Wednesday, 7 September 2005

HỒI KÝ 50 NĂM LINH MỤC - Kỳ 8

NIỀM VUI VĨ ĐẠI - Kỳ 8

HỒI KÝ 50 NĂM LINH MỤC

15. HUYNH ĐỆ TRUYỀN TIN – FA

Trong một lần gặp gỡ, Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Bình nói với tôi: “Ai sẽ tiếp nối công việc của Cha ?” Thật tình, tôi chưa hề nghĩ đến vấn đề đó. Cuối cùng Ngài bảo tôi: “Cha phải lập ra một nhóm gì đó gồm những người cùng chí hướng... một Tu Hội... Tôi sẽ theo Luật Hội Thánh phê nhận để thử trong một thời gian, rồi...”

Ý tưởng thành lập “một Tu Hội đời”, gồm những người tận hiến “để phục vụ Hội Thánh qua các phương tiện Truyền Thông” phát xuất từ Đức Tổng Giám Mục Phao-lô Nguyễn Văn Bình. Tôi sợ trước đề nghị đó. Lập Tu Hội à ? Thành thật tôi nhận thấy mình không thể, không đủ khả năng để làm được. Tôi tránh né không bao giờ đụng chạm vấn đề này với Đức Tổng Giám Mục, vì sợ Ngài hỏi là có làm đến đâu rồi. Cho đến ngày tôi... đi tù.

Tôi ở tù từ 26.9.1976 đến ngày 23.3.1982. Đối với đa số anh em Tuyên Uý Công Giáo và nhiều Linh Mục khác thì những ngày “mất tự do” của tôi ngắn ngủn, nhưng khác với họ, tôi bị “nhốt“ trong trại giam, phần lớn là tại nhà tù Chí Hoà, nơi mà trước kia tôi đã có nhiều lần đến dâng Thánh Lễ cho các anh em Công Giáo và cả không Công Giáo, giải tội và nói lời an ủi đến những người đã mất đi sự tự do của mình vì nhiều lý do mà tôi không cần biết đến trong số có cả những cán bộ CS. Nơi đây tôi đã đến tháp tùng đưa ông Ngô Đình Cẩn đến nơi an nghỉ.

Trong suốt thời gian bị giam giữ, cách riêng mấy tháng biệt giam, tôi đã có thì giờ nhiều để suy nghĩ về cuộc sống của mình, nhất là về một phần tư thế kỷ tôi... là Linh Mục. Chẳng lẽ đây là những ngày cuối cùng của cuộc đời tôi ! Tôi cảm thấy nhẹ nhàng không tiếc xót gì. Tuy làm việc không được là bao nhưng nhờ Tình Thương của Chúa, tôi đã chỉ tỏ thiện chí và “hết lòng”. Tội lỗi tôi thì nhiều, nhưng tôi tin ở lòng từ ái nhân hậu của Chúa và tôi đựơc bình an.

Thế nhưng tôi luôn bị ám ảnh bởi “ước muốn” của Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Bình liên hệ đến công việc và lý tưởng: Tông Đồ Truyền Thông, đến việc tiếp nối, đến “nhóm gì đó” để công việc Tông Đồ Truyền Thông không bị gián đoạn. Tôi coi ý của Đức Tổng Giám Mục là một “sứ mệnh”. Tôi thú thật rằng: tôi đã tránh né công việc này, dầu đã nhận được ý Chúa qua Đức Tổng Giám Mục. Ngài đã bảo tôi làm như thế nhưng tôi đã không làm “khi có thể làm được”, khi có điều kiện để làm. Tôi không nghĩ mình xứng đáng làm được và tự bảo mình sẽ để thời gian rồi... sẽ tính.

Có những anh em được nghe tôi nói về tôn ý của Đức Tổng Giám Mục đã nhiệt tình soạn thảo ra một bản nội qui của “nhóm Tông Đồ Truyền Thông”. Tôi cho là quá sớm và gác lại đó. Tự thâm tâm, tôi không muốn hay chưa muốn làm và như đã nói: tôi tránh né Đức Tổng Giám Mục, sợ Ngài cặn hỏi về việc đó mà tôi nghĩ là ý muốn của Ngài, là ơn soi sáng thúc đẩy của Chúa Thánh Thần.

Thế nhưng, suốt thời gian “tĩnh lặng”, tôi thấy lởn vởn trong tâm trí hình ảnh và “chỉ thị” của vị Giám Mục thân yêu tôi luôn kính trọng và hết lòng hợp tác trong mọi sự. Tôi suy nghĩ về một cộng đoàn Huynh Đệ gồm nhiều thành phần trong Giáo Hội, sống tận hiến cho Chúa noi gương Đức Ma-ri-a Truyền Tin, trong tình huynh đệ, tận dụng mọi phương tiện truyền thông đại chúng để truyền bá Tin Mừng Tình Thương Cứu Rỗi, với khẩu hiệu sống và hoạt động: “NIỀM VUI VĨ ĐẠI CHO THẾ GIỚI QUA LÀN SÓNG ĐIỆN”.

Làn sóng điện ở đây được hiểu rộng bao gồm Truyền Thanh, Truyền Hình, phóng thanh, báo chí, sách, nói chung là các phương tiện nghe nhìn. Tôi quan niệm phải huy động tất cả mọi người, mọi phương tiện để Tin Mừng được lan tỏa khắp nơi. Các thành viên sẽ sống cái Niềm Vui Vĩ Đại ấy, và trong cầu nguyện, tinh thần tận hiến, tình huynh đệ vừa làm chứng, vừa loan truyền “cho mọi loài” niềm vui cứu độ.

Tôi nhận thấy có “bổn phận” phải vâng theo lời Đức Tổng Giám Mục Sài-gòn và đem thiện chí để thực hiện, nhất là sau kinh nghiệm đau thương sự hiện diện Công Giáo trên các phương tiện truyền thông đại chúng bị ngăn cấm. Sau 1975, không còn báo Công Giáo, không còn phát thanh, phát hình, ấn loát Công Giáo... Nhà nước CS giữ độc quyền trên các lãnh vực này. Một mảnh giấy nhỏ bằng bàn tay cũng bị cấm đoán trong nhà tù, nghe nhạc qua ống nghe cũng bị cấm, vì người ta không thể biết được đang nghe gì. Nhiều Linh Mục bị cấm giảng dạy, Giáo Lý bị hạn chế, cả nước chỉ có hai tờ tuần báo cho người Công Giáo: Người Công Giáo Việt Nam, Công Giáo và Dân Tộc. Sau nhiều năm “xin xỏ”, tờ Hiệp Thông của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam được phép ra, nhưng chỉ có 50 trang A4 và chỉ được in... 100 bản !

Đang khi ấy thì vô số giờ và hằng chục tấn giấy được sử dụng mỗi ngày để truyền bá những lý thuyết khác: bài ngoại, chống này chống nọ, kế hoạch hóa gia đình, phổ biến và khích lệ vô tôn giáo, vô tín ngưỡng, vui chơi giải trí lành mạnh và cả... không lành mạnh.

Đang khi ấy thì các đấng bậc trong Hội Thánh không “dám” lên tiếng bảo vệ Sự Sống, không ca tụng quyền lực của gia đình, của cha mẹ, bởi vì... “mọi bài giảng đều bị theo dõi mổ xẻ và các vị giảng thuyết không thoát khỏi chuyện bị cảnh cáo, bị lưu ý và có người còn bị cấm đoán, bởi họ đã “cả đám lợi dụng tòa giảng để phản động, phản cách mạng, để chống đối chính quyền và âm mưu này nọ”. Tôi thấm thía đều ấy, và cho đến ngày nay, sau khi đi tù về năm 1982 cho đến nay 2006, tức hai mươi ba năm, tôi chưa được phục hồi quyền được rao giảng trong cộng đoàn tín hữu.

Những người bình thường không bị cấm đoán thì e dè. Ít có vị lãnh đạo tinh thần nào lên tiếng chống lại nạn phá thai được gọi là “kế hoạch hóa gia đình”, ít có vị nào dám đi ngược lại với các rêu rao về phương thế phá thai, ngừa thai. Các bài giảng tự giam mình trong phạm vi hoàn toàn “cao siêu”, gọi là “thuần tuý đạo”, không đụng chạm đến ai, không đá động đến chính sách nào. Các bài giảng hoàn toàn trong sạch trước Phi-la-tô. Thiên Chúa Ba Ngôi, cao cả nhiệm mầu không liên hệ gì đến việc con người sinh sản đầy khắp mặt đất.

Tôi đã đau xót nghe được Linh Mục dùng tòa giảng để “kế hoạch hóa gia đình”, để kêu gọi làm nhiệm vụ công dân là đi bầu những con người hiên ngang tự xưng mình là “Tôn giáo: Không”, để đặt họ lên những địa vị, nhiệm vụ đòi hỏi quên mình, hy sinh, tôn trọng quyền lợi của nhân dân và tài sản công.

Trước những tin tức đầy dẫy trong các báo cáo về những thất thoát lớn trong ngân quĩ, trong các công trình vừa nghiệm thu đã hư hỏng, trước những món tiền cứu trợ từ mồ hôi nước mắt của nhân dân lớn bé đã tìm đường chui vào túi kẻ có quyền, trước thảm trạng người dân bị bóc lột từ những người đứng đường trở lên... tôi thường “ba hoa chích choè” cười trong nước mắt rằng: đã chôn tôn giáo thì đào đâu ra lương tâm !

Suốt chiều dài văn hoá Việt Nam, cha ông ta toàn là những người có tín ngưỡng, có tính thiêng, chứ đâu đào ra những con người mất gốc không còn biết Trời Đất, Bụt Thần, Tổ Tiên, Thần Thánh. Thế giới vẫn luôn nói rằng người Việt Nam căn bản là có tín ngưỡng, có tôn giáo. Nhà nào mà không có bàn thờ ông bà tổ tiên, người Việt Nam nào lại không biết có Trời, có Thánh ?

Không dễ dàng và không ngần ngại sự kiện “vách có tai” để tuyên xưng những chân lý ngàn đời ấy, nhưng nhiều miệng lưỡi, nhiều phương tiện nghe nhìn đã bị bịt lại và nhiều vị “truyền đạt” đã phải chung số phận của những con chó bị buộc miệng lại, cả những con chó không còn được sủa, không có quyền sủa mà một vị Giám Mục Thừa Sai đã viết cuốn sách: “Những con chó câm”. Bất tuân sẽ bị cúp phần ăn, sẽ bị nhốt lại, bị đánh nhừ tử. Trong một buổi tình cờ, được nghe phát biểu: “Mấy ông đó, cứ cho vé xuất ngoại là xong hết”.

Nhiều người vẫn dè dặt trước những cái chết đầy bí ẩn của một vị như Đức Tổng Giám Mục Phi-lip-phê Nguyễn Kim Điền, hay số phận lao đao của Hồng Y. F. X Nguyễn Văn Thuận. Mấy bài giảng về Sám Hối của Linh Mục Chân Tín đã làm cho ngài phải lưu đày Cần Giờ và sau đó... .

Tôi cứ nghĩ là rồi có ngày nào đó: chó sẽ sủa, sư tử sẽ rống lên và Tin Mừng sẽ được công bố oang oang trên các nóc nhà. Có lẽ tôi lạc quan quá. Nhưng tôi nghĩ rằng: lương tri con người rồi sẽ thắng và chân lý sẽ được loan truyền để con người được lợi ích, được cứu rỗi, được hạnh phúc.

Có lẽ vì tin tưởng như thế, hay cũng có thể do tôi ngây ngô thiếu nhận xét chính xác, tôi vẫn nghĩ sứ mệnh của mình chưa chấm dứt và mệnh lệnh của Đức Cha Nguyễn Văn Bình, chưa hết hiệu nghiệm đối với tôi. Tôi còn mắc nợ ngài, mắc nợ Hội Thánh, mắc nợ Chúa. Tôi còn để chôn dưới đất đồng bạc Chúa đã trao, nên tôi đã dùng thì giờ suy nghĩ, cầu nguyện và chia sẻ với một số bạn tù, trong đó có vài Chủng Sinh và Linh Mục Đa Minh Nguyễn Tiến Hải.

Để an lòng và dứt khoát cho xong, tôi xin Chúa một dấu chỉ “ thử trời” liều lĩnh. Tôi thưa: ”Nếu Chúa muốn con làm việc này thì cho con ra khỏi tù vào dịp lễ Thánh Giu-se, tháng 3 năm 1982. ”Tôi muốn dứt điểm để không còn phải bận tâm vì “lệnh của Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Bình”.

Tôi liều lĩnh, bạo gan đối với Chúa. Trong thâm tâm tôi lại thấy rằng việc đó khó quá và như thế tôi sẽ đương nhiên trút được cái nhiệm vụ được giao phó. Thử phép Đức Chúa Trời ! Mấy ngày nay, ông Trần Thành, một nhà tỉ phú người Hoa, giám đốc Vifon, Vicasa, Vissan... nổi tiếng giàu có, đã từng bảo trợ làm một con đường tại Trung Quốc đã nói với tôi và những ai muốn nghe: “Ông cha là một, ông Truy là hai và tôi là ba, không bao giờ ra khỏi tù đâu !” Theo suy nghĩ của ông thì ba hạng người: tôn giáo, tình báo, tư sản không bao giờ được ưu đãi. Có lẽ ông Thành chấp nhận chấm dứt cuộc đời ở nơi này và ông kê khai ba hạng người sẽ không bao giờ ra khỏi nơi tù đày này. Nghĩ thì cũng có lý thôi.

Nhưng điều tôi xin, tôi “thử” thì đã xảy đến. Ngày 23.3.1982, ông phó khu đến: “Ông Tự Do... dọn đồ ra khỏi phòng. ” Đều không ai ngờ tới và chính tôi khó lòng mong đợi đã xảy đến, và vào thời gian mừng lễ Thánh Giu-se, trong tháng của Người. Tôi không tin lắm cho đến khi... ra cổng lớn của trại giam Chí Hoà, sau khi bước qua khoảng 7 cái cửa sắt có lính canh gác và được xem lại tên tuổi, địa chỉ... và cả tội “phản cách mạng” được ghi rành rọt. Coi đó như là câu trả lời của Chúa, tôi quyết tâm làm theo chỉ thị.

Tôi đến Toà Tổng Giám Mục gặp Đức Cha Bình, và trong câu chuyện tôi thưa với ngài là suốt thời gian, tôi chỉ suy nghĩ về “lệnh” của Đức Tổng đã ban cho tôi. Ngài có vẻ suy tư, nhưng cũng khích lệ tôi. Tôi bắt đầu tập họp một số bạn trẻ nam nữ, trao đổi ý hướng với một số các cha và bắt đầu tổ chức các sinh hoạt mở đường linh đạo “Tông Đồ Truyền Thông“. Dòng Đa Minh Gò Vấp, với cha Nguyễn Tiến Hải trở thành trụ sở thường xuyên cho các buổi tĩnh tâm, cầu nguyện, học hỏi, sinh hoạt.

Các cuộc tĩnh tâm hướng về noi gương Đức Ma-ri-a hiến mình cho Chúa để đem niềm vui vĩ đại đến cho thế giới và linh đạo của Thánh Louis Marie Grignion de Montfort, dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần đã trở nên sức sống và nội lực cho nhiệt thành tông đồ. Khoảng 40 người đã tận hiến cho Chúa Giê-su nhờ Mẹ Ma-ri-a. Các buổi học hỏi về các cam kết được tiến hành và một số anh em đã cam kết hiến mình cho Chúa trong những lời khấn Tin Mừng. Nội quy mà chúng tôi gọi là: Pháp Quy Đời Sống Huynh Đệ Truyền Tin, gọi tắt là FA – Fraternitas Annuntiationis được soạn thảo và được đệ trình lên Đức Tổng Giám Mục. Tôi đã không ngại làm việc này và cho đến đây thì cho rằng tôi đã tuân phục Đức Tổng Giám Mục trong chí hướng thành lập một nhóm người “Tông Đồ Truyền Thông”. Đến đây là hết nhiệm vụ của tôi. Những gì về sau là do Chúa qua các Bề Trên.

ĐTGM đã để thời gian xem xét bản Pháp Quy. Cuối cùng, Ngài kêu tôi tới và nói: “Tôi đã xem các điều cha trình bày. Nếu cha đưa cho tôi bản Pháp Quy trước 75 thì tôi đã ký ngay, nhưng...” Tôi rất bình thản, vì nghĩ mình là người tôi tớ đã làm những gì phải làm, vẫn tiếp tục sợ hãi trước những gì còn phải làm. Tôi chỉ trình Đức Tổng Giám Mục là ngài có thể ký trước, antidater... Sau một hồi suy nghĩ, ngài quyết định không ký. Tôi bình an ra về và vui trong lòng vì nghĩ rằng giờ Chúa chưa đến và Chúa sẽ cho một người nào đó sẽ làm công việc này, tương tự như trường hợp cha Charles de Foucault phải chết tăm tối khổ đau trong sa mạc để rồi một thời gian dài sau, ý tưởng và linh đạo của ngài mới được cha Voillaume đưa đến thực hiện trong hai nhóm Tiểu Đệ và Tiểu Muội.

Tôi không dám nghĩ mình như Charles de Foucault mà đời sống chiêm niệm đã đạt mức cao lạ lùng, đưa ngài gặp được Chúa trong tịch mịch im lặng thẳm sâu của sa mạc. Nhưng tôi nghĩ rằng Thánh Thần Chúa hằng hiện diện trong Hội Thánh sẽ thúc đẩy những tâm hồn để thực thi sự Quan Phòng của Ngài vì lợi ích Dân Chúa. Tôi không thể làm được việc này thì Chúa sẽ làm, khi thời gian của Ngài đến.

Và tôi viết lại những điều này như một Chúc Thư gửi đến các thế hệ trẻ sẽ đọc được những ghi chép này và nếu cảm thấy, nghe thấy tiếng Chúa thì hãy dùng khả năng, thì giờ và sức lực để biến những phương tiện truyền thông đại chúng trở thành những dụng cụ Tình Thương và ơn Cứu Độ đến rộng khắp mặt đất và vũ trụ.

Tôi chỉ xin nói thêm là bản Pháp Quy Đời Sống được soạn thảo trước khi có phát minh thần kỳ Video, vi tính hiện có một bản ở Toà Tổngø Giám Mục Sài-gòn. Cô Thy Phương cũng giữ một bản và nếu Chúa muốn sẽ trao lại cho người muốn biết và từng nuôi chí hướng tạo nên trong Giáo Hội những “Tông Đồ Truyền Thông”, để lợi ích cho các linh hồn và vinh quang cho Thiên Chúa. Tôi nghĩ rằng tinh thần và chí hướng vẫn là một, còn phương thức và phương tiện có thể tiến triển khác tùy theo bước tiến của khoa học kỹ thuật và nhu cầu thiết thực của con người.

Lm. NGUYỄN TỰ DO, DCCT ( Còn tiếp nhiều kỳ )

HỒI KÝ 50 NĂM LINH MỤC - Kỳ 9

NIỀM VUI VĨ ĐẠI - Kỳ 9

HỒI KÝ 50 NĂM LINH MỤC

16. NHỮNG NỖ LỰC TRUYỀN THÔNG

Tôi tự tha cho mình nhiệm vụ phải lập cho được nhóm Tông Đồ Truyền Thông, nhưng tôi vẫn tìm cách sử dụng các phương tiện truyền thông đại chúng để hoạt động đem Niềm Vui Vĩ Đại đến những chỗ nào còn đến được.

Tôi luôn khuyến khích anh Đa Minh Đinh Thiện Bản, ca trưởng ca đoàn Tinh Thần, người vẫn tiếp tục làm nhiều việc cho Thánh Nhạc, cách riêng trong việc thu thanh, phát hành các cuốn băng Thánh Ca được phổ biến rộng rãi trên toàn quốc và ngay cả nước ngoài. Linh Mục Nguyễn Văn Tự, tức nhạc sĩ Vương Diệu, cha xứ Nam Hà thuộc Giáo Phận Xuân Lộc, nhạc sĩ Thiên Ân, Vũ Huyến... luôn được tôi ca tụng và khuyến khích trong nỗ lực sáng tác và thu băng Thánh Ca.

Tôi hết lòng khích lệ các ca đoàn tôi được biết: Cécilia, Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, Giu-se... Mọi chuyện đã tiến triển vũ bão. Nhớ lại trước kia khi tôi thường phải vác một chiếc máy quay phim Paillard Bolex nặng trịch để ghi lại hình ảnh một buổi lễ trên các phim âm bản bằng nhựa kéo theo bao công đoạn nặng nề: rửa phim, ráp nối, vào tiếng, in ra dương bản... công việc do Video ngày nay thực hiện được thật là kỳ diệu.

17. PHIM VIDEO VỀ DÒNG CHÚA CỨU THẾ VIỆT NAM

Máy quay Video mang nhãn Panasonic PV400 đã có mặt tại Sài-gòn vào thời gian 1990 và nhờ gia đình anh Thọ, cựu Đệ Tử DCCT chúng tôi đã lãnh nhận công tác thực hiện bộ phim về DCCT Việt Nam nhờ sáng kiến và nâng đỡ của cha Giu-se Cao Đình Trị, lúc ấy làm Phó Giám Tỉnh. Năm 1990, trên một chiếc xe Land Rover cũ kỹ của Nhà Dòng, toán thực hiện khoảng 8 người, với tài xế Trương Minh Tâm rất thành thạo vui tính đã lên đường “xuyên Việt”, đi đến các trụ sở DCCT trên cùng khắp Việt Nam để thu hình, lấy tài liệu khả dĩ làm được cuốn phim Gia Đình An Phong trên Đất Việt bằng tiếng Việt Nam và cuốn: Les Rédemptoristes au Viet Nam bằng Pháp Ngữ.

Mặc dầu được thuận lợi nhờ cuộc đua xe đạp toàn quốc Nam Bắc mà anh Trương Minh Tâm là một thành viên ban tổ chức, đi đứng có phần dễ dàng, nhưng cái khó vẫn có đó. Không phải chỗ nào cũng đến được và lúc nào cũng có thể giơ máy lên lấy hình. Nhà ông Đốc Sắc ở Phủ Cam do bộ đội chiếm đóng không thể nào lấy hình được, Châu Ổâ cho người phất tay ra hiệu đừng ghé, Tây Nguyên phải bỏ máy vào gùi, phải mau lẹ, nhiều chỗ đòi phải có giấy phép, và hồi hôïp nhất là chuyến trở về từ Hà Nội sau khi cha Chân Tín “ba ngày sám hối”. Cha Lê Viết Phục không dám cho ngủ lại ở Tùng Lâm. Chỉ vào Phú Dòng có vài phút, lúc đi ra, vừa tới quốc lộ, Công An chặn lại: ”DCCT đi liên lạc phải không ?” Trên xe có mấy thùng sách Kinh Thánh trọn bộ Đức Hồng Y Trịnh Văn Căn cho làm quà với lỉnh kỉnh máy móc đủ loại. Về đến Sài-gòn vào đêm khuya. Mấy ngày không dám về Nhà Dòng vì cha Chân Tín mới “đi đày” ở Cần Giờ.

Với rất nhiều hồi hộp, lo lắng, mất ngủ, cuốn phim được dựng và vào tiếng. Ráp phim qua hai đầu máy không tránh được nhiễu hình. Vào tiếng nhờ một người khác có trang bị và kinh nghiệm hơn nhưng lại trong môi trường không được yên tĩnh. Nhạc đệm lấy từ những băng ghi của ban nhạc có sẵn. Một bản ráp vội dài đến 6 tiếng để cha Tổng Cố Vấn Hechanova có thể xem qua với lời bình sống. Phim đầy đủ với tiếng Việt được hoàn thành và chiếu cho Nhà Dòng xem. Nhiều người nhờ đó mà biết được nơi ăn chốn ở và việc mục vụ của anh em trong Dòng trên khắp Việt Nam.

Nhiều người vẫn chưa biết được những gian nan mà đoàn làm phim đã phải trải qua và họ có lý khi cho rằng hình ảnh có đoạn thiếu nét và rung. Nếu anh em hiểu rằng đã có những đoạn mà chuyên viên không lấy hình trên vai được mà phải ấn máy rồi xách nó ngang đầu gối để hy vọng quơ qua quơ lại “chụp” được những cảnh mong muốn. Rất ít trường hợp chúng tôi có thể để máy trên chân để lấy hình ảnh “ung dung” theo ý muốn và đòi hỏi kỹ thuật. Phải luôn luôn gọn nhẹ “đánh mau, rút lẹ”, lắm khi chỉ ngồi trong xe chõ ống kính ra và lấy từ xa vì sợ bị phát giác và... bị tịch thu máy móc.

Nhờ sự tận tâm và phương tịên của gia đình anh Thọ, sự tháo vát của anh Trương Minh Tâm mà cuộc hành trình và công tác thu hình đã được kết quả tương đối khả quan, khả dĩ đủ điều kiện để đưa lên phim tất cả các cơ sở và khuôn mặt của hầu hết các nơi và khuôn mặt của anh em đang hoạt động ở khắp mọi miền đất nước.

Những anh em sống cô đơn một mình một chiếu như cha Giu-se Vũ Ngọc Bích tại Hà Nội, cha Giu-se Trần Hữu Thanh tại Trần Nội, Hải Dương, các cha xứ miền Vĩnh Long, Cù Mi, Tân Châu... các cộng đoàn nhỏ bé trong các toà nhà lớn lao như Huế với 2 cha già Mi-ca-en Nguyễn Đình Lành, Phê-rô Nguyễn Hoàng Diệp thay nhau làm Bề Trên “in aeternum” hay ở Nha Trang chui rúc trong căn nhà nhỏ bé sau khi bị mất cơ sở vốn đầy đủ tiện nghi được biến thành khách sạn Hải Yến. Chúng tôi, có cha Hilario Nguyễn Gia Tước, thầy Lê Chiếu Khắp ( nay đã là Linh Mục ) đã rất vui mừng, và anh em sống rải rác đó đây cũng vui mừng được gặp nhau, nói và nghe kể về những công việc mục vụ do hoàn cảnh đưa đẩy.

Cảm tưởng đầu tiên và chung chung của chúng tôi là hầu hết không ai trong các anh em mình sống sung túc đầy đủ. Hầu hết còm nhom và khắc khổ, quần áo đơn sơ, thiếu thốn mọi mặt, khó khăn chồng chất lúc nào cũng phải thận trọng, đề phòng, cảnh giác. Lắm khi chúng tôi không tìm được chỗ tạm trú qua đêm vì đủ mọi lý do mà căn bản vẫn là ngại ngùng, rắc rối và gây nhiều phiền lụy cho anh em. Các cha vùng Tây Nguyên sau đó đã cho biết rằng sau khi chúng tôi rút lẹ thì các ngài đã bị... hỏi han !

Khó mà hình dung được những khó khăn mà đoàn làm phim đã gặp từ mọi phía từ vấn đề ăn uống, ngủ nghỉ, xăng nhớt. Thời gian đó, không có cây xăng nào trên đường. Lắm khi chúng tôi đã phải bóp bụng mua một can xăng 10 lít mà phải trả tiền 15 lít, vì theo người bán ở vùng từ Đồng Hới ra: “can 10 lít nở ra là 15”. Chúng tôi nhắm chừng thu gom qua những nơi có thể mua xăng mà chúng tôi gọi là “cây xăng gạch”, vì người ta chỉ để một cục gạch để làm dấu điểm. Trên đường tìm chỗ đổ xăng, chúng tôi nhớ đến thầy Tôma Như. Thầy đã cẩn thận đổ đầy xăng và còn cho thêm một can 20 lít dự trữ. Có vào thời điểm đó mới hiểu đươc chứ đâu có như trước kia nữa và hiện nay, cây xăng ở miền Nam sát sạt trên đường.

Chúng tôi được Bề Trên cho 3 triệu đồng chi phí. Chúng tôi đã mua đồ hộp và lương khô. Vì trên đường, nhất là từ Huế ra, mỏi mắt cũng không tìm được một cái quán ăn. Đường xá thì hư hỏng và chiếc xe 4 cầu lắm khi đã phải tận dụng tất cả sức mạnh để vượt qua lầy lội, đá tảng và đủ thứ ổ gà, ổ trâu, ổ voi, ...chiếc xe “già” nghỉ hưu đã cả mấy thập niên không làm cho chúng tôi sợ hãi, mặc dầu chỉ đến Nha Trang trong ngày đầu tiên mà một bánh nổ, đến Đà Nẵng là bánh thứ hai nổ, ăn mòn số tiền dự trữ của đoàn. May thay, nhờ quen biết, anh Trương Minh Tâm đã ghé nhà quen cho chúng tôi ở nhờ... miễn phí...

Có đạo hay không, người ta đón tiếp chúng tôi rất chân tình lại còn được có nơi cho ăn trong thời buổi gỗ quế gạo châu của thập niên 90 chưa “đổi mới”. Anh Trương Minh Tâm là người đã tạo nhiều điều kiện tốt cho thành công nhờ sự quen biết, tháo vát, lanh lợi, thông minh và tài nghệ của anh. Anh luôn gắn bó với Nhà Dòng. Anh nêu gương sáng cho tôi vì tinh thần biết ơn và tấm lòng tế nhị của anh: thích nghêu ngao những bài của đệ tử ngày xa xưa, nhắc nhở đến các cha Canada, nhất là cha Eugène Larouche, Camille Dubé và tỏ ra thích thú được nhớ lại những chú đệ tử xưa đã từng là CP, CN, CH... tôi cũng nhận thấy tinh thần truyền thống hiếu thảo của người Việt Nam.

Khi đi qua Nha Trang, anh xin tôi cho anh ghé thăm mộ ông thân. Chúng tôi thấy đi theo anh là một việc hợp tình hợp lý. Vừa đến nơi, anh quỳ gối hôn ngôi mộ một hồi lâu và cầu nguyện. Tôi đã từng biết ông Trương Văn Huế vì những gì ông đã làm tại Huế và cũng đã có những lần nói chuyện với các cha lớp tôi năm thứ bảy ở Đà Lạt và cả những anh em dự khoá Nhà Tập II tại Đà Lạt.

Luôn tiện nói đến vấn đề này gợi cho tôi hình ảnh rất đơn sơ và cảm động vị Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II quỳ trước ngôi mộ của cha mẹ mỗi lần trở về công du mục vụ Ba Lan. Chiếc áo trắng ấy đã quỳ ngay trên đất. Nét đẹp của những tâm hồn hiếu thảo, xứng đáng được sự chúc lành của Chúa. Đang thời gian còn bệnh chưa đi đứng được, tôi nháng thấy đăng trong báo Công Giáo và Dân Tộc tin về cái chết của anh Trương Minh Tâm với lời cám ơn những người đã đến chia buồn, cầu nguyện. Tôi tiếc là đã không đến viếng anh lần cuối và chia buồn với chị Tâm và gia đình, ít là để cám ơn anh vì đã hợp tác với Nhà Dòng, tận tình mà không nhận thù lao bồi dưỡng gì.

Bao công lao, liều lĩnh, bao bữa ăn qua loa bên vệ đường, bao hồi hộp và công sức của chúng tôi không đem lại cho chúng tôi lợi lộc, vật chất và tiền bạc gì, nhưng chúng tôi đã nhận được niềm vui vì đã được dịp để gợi lại những khuôn mặt thân yêu và tô đậm nét những người anh em của tôi trong Dòng vẫn bám trụ để tiếp tục “làm chứng nhân Tin Mừng” giữa thời đại theo tự nhiên chẳng mấy phấn khởi này. Tôi muốn góp tiếng nói biết ơn yêu mến đối với các Thừa Sai Canada là những người đã hy sinh tất cả để đến đất nước nghèo nàn lạc hậu Việt Nam, đem tiền của của quê hương và thân thuộc họ, công sức của các thành phần ưu tú nhất trong Tỉnh Dòng Canada, đến cả mạng sống để thành lập DCCT tại Việt Nam. Điều càng thúc đẩy chúng tôi là vì nhận thấy thế hệ trẻ không biết đến cái quá khứ ấy hay ít là không biết gì lắm về những vị tiên phong lập Dòng tại Việt Nam vì nhiều lý do trong ngoài.

Tôi cũng nghe phong phanh rằng giữa Tỉnh Mẹ Sainte Anne và tỉnh Con Việt Nam, bầu không khí lấn cấn sao đó. Tôi chỉ là “tép riu” trong Dòng, làm được cái gì ! Chúng tôi đã nhận được phần thưởng khi cha FX. Trần Tử Nhãn về thăm quê hương. Ngài nói với tôi và cũng nói với nhiều người rằng: bầu không khí tốt hẳn lên sau khi cuốn phim: “LES RÉDEMPTORISTES AU VIET NAM” qua đường Roma đã được đem đến Canada. Tôi vẫn không biết Tỉnh Dòng Việt Nam có gửi thẳng cuốn phim cho Canada hay không nhưng chỉ biết là ở Nhà chính Roma đã nhân bản và gửi sang Tỉnh Sainte Anne.

Tôi lại được niềm vui nữa khi phái đoàn Tỉnh Mẹ sang Việt Nam và được nghe chính cha Laurent Proulx, quản lý Tỉnh tìm biết người đã thuyết minh phim và đã có lời tỏ lòng quý mến cảm phục. Tại Việt Nam, chúng tôi không được nhận những lời khích lệ như thế. Mặc dầu đề phim rõ như mặt trời: “Gia Đình An Phong trên Đất Việt” và được công bố giờ chiếu mời tham dự, cha Giám Tập đã nghiêm chỉnh hỏi tôi: “Anh có biết nội dung gì không ? Tôi cần biết để cho Nhà Tập tham dự hay không !”

Nhận thấy sức hấp dẫn của phương tiện Video mà cách đây ít năm, khi thảo Pháp Quy Đời Sống chưa có, tôi cố gắng đeo đuổi, với sự hợp tác của một số người.

Trong thời gian đầu phải kể đến anh Thọ và các con. Anh là cựu Đệ Tử. Với chiếc máy Panasonic PV400, anh và người con đã theo chúng tôi. Chúng tôi chưa ai biết sử dụng Video, nên kính nhi viễn chi, nể lắm ! Tất cả các cuốn băng cassette Video quay trong dịp này đều bằng máy PV400. Sau này, ông Vĩnh Hậu thường cho tôi mượn máy PV530 mới hơn, có kỹ xảo hấp dẫn hơn, nhưng không ai chịu đưa mặt ra. Chính tôi vác chiếc máy ấy vào Nhà Thờ quay một số tài liệu sống, tình cờ “chơi” luôn Linh Mục Chân Tín giảng 3 bài về sám hối. Việc này xảy tới trước khi hành trình và là lý do để chúng tôi gặp đôi khó khăn khi trở về như đã nói ở trên. Nhưng phần lớn các cuốn phim đều quay bằng PV400.

Ông Vĩnh Hậu có hứa sẽ cho chúng tôi một máy PV530, nhưng chưa kịp thi hành thì ông đã lâm bạo bệnh và qua đời. Chúng tôi chỉ còn máy PV400 để thực hiện toàn bộ phim về Nhà Dòng cũng như nhiều chương trình khác tiếp theo.

Lm. NGUYỄN TỰ DO, DCCT ( Còn tiếp nhiều kỳ )