Monday, 16 February 2015

Lm Vĩnh Sang DCCT: CÒN ĐẠO NHƯNG ĐÃ LẠC MẤT ĐƯỜNG…



CÒN ĐẠO NHƯNG ĐÃ LẠC MẤT ĐƯỜNG…
Hôm qua tiễn gia đình một người bạn về lại Hoa Kỳ, nhìn đống đồ ngồn ngộn của gia đình bạn trên những chiếc xe đẩy mà tôi ngán ngẩm, cô vợ thì yếu đuối nên anh chồng loay hoay mồ hôi nhễ nhãi. Đừng ngoài khá lâu chờ gia đình bạn làm thủ tục gởi hành lý và lấy chỗ trên máy bay, tôi nghi rằng có trục trặc gì trong khi làm thủ tục, quả thật, khi trở ra, anh chồng không ngớt lời cằn nhằn về cách làm việc của Hải Quan Việt Nam. Câu chuyện trở nên bình thường trên môi miệng của những người đi ngang qua cửa xuất cảnh, vẫn là chuyện làm tiền vặt đáng buồn.
Không cần tinh ý lắm rất dễ dàng nhận ra anh bạn tôi là người khó tính. Trong bữa cơm ngày hôm trước chúng tôi dùng với nhau gọi là chia tay, anh em có nhiều giờ để nói chuyện này chuyện nọ, anh bạn huyên thuyên về những điều anh nhận thấy khác lạ, anh lập đi lập lại câu: “Cái này bên Mỹ không có”, một cách nói, một cách nhận định không hài lòng. Rời Việt Nam đã khá lâu nên anh lộ ra sự ngô nghê lắm khi khá buồn cười. Anh kể anh đi ra sạp báo và tìm một vài tờ báo mà bên Hoa Kỳ thỉnh thoảng anh có vào xem những trang web của báo đó, hỏi người bán báo không có, anh tỏ vẻ ngạc nhiên, anh ngây thơ đến độ không biết rằng chỉ những tờ báo của Nhà Nước Việt Nam mới được xuất hiện trên các sạp báo mà thôi, nghe giải thích anh lại nói: “Cái này ở bên Mỹ không có” !
Chê nhiều lắm, gần như không có lời khen, nhưng chính đống đồ ngồn ngộn kềnh càng anh đã gom góp, chất đầy trên những chiếc xe đẩy khiến anh bị cánh Hải Quan vòi vĩnh làm khó dễ, cho thấy rằng có nhiều món hay hấp dẫn lắm, chứ chẳng phải chỉ toàn là những chuyện dở không đâu ! Khi tôi nhận xét điều này thì anh cười bảo: “Ừ, rẻ quá chừng, mình sẽ có dịp về nữa để tìm mua thêm. Mấy cái này ở bên Mỹ không có !”
Đó là những sinh hoạt xã hội mà chúng tôi nói chuyện với nhau, nể bạn tôi không phản ứng nhiều, thỉnh thoảng khi có dịp “kê tủ đứng”, tôi chêm vài câu “sửa lưng” bạn cho vui, và chúng tôi vui thật vì toàn những chuyện giúp cảm thông nhau thêm. Tuy nhiên, có những điều anh nói về Giáo Hội, về cách sống đạo cụ thể của những người thân mà anh chứng kiến, thì để lại trong tôi nhiều nhức nhối.
Anh kể lại rằng, lâu quá không về Việt Nam, hơn nữa, nể chị, anh phải tham dự rất nhiều những bữa cơm bên gia đình nhà ngoại, anh em bên ngoại ngày nào cũng lập đi lập lại một diễn tiến: nhậu, rượu bia, đánh bài, say xỉn và cãi lộn. Ngày mai lại lập lại diễn tiến đó. Anh không uống rượu nên rất khó chịu và bất mãn với cách sinh hoạt như vậy, anh cho rằng họ không có tương lai và cũng không có cả hiện tại, vì họ sống mà không biết sống để làm gì.
Tôi biết mấy anh em bên ngoại nhà anh, trước năm 75 họ không phải là một gia đình thành đạt, trí thức, nhưng cũng không phải là một gia đình loại xoàng, họ có công ăn việc làm ổn định, họ có những sinh hoạt lành mạnh, thậm chí đạo đức, có vị trí trong cộng đồng, họ có hướng đi lên cho cuộc đời của mỗi thành viên, dẫu rằng khi đó chiến tranh gây ra những trở ngại rất nhiều cho tuổi trẻ.
Nhưng sau năm 75, cả đại gia đình họ trôi tuột, mất định hướng, kết quả là bắt đầu chìm ngập trong những chầu nhậu nhẹt và cãi vã lẫn nhau. Họ vẫn cố giữ cái tâm, sự sống lương thiện bình thường nhưng mất hướng, ngoài chuyện làm ăn, cơm áo gạo tiền, họ không còn gì để sinh hoạt, không có gì để cố gắng vươn lên, họ loay hoay trong tuyệt vọng, nhàm chán. Kéo nhau đi Vũng Tài chẳng làm chuyện gì khác ngoài chuyện mang theo đồ nhậu để nhậu, chỉ có cái khác là nhậu ở Vũng Tàu nó sướng hơn nhậu ở Sàigòn thế thôi. Anh bạn tôi lắc đầu phê phán…
Giáo Hội chúng ta đang đẩy mạnh công cuộc “Tái Phúc Âm hóa”, nhưng Tái Phúc Âm hóa thế nào được khi chính các gia đình Kitô hữu sống không định hướng, theo đạo một cách chân thành nhưng chỉ là thói quen, không tìm được sức sống và sự năng động niềm tin trong mọi sinh hoạt. Qua một người bạn từ xa về, tôi vừa kể sơ lược về một nhóm có sáu gia đình Công Giáo, họ không đại diện cho cả trên dưới bẩy triệu tín đồ Công Giáo ở Việt Nam, nhưng họ là “một bộ phận không nhỏ” trong mọi sinh hoạt xã hội. Họ có Đạo, vẫn giữ Đạo, nhưng nếu Đạo chính là Đường, thì họ lạc mất Đường rồi hay sao ấy !
Mà đâu chỉ là chuyện trăn trở với riêng đời sống Đạo của Giáo Dân ! Năm “Năm Thánh đời Thánh Hiến”, Đức Thánh Cha muốn nêu bật sự tuyệt mỹ của đời thánh hiến và mong muốn đời thánh hiến thức tỉnh xã hội con người. Đây là thách thức thật sự to lớn với đông đảo Tu Sĩ Việt Nam hôm nay.
Lm. VĨNH SANG, DCCT, 25.1.2015

Saturday, 14 February 2015

Lm Vĩnh Sang DCCT: TIẾNG AI GỌI MỜI



TIẾNG AI GỌI MỜI
Trong mấy ngày qua tôi có dịp tiếp xúc với một chuyên viên về gỗ, anh còn rất trẻ nhưng lặn lội trong nghề gỗ “từ trong nôi”. Qua anh tôi học được nhiều điều, những tiến bộ trong công nghệ sấy và tẩm gỗ, tôi lạ lẫm và say mê nghe anh nói, kiến thức tôi có được khi ngồi trên ghế nhà trường từ hơn 40 năm trước về công nghệ gỗ bỗng bị anh bỏ xa tắp tít mù khơi. Tôi như bị choáng ngợp khi được anh mời vào thăm xưởng gỗ của anh, đi mỏi chân và khá mệt vì leo trèo qua các súc gỗ to vạm vỡ đường kính có đến trên dưới 2 mét. Cái lò sấy gỗ to đùng như một công xưởng lớn mà chúng ta chỉ thấy qua các hình ảnh ở các khu công nghiệp nước ngoài.
Anh giới thiệu với tôi về tính năng của một vài loại gỗ, tính cơ lý thể hiện qua độ dai, độ dòn, tính hóa học thể hiện qua khả năng chống mối mọt, tính cấu tạo thể hiện qua độ rỗng của thớ gỗ, và với các công cụ kỹ thuật anh đo độ ẩm trên từng súc gỗ đã sấy, kéo dài qua thời gian… Anh nói về Phượng tím Châu Phi, anh phân biệt Lim Lào, Lim Indonesia, Lim Châu Phi khác nhau thế nào, ảnh hưởng của núi lửa trên các tính năng của gỗ ra sao, tại sao Lim Châu Phi lại tốt hơn Lim Indonesia… Anh tiếp tục nói về các loại gỗ ưu việt từ rừng Amazone, Surinam, những chuyến hàng chuyển về từ những nơi xa lạ.
Ngồi nghe anh nói tôi bị cuốn hút vào một thế giới khoa học kỹ thuật đầy hấp dẫn, những tiếng trống bập bùng vang vang trong các cánh rừng Châu Phi, những cánh rừng Nam Mỹ bạt ngàn gỗ ẩn hiện trong mắt tôi. Những người anh em da đen. da đỏ cao lòng khòng nhảy múa trong trái tim tôi. Từ lâu rồi tôi biết về một con người, một người anh em của chúng tôi dấn thân và phục vụ trong những rừng già âm u ấy. Chân Phúc Phêrô Donders, DCCT.
Chân Phúc Phêrô Donders sinh tại Hà Lan năm 1809. Năm 1841 ngài thụ phong Linh Mục, ngay năm sau, 1842 ngài sang Surinam thuộc Nam Mỹ để thi hành sứ vụ. Từ công việc làm tuyên úy cho người da trắng, cảm thương tình trạng nô lệ của người da đỏ, ngài đứng về phía người bản địa rồi trở thành kẻ thù của chính người đồng hương da trắng. Công cuộc đấu tranh cho người da đỏ bị bóc lột đẩy ngài ngày một xa dần phố thị để đi mãi vào rừng sâu. Mười năm cuối đời ngài sống trong một khu rừng quy tụ những người bản địa bị bệnh phong cùi, ngài yêu thương phục vụ họ và ngài đã qua đời tại đó ngày 14 tháng 1 năm 1887, Batavia là địa danh cuối cùng trong đời ngài.
Phêrô Donders đã không chọn cho mình sự sung sướng, chăn êm nệm ấm, Phêrô Donders đã không tìm cho mình sự an toàn cá nhân và sự thăng tiến phẩm trật, nhưng Tin Mừng đã thôi thúc và đầy Phêrô Donders về phía người bị bóc lột, người bị coi khinh, người bị ruồng rẫy. Hẳn rằng ngài đã bị dằn vặt rất nhiều khi chọn lựa hướng dấn thân này, ngài phải vượt chính cá nhân mình và vượt qua cả những cản ngại của anh em cùng là Giáo Sĩ, vượt qua cả những âu lo, những ngăn cản “vì sự an toàn" của ngài và của anh em khác, vì công cuộc của Giáo Hội, vì sự nghiệp của người da trắng… Chắc hẳn ngài đã băn khoăn rất nhiều khi dã từ những sinh hoạt khá tiện nghi để đi dần vào rừng sâu, lang thang cùng những con người bị bách hại.
Phêrô Donders đã chọn Tin Mừng để dấn thân chứ không chọn công việc để hoạt động, và vì Tin Mừng gắn chặt với người nghèo, người bị bỏ rơi nên Donders không còn con đường nào khác ngoài con đường “theo chân” người bị bỏ rơi người nghèo mà sống. Thật cụ thể thiết thực, không lý thuyết xuông, không hô khẩu hiệu, không nói thuộc lòng những câu văn hoa mỹ để lòe bịp người nghe, ru ngủ người nghe, Donders dấn thân thức sự và chấp nhận thập giá trong cuộc đời mình.
uyến “xuất hành” của Donders vào rừng sâu là chuyến xuất hành theo chân chuyến “xuất hành” của An Phong vào Scala. Nhìn vào lịch sử của Dòng Chúa Cứu Thế, từng chuyến xuất hành về phía người nghèo được lập đi lập lại và tiếp nối nơi từng vị Thánh thích ứng với từng thời kỳ khác nhau, nhưng dù ở bất cứ thời kỳ nào, người nghèo và người bị bỏ rơi hơn cả vẫn luôn là điểm đến của những chuyến xuất hành mang tên An Phong.

Lm. VĨNH SANG, DCCT, 19.1.2015