Thiên Chúa, sự suy thoái sẽ trượt dốc từ Saul qua các triều đại kế tiếp và cao trào suy thoái là vào chính thời Đức Giêsu, khi mà một Dân riêng được Thiên Chúa tuyển chọn lại không một chút nhục nhã lớn tiếng tuyên bố với Philatô, kẻ trị vì trên tự do của họ rằng, "Chúng tôi chỉ có một vua là vua Xêda mà thôi" (Ga 19, 15).
Khước từ vua tình yêu, họ chỉ còn vua chính trị. Cách tuyên bố của họ vì chính trị, để khai trừ Đức Giêsu Nazareth mà họ thù ghét hơn, nhưng chính vì thế mà bản án Philatô viết cũng chính trị và họ phải lãnh nhận hậu quả cũng chính trị!
Bản án trở thành bản tố cáo thái độ thù ghét của thế hệ Do Thái quá khích cực đoan nhưng diễn tả một tình yêu lớn nhất của người dám chết cho người mình yêu.
Mới đây, tôi đã giải thích ý nghĩa tượng Chúa Giêsu chịu khổ nạn cho một nhà văn quân đội khi ông về thăm Nhà Thờ Chính Toà Phát Diệm: "Quan niệm Phật giáo muốn mưu cầu hạnh phúc chúng sinh phải tránh tham, sân, si và diệt dục. Còn Công Giáo thì khác, Đức Giêsu, Ngôi Lời Thiên Chúa, không tránh mà còn nhập thể vào thân xác tham, sân, si của con người. Sau tham, sân, si là cái chết của chính Ngài, sau cái chết của Ngài là tình yêu lớn nhất: chết cho người mình yêu."
Mọi thách đố, chướng ngại không thể trở thành rào cản. Đức Giêsu tuyên bố: "Tôi sinh ra và đến trong thế gian là để làm chứng cho sự thật, ai hâm mộ sự thật thì nghe tôi" ( Ga 18, 37 ).
"Khi những người được mời không xứng đáng thì những kẻ qua đường được mời vào đầy phòng cưới dự tiệc" ( x. Mt 22, 2-10 ). Vua tình yêu vẫn mở tiệc cưới, phòng tiệc vẫn đầy người dự, nhưng là người mới, áo cưới mới.
Ý thức Vua Tình Yêu trao ban ân huệ cách nhưng không, Dân mới của Thiên Chúa hiểu rằng chỉ có tình yêu đáp đền tình yêu, hàng ngày trong lời Kinh Lạy Cha – lời Kinh trọng nhất – Hội Thánh lớn tiếng xin cho Nước Cha trị đến trong tâm hồn và trong mỗi gia đình – Nước Tình Yêu, Nước Công Bình, Nước Sự Sống, Nước Ơn Phúc, Nước Hoà Bình.
Cố Lm. HỒNG PHÚC

Tuesday, 24 November 2015

Lm Vĩnh Sang DCCT ĐẤT SẠCH – ĐẤT YÊU THƯƠNG




Có một câu chuyện về việc xây Nhà Thờ, chuyện hấp dẫn bởi nó xảy ra ngay trên đất nước Việt Nam chúng ta. Sau năm 1975, quan niệm “đất là sở hữu của toàn dân” nên Nhà Nước quản lý đất rồi phân phối theo nhu cầu, vậy Nhà Thờ nào muốn xây dựng thì làm đơn, lên quy hoạch, nhà nước cứu xét cấp dất theo nhu cầu. Các tôn giáo không là những tổ chức pháp nhân nên không có quyền giao dịch mua bán. Từ quan niệm này dẫn đến nhiều tình trạng tréo ngoe, thí dụ: Nhà Thờ mua đất của dân chúng, lập kế hoạch xây dựng Nhà Thờ, rồi làm thủ tục hiến đất cho nhà nước, nhà nước xem xét rồi mới cấp đất trở lại cho Nhà Thờ thực hiện. Một quy trình vô lý và gian dối nhưng vẫn vận hành nhiều năm nay như thế ở Việt Nam.
 Một vấn đề khác. Một số các cơ sở tôn giáo (Nhà Thờ hoặc Tu Viện) sau năm 1975 bị nhà nước trưng dụng, có nơi là mượn, có nơi là chiếm không giấy tờ… Sau này có nhu cầu xin lại, không dễ gì có thể xin lại một cách thẳng thắn, thường sẽ phải vòng vo nhiều cách, nói theo kiểu một vị đại biểu Quốc Hội khóa 13 vừa qua là “Hoàng hôn nhiệm kỳ – chuyến tàu vét” ( đại biểu Lê Như Tiến ). Đó là cơ hội cho hai bên đều có lợi, bên Nhà Thờ có đất để xây dựng, bên "hoàng hôn nhiệm kỳ" có "chuyến tàu vét" khấm khá bảo đảm tương lai.
Tham những đã trở thành quốc nạn, xảy ra ở khắp nơi, ở mọi lãnh vực và mọi cấp độ, chẳng cần đợi đến chuyến tàu vét, ngày nào trong cuộc đời cũng đều là những ngày lái tàu vét vậy. Chuyện thường ngày, Công An giao thông thổi vào, chìa ra mấy tờ màu xanh thì đi (video quay và phổ biến đầy trên mạng), giấy phép xây dựng nhà, đố có ai xin được mà không phải mất tiền bôi trơn, thủ tục hoàn công nhà (xây xong phải hoàn công mới có giấy sử dụng) không ai mà tự nhiên có được nếu không chi tiền, trong quá trình xây, nay anh này vào thăm kiểm tra, mai anh kia vào thăm kiểm tra… Chủ nhà cứ vậy mà chi, khó làm dự toán chính xác lắm, cha ông ta đã có câu “làm ruộng thì ra làm nhà thì tốn” mà, nhưng ngày xưa tốn vì vụng tính, ngày nay tốn vì tác động bôi trơn !
Có một câu chuyện giữa hai vị đáng kính nói với nhau, một vị cứ chậm rãi mà liên tục thực hiện được việc có phép xây dựng chỗ này chỗ kia, một vị hay lên tiếng phản ứng, cơ sở không lấy lại được mà còn bị mang tiếng là quấy nhiễu, phá hoại tình đoàn kết. Vị thành công trong lãnh vực phép tắc khuyên bạn mình nên nhẹ nhàng, đôi bên đều có lợi, nhờ vậy mà ta mới có thể xây Nhà Thờ phục vụ Dân Chúa. Vị kia nghiêm khắc trả lời, đất mà lấy lại theo cách đó là đất… bẩn rồi, không xứng đáng để xây nơi thờ phượng Thiên Chúa, thà không có Nhà Thờ chứ dứt khoát không xây Nhà Thờ theo cái kiểu mờ ám ấy. Vị này được một số người kính nể, nhưng nhiều anh em khác lại bực bội lên án cụ là không khôn ngoan và cố chấp, lắm khi Giáo Dân biết chuyện cũng tham gia vào việc nói xấu cụ.
Vậy đất nào là đất “sạch”, xứng đáng để xây dựng nơi thờ phượng Thiên Chúa ? Có câu chuyện kể rằng:
Một nhà kia có hai anh em mồ côi cả cha lẫn mẹ, hai anh em thương nhau lắm, khi người anh lập gia đình ra ở riêng thì chú em ở một mình. Sau mùa gặt lúa, nằm đêm thao thức, người anh thương em mình cô đơn, không biết thu hoạch có đủ ăn không, nghĩ rồi anh ta lặng lẽ ra khỏi giường, vác bao lúa bên mình sang bỏ vào kho thóc nhà chú em. Chú em cũng nằm thao thức không ngủ, nghĩ anh mình có gia đình nên cần nhiều lúa hơn, mình độc thân ăn chẳng bao nhiêu, bèn nhổm dậy vác bao lúa bên mình sang quăng vào kho thóc nhà người anh. Một thời gian sau, hai anh em lấy làm lạ, sao kho lúa của mình không hề vơi đi.
Rồi một đêm, hai anh em đang vác lúa sang nhà nhau thì "đụng nhau" ở ngay hàng rào giữa hai nhà, họ chợt hiểu vì sao kho thóc của họ không hề vơi. Hai bao lúa trên hai hai anh em buông rơi xuống, họ ôm nhau khóc. Nơi hai bao lúa rơi xuống ấy chính là "đất sạch", đất đã được tắm gội bằng tình thương, đất tràn ngập tình chia sẻ, và như thế, đất ấy xứng đáng là nơi dựng lên ngôi Từ Đường của dòng tộc hai anh em mà thờ phượng tạ ơn Trời Đất và ông bà tổ tiên của họ.
Chuyện đất đai quý đến mấy đi nữa cũng chỉ là chuyện thế gian, chẳng ai trong chúng ta mang được một tấc đất sang bên kia thế giới, nó quý đến đâu cũng không phải là lý do để chúng ta gây căng thẳng hận thù, càng không đến nỗi phải kéo nhau ra ngăn chặn bằng cách đọc kinh cầu nguyện tại hiện trường. Nhưng điều quan trọng là Sự Thật và lẽ Công Bằng, mà điều này thì chính Chúa Giêsu sẵn sàng sống chết để làm chứng, mảnh đất không là gì cả, nhưng mảnh đất là biểu tượng của Sự Thật và Công Bằng, đấy là sự suy xét lương tâm của mỗi người trước mặt Chúa. Không để sự thật và công bằng bị chà đạp.
Lm. VĨNH SANG, DCCT, 20.11.2015